Thứ Bảy, ngày 23 tháng 4 năm 2016

Cuộc đời của Đức Phật Thích Ca và con đường trung đạo

                                                             

            
         
              Đức Phật Thích Ca là một nhân vật lịch sử ( Historical person) có ngày sinh, nơi sinh và ngày chết hẳn hoi .Đức Phật Thích Ca còn là Đức Phật lịch sử  (Buddism historique  ) nên bên cạnh tính biên niên của sử lịch còn có tính triết lý của sử tính .Cuộc đời của Ngài là một khảo chứng cho sự tựu thành của con đường Trung đạo ( middle way ) - con đường giữa hai đầu cực đoan -trong bối cảnh của xã hội  Ấn Độ thời bấy giờ .Thời ấy xã hội Ấn Độ bị phân hóa bởi nhiều giai cấp và trong môi trường văn hoá có nhiều luồng tư tưởng cực đoan đối đầu nhau , Ngài thị hiện trên thế gian như một giải pháp đối trị với mọi cực đoan quá khích hầu đem lại hòa bình trong tự thân và trên thế giới .

       Ngay trong thời Đức Phật còn tại thế có hai tôn giáo lớn đã phát triển rộng rãi và có tầm ảnh hưởng sâu rộng đến triết học và tôn giáo ở Ấn Độ .Đó là Phật giáo và Bà La Môn giáo . Phật giáo tuy mới hình thành song phát triển nhanh và sâu rộng hơn Bà La Môn giáo .Những tư tưởng triết học , tôn giáo thời ấy chia làm hai hệ  thống : Chính thống ( Astika - cực hữu ) và không chính thống ( Nastia- cực tả  ).Đại biểu cho hệ thống chính thống là Bà La Môn giáo và đại biểu cho hệ thống không chính thống là Chủ nghĩa duy vật ,Kỳ Na giáo , Chủ nghĩa hoài nghi , Phật giáo , vv...Nguyên nhân xuất hiện nhiều trường phái không chính thống là bởi hệ thống tư tưởng Bà La Môn có tính độc tôn,độc quyền về ý hệ nên nảy sinh ra các trường phái chống lại sự áp đặt quan niệm về một đấng sáng tạo vũ trụ ,vạn hữu.
 Trường phái chủ nghĩa duy vật ( Météralism ) chủ trương vô thần , sau khi chết không có linh hồn ,không còn có đời sống nào khác . Chết là hết .Không có thế giới nào khác ngoài thế giới hạnh phúc và lạc thú ở đời . Cứu cánh cuộc đời là hưởng thụ khoái lạc .Không có chuyện luân hồi hay tái sinh .
    Trái lại những tín đồ của Kỳ Na giáo (Jainism)chuyên tu hành khổ hạnh ,khắc kỷ để giải thoát linh hồn ra khỏi sự ràng buộc của nghiệp , luân hồi ,tái sinh ,...Lối tu của các tín đồ nầy hành hạ thân xác , o ép bản thân ,thậm chí có phái cấm không mặc quần áo !
Còn trường phái hoài nghi chủ trương nghi ngờ tất cả mọi thứ , mọi việc , tẩy chay mọi sự hiểu biết ,tranh luận , phê phán ...
   Trước những luồng tư tưởng cực đoan quá khích đó , Đức Phật chọn con đường Trung đạo :Ngài bác bỏ quan niệm về đấng tối cao của Bà La Môn giáo, không chấp nhận lối tu khổ hạnh của Kỳ Na giáo ,cũng không đồng tình với chủ nghĩa duy vật .Ngài cho rằng hạnh phúc trong dục lạc là tạm thời và ngắn ngủi .Ngài cũng đã phê phán chủ nghĩa hoài nghi sai lầm ở chỗ không tin vào thực chứng chân lý bằng suy niệm tâm linh ở nội tâm .

    Trở lại cuộc đời của Đức Phật Thích Ca từ khi sinh ra cho tới  khi nhập diệt  là một bài học thân giáo về triết lý Trung đạo .
  Ngay trong việc tái sinh lần cuối cùng làm kiếp người ,Thái Tử Tất Đạt Đa (Siddhārtha  ) không đi thẳng đến gốc cây Bồ Đề để thành Phật ngay mà phải tuần tự trải qua các giai đoạn :hài đồng , thiếu niên ,thành nhân ; rồi xuất gia tu hành thành đạo .Ấy là vì Người muốn thành tựu Phật quả với tư cách là một con người - cùng một phận người - như mọi con người trong cộng đồng nhân loại .Người muốn chứng tỏ cho những kẻ hoài nghi tin rằng tất cả chúng sanh đều có Phật tính và ai cũng có khả tính thành Phật .Nghiệp , kiết sử  ,đều có thể chuyển hóa bằng con đường tu tập .Sự giác ngộ của Ngài không do thần  khải hay mặc khải  mà là hoa trái của một quá trình tu chứng . Đó là việc làm của một Pháp Vương ,một lãnh đạo tinh thần cho cả thế gian thay vì làm một Quốc vương cai trị một nước .Thái Tử Tất Đạt Đa sống trong cung vàng điện ngọc nhưng không hề mê đắm  vào trong cuộc sống xa hoa sung mãn cũng như Ngài  không mặn mà đến việc kế nghiệp vương quyền  . Tuy nhiên ,Ngài cũng đã kết hôn và có con theo ý của vua cha . Ngay cả đến việc đặt tên con là La - Hầu - La (có nghĩa là sự cản trở ) cũng  xuất phát từ tâm thức về sự ràng buộc thê nhi ( thê thằng tử phược ).
 Sau nhiều lần ra ngoại thành du ngoạn , đã chứng kiến nhiều  thảm  cảnh khổ đau của kiếp người ; Ngài bắt đầu suy tư về bốn chữ sanh ,lão , bệnh ,tử . Lần ra  ngoại thành cuối cùng Thái Tử bắt gặp một tu sĩ đang thiền định dưới một gốc cây với dáng vẻ thảnh thơi , an hoa , tỉnh lự . Chính hình ảnh đó đã thôi thúc Ngài sớm thực hiện ý nguyện xuất gia tầm đạo . Rồi một đêm  , Thái Tử vứt bỏ quyền bính , cung điện , từ giã vợ đẹp con xinh để vào rừng làm một tu sĩ .
   
 Trong rừng sâu , Thái Tử đã từng gặp các bậc thầy của các bậc thầy thiền định như Uất Đạc gia , A La La . Nhưng rồi Thái Tử sớm nhận ra hai vị tiên nhân đó chưa phải là bậc thầy của giải thoát , tự thân của họ chưa đạt được trí tuệ Ba La Mật . Thái tử suy nghiệm rằng Nhất thiết trí hay trí tuệ Ba La Mật có liên quan đến thân xác , lục căn , lục trần . Thái tử từng tự vấn phải làm thế nào để tịnh hoá lục căn , điều phục thân xác ? Phải chăng là con đường khổ hạnh ? Thế là Ngài gia nhập nhóm tu khổ hạnh trong Khổ hạnh lâm - ép xác suốt sáu năm trời : Từ phép tu cắn răng đến phép nín thở rồi nhịn ăn , ...Thái tử lúc này chỉ còn là bộ xương khô , lại không mảnh vải che thân . Như một quả lắc đồng hồ đi từ cực đoan nầy sang cực đoan khác , Thái tử từ trong nhung lụa xa hoa đến khắc khổ hành xác -đi đứng khó khăn tai ù mắt loà ..May thay nhờ trải qua nhiều kiếp tu hành nên Thái tử vẫn còn đủ trí tuệ để phản tỉnh xét lại lối tu sai lầm nầy . Đó là khởi đầu cho một con đường sáng : Con đường Trung đạo ! Không o bế chìu chuộng thân xác , cũng không o ép hành hạ xác thân . Một tinh thần minh mẫn chỉ có thể có trong một thân thể tráng kiện .
    Nhờ vào phước báo được tích luỹ trong nhiều kiếp trước nên Thái tử có nhiều trợ duyên giúp phục hồi sức khoẻ nhanh chóng : có người cho tấm y để che thân , có người cho bát sữa tươi bồi bổ thân thể , có người cho mấy bó cỏ khô làm bồ đoàn - đã giúp Ngài đủ điều kiện toạ thiền suốt 49 ngày đêm ròng rã . Để củng cố tinh thần cho Thái tử , một thiên sứ đã hoá thân làm nhạc sĩ lên dây đàn . Thái tử ngộ ra rằng nếu dây đàn căng quá thì đứt mà nếu dây chùng quá thì thanh không vang ; vậy không căng không chùng thì sẽ đạt thanh âm tuyệt hảo .Thì ra việc hành trì tu tập cũng giống như việc lên dây đàn vậy !

    Sau 49 ngày đêm thiền định dưới gốc Bồ đề Ngài lần lượt thắng vượt được tham , sân , si , ái , dục ; chiến thắng được vòng vây cám dỗ bởi tài , sắc , danh , thực , thuỳ , ... cuối cùng chứng đắc túc mạng minh , thiên nhãn minh rồi lậu tận minh ...toả sáng Bát Nhã Ba La Mật . Ngài đã thành một Pháp vương vô thượng tôn của cõi Trời , cõi Thần và cõi Người . Từ đây Thái tử Siddhārtha  (tiếng Pali có nghĩa là một người đã hoàn thành được chủ đích của mình ) đã trở thành một Đấng giác Ngộ hoàn toàn ; có danh hiệu là Phật Thích Ca và được người đời tôn xưng là Đức Phật . Chữ Phật phiên âm từ chữ Budha ( Bụt ) có nghĩa là Giác Ngộ . Sau khi thành Phật , Ngài tiếp tục thiền định 7 ngày để kiểm nghiệm lại quá trình tu chứng của mình . Sau đó , Ngài phân vân không biết có nên tuyên thuyết giáo pháp của mình hay nhập Niết bàn ngay , bởi giáo pháp của Ngài quá vi diệu khó tiếp thu do sự hạn chế của ngôn ngữ văn tự . Nhưng rồi vì lòng bi mẫn đối với chúng sinh , Ngài bắt đầu đi du thuyết . Bài thuyết pháp đầu tiên ( chuyển pháp luân ) nói về con đường Trung đạo . Du thuyết suốt 45 năm khắp xứ Ấn Độ  mà cuối đời  Phật lại nói  rằng : " 45 năm qua ta chưa từng nói một lời nào " . Không định thuyết rồi lại thuyết ; thuyết rồi lại phủ nhận điều mình đã thuyết . Tại sao như vậy ? Vấn nạn nầy về sau được Bồ tát Long Thọ giải mã trong Trung Quán luận . Luận chứng căn bản trong Trung Quán là biện chứng pháp sau đây :
                                Không - Giả danh - Trung đạo 
  Chữ Không trong mệnh đề trên nằm trong " Vạn Pháp giai không " .Không không có nghĩa là không đối đãi với có mà có nghĩa là không có tự tính , không thực hữu . Tất cả các pháp đang hiện hữu đều không có tự tính . Chúng hiện hữu do duyên sinh ( tương tức, tương nhập ) . Bồ tát Long Thọ đưa ra tiền đề : " Nếu bảo tất cả các pháp đều không , ngôn ngữ văn tự cũng nằm trong các pháp , thì lấy gì bảo rằng không ? Vậy nên phải mượn văn tự xét như một phương tiện để hiển bày Không Tánh  gọi là giả danh . Đó chính là Trung đạo . Xem thế , ngôn ngữ không phải là thực tại mà là phương tiện truyền thông  để chuyển tải mô tả thực tại . Kinh nói " Chỉ có văn tự thôi thì đều không có thực nghĩa ( đản hữu văn tự đô vô thật nghĩa ) . Đức Phật từng ví Chân lý thực tại mà Ngài vén mở như mặt trăng , còn văn tự ngôn thuyết như là ngón tay chỉ mặt trăng ( nhất thiết tu đà na giáo như tiêu nguyệt chỉ ) . Nếu vướng và chấp vào văn tự thì sẽ lầm lẫn ngón tay là mặt trăng . Biện chứng pháp Không - Giả danh - Trung đạo cho phép ta không loại trừ ngôn ngữ văn tự mà vẫn thấy được thực nghĩa ; đồng thời không động đến chân tướng mà vẫn kiến lập được các pháp :

                                Bất đoạn giả danh nhi kiến thực nghĩa 
                                Bất động chân tướng kiến lập chư pháp 

       Thái độ tẩy chay hay tuyệt đối hóa giá trị của ngôn ngữ  đều là cực đoan cố chấp . Bởi thế cho nên Đức Phật đi du thuyết suốt 45 năm mà cuối cùng Ngài lại bảo rằng  : " Ta không nói một lời nào "  Ấy là vì Ngài lo sợ hậu thế chấp vào kinh giáo . Tuy nhiên phép đốn tu mà Ngài giới thiệu cho thánh chúng trong hội Linh Thứu bằng thái độ không giảng một lời kinh nào mà chỉ đưa cánh hoa lên ( niêm hoa vi tiếu ) dĩ tâm truyền tâm .Ngài Ca Diếp trong chúng hội được truyền tâm nên " phá nhan vi tiếu " . Đó là phép tu " giáo ngoại biệt truyền "của Thiền tông mà Ngài Ca Diếp là tổ thiền đầu tiên . Về phép tu theo kinh giáo , Đức Phật sợ hậu thế sau nầy chấp vào văn tự nên đã khuyến cáo chúng đệ tử rằng : " Không nên kẹt vào pháp , cũng không nên kẹt vào chẳng phải pháp . Các vị tỳ kheo nên biết pháp ta nói như chiếc bè qua sông . Pháp còn phải bỏ huống hồ gì không phải pháp " ( Kinh Kim Cang )
      Trên con đường tu đạo điều uý kỵ nhất là thái độ cực đoan cố chấp . Trong luận Đại Trí Độ , Phật giảng về đệ nhất nghĩa đế để độ những kẻ cực đoan cố chấp : " Có kẻ đang được độ thoát mà bị rơi vào thái độ cực đoan hoặc vì vô trí mà chỉ cầu sự khoái lạc cho thân thể , hoặc vì hành đạo mà tu hành theo lối khổ hạnh , những người như thế đối với đệ nhất nghĩa đế mất hết niết bàn chánh đạo " ( trích Luận Đại Trí Độ - bản dịch của Tuệ Sỹ ).Rõ ràng con đường Trung đạo là con đường duy nhất đưa ta đến Niết Bàn

   
Tóm lại , cả cuộc đời của đức Phật Thích Ca từ khi sinh ra cho đến khi nhập diệt đều hiển thị ý nghĩa vi diệu của con đường Trung đạo - con đường ở giữa hai đầu cực đoan - Đó là một trong những lý do mà Liên Hiệp Quốc chọn Phật giáo là tôn giáo Hòa Bình của Thế Giới - giữ được sự cân bằng hòa hợp trong tâm mỗi người là bước quan trọng trong tiến trình kiến lập hòa bình trong tự thân và trên thế giới ( Peace in oneself , Peace in the world ) .


Thứ Ba, ngày 05 tháng 4 năm 2016

Chuyện trăng tròn trăng khuyết

   


           Trăng dù có khi tròn khi khuyết thì cũng vẫn chỉ là trăng . Còn chuyện lăng xăng sầu bi hỉ lạc lúc nhìn trăng vọng nguyệt là chuyện của con người .Trăng tròn hay khuyết chỉ là do vị trí tương đối  giữa mặt trăng mặt trời và trái đất cùng với sự tiếp nhận ánh sáng của mặt trăng từ mặt trời . Tròn hay khuyết cũng là do niệm tưởng của con người- có khác chăng là giữa người nầy với kẻ nọ , lúc nầy và lúc khác .

     Mọi sự trên đời đều do chấp tướng mà tưởng ra thế nầy thế nọ như thấy dây thừng nhìn ra con rắn .Yếu tính của mọi hiện hữu là vừa hằng vừa  chuyển  .Hằng là thường hằng bất biến còn chuyển là chuyển biến dịch chuyển thường xuyên . Tỷ như nước và sóng , sóng dù có lăn tăn hay cuồng nộ cũng chỉ là nước . Trăng tròn hay trăng khuyết cũng chỉ là trăng của muôn thuở . Do diễn biến dịch chuyển mà có khi tròn khi khuyết khiến cho nhân gian lấy đó làm điều . Ngày xưa Mạc Đỉnh Chi đi sứ sang Tàu vào đúng lúc cô công  chúa con gái duy nhất của vua Tàu qua đời . Sứ giả họ Mạc đại diện cho nước Nam làm bài thơ chữ NHẤT để  tán thán như sau :
             Thiên thanh nhất đóa vân 
             Hồng lô nhất điểm tuyết 
             Thượng uyển nhất chi hoa 
             Giao trì nhất phiến nguyệt 
             Ô hô! vân tán ,tuyết tiêu , hoa tàn, nguyệt khuyết !
   Tạm dịch :
             Giữa trời xanh có một áng mây 
             Giữa lò lửa có một điểm tuyết
              Trong vườn ngự có một cành hoa
              Giữa ao sâu có một vầng trăng tròn 
              Ôi! mây tán ,tuyết tan ,hoa tàn ,trăng khuyết !

    Thì ra luật vô thường không loại trừ bất kỳ ai :Mây tụ rồi lại tán , tuyết tụ rồi lại tan , hoa thắm rồi lại tàn , trăng tròn rồi lại khuyết .Vũ trụ là không gian vô cùng vô tận và thời gian vô thỉ vô chung . Nói đến thời gian là nói đến sự dịch chuyển từ quá khứ đến hiện tại ; từ hiện tại đến tương lai . Triết gia Heideguer đã định nghĩa về sự luân chuyển của thời gian như sau : " Thời gian tính là thể tính của thời gian khi tương lai đi vào quá khứ chính lúc nó vừa tới hiện tại " .Dòng thời gian vừa hằng vừa chuyển chẳng khác nào lưu lượng của một dòng sông . Những lưu lượng nước không ngừng thay đổi . Thế nên mới nói " Không thể tắm hai lần trong một dòng sông " ( Heraclite). Cuộc đời con người cũng như một dòng sông . Con người già ,chết từng phần qua dòng thời gian . Sống là đang chết từng phần ( La vie est la mort partie en partie ) trong từng sat -na. .Những tế  bào sinh sinh hóa hóa . Ta đi ngang qua cuộc đời như đi qua dòng sông . Trịnh công Sơn đã ngộ ra điều nầy :" Em đi qua chuyến đò thấy con sông đang nằm ngủ . Con sông là quán trọ và trăng tên lãng du Em đi qua chuyến đò con trăng đang còn trẻ Con sông đâu có ngờ ngày kia trăng sẽ già "
  Rõ ràng diễn biến dịch chuyển là định luật tất yếu . Trong thời gian vô thỉ vô chung thì sự chuyển  biến diễn
 ra thật là chớp nhoáng .
              Trăng non rồi sẽ trăng già 
              Ba vô số kiếp chỉ là sát na 

     Chuyện trăng tròn trăng khuyết là do ảnh hưởng sự vận hành của vũ trụ .Thế nhưng trong cõi nhân sinh thì đó là tâm tình  tâm cảnh . Khi buồn thương tiếc nuối thì người ta than vãn trăng tròn rồi lại khuyết . Khi an ủi ,gieo niềm tin hy vọng thì người ta bảo trăng khuyết rồi lại tròn .Cũng cùng một vầng trăng mà mỗi lần xuất hiện trong thi ca nhạc họa đã trở thành một mảnh tình riêng  . Với Lý Bạch trăng là mối u hoài cố quận " ngẩng đầu nhìn trăng sáng , cúi đầu nhớ cố hương "; với Nguyễn Du thì trăng là nỗi niềm ly biệt " Vầng trăng ai xẻ làm đôi ,
nửa in gối chiếc nửa soi dặm trường "...
Tất cả đều do móng tâm niệm tưởng mà ra
Trăng tròn rồi  lại khuyết hay trăng khuyết rồi lại tròn đều nằm trong ý nghĩa của luật vô thường vậy !




Thứ Sáu, ngày 12 tháng 2 năm 2016

Năm khỉ nghĩ về tập tính bắt chước của loài khỉ

           
     
 
      Tập tính của loài khỉ là hay bắt chước . Bắt chước cũng là một trong các thuộc tính thuộc về trí năng của con người . Nhưng nếu con người bắt chước một cách thiếu thông minh thì chẳng khác gì Vượn học tiếng người . Cách đây 90 năm chí sĩ Phan Bội Châu đã phê phán nền tây học lúc bấy giờ " Tới bây giờ , tuy là hình thức học đường  khác học đường khoa cử ngày xưa rất nhiều , dáng vẻ bên ngoài hình như vừa mắt , nhưng xét đến tinh thần cốt tủy có khác gì vượn học tiếng người . Đạo đức cũ đã sạch sành sanh , và văn hóa mới lại chẳng có chút gì dây vướng ở học đường "

  Đã non một thế kỷ mà những chuyện " khỉ gió " thời bây giờ chẳng khác chi chuyện " khỉ gió  "thời bấy giờ . Chuyện thời bây giờ hình thức học đường tuy có cách tân rất nhiều về kỹ thuật , về kế hoạch , về tổ chức học chánh vv...nhưng hồn cốt thì chẳng khác chi " vượn học tiếng người " . Trần tế Xương - người đồng thời với chí sĩ Phan Bội Châu chế diễu cái kiểu duy tân , cải cách kệch cởm , nhố nhăng thời bấy giờ :
  " Gặp ba ông Táo dạo chơi xuân
Đội mũ mang hia chẳng mặc quần
  Trời hỏi làm sao ăn mặc thế ?
Thưa rằng hạ giới nó duy tân !
 Tú Mỡ họa lại bài thơ trên làm tăng thêm nét trào phúng cay độc :

 " Thưa rằng hạ giới nó duy tân
Chỉ có trên đầu với dưới chân
Trong bụng chứa nguyên điều hủ bại
Xin trời đại xá bọn ngu dân !

Nhận định của nhà chí sĩ họ Phan quả là tiên tri ! Gần một thế kỷ sau , cái học ngày hôm nay về da dẻ hình thức bên ngoài trông thật chỉn chu đẹp mắt song " trong bụng chứa nguyên điều hủ bại ", Duy tân theo kiểu bắt chước một cách dại dột thiếu ý thức thì chẳng khác nào " vượn học tiếng người " Ngày ngày nhí nhố nhộn nhịp diễn ra quan chức mặc đồ Tây , đi xe Tây , ăn cơm Tây , uống rượu Tây , xài tiền Tây , ...nhưng rất ít người là  con người mới ! Văn hóa mới cũng "chẳng có gì dây vương ở học đường ". Trong khi đó đạo đức cũ đã sạch sành sanh "
 Vượn học tiếng người là chỉ lối bắt chước dại dột và nguy hiểm của con người . một câu chuyện vui kể về sự bắt chước của khỉ dẫn đến sự tự hại mình : " Có một con khỉ của người hàng xóm của  anh thợ giày ; hàng ngày thường hay lén nhìn  qua cửa sổ tiệm giày để xem anh thợ cắt da . Nó nhìn thấy anh thợ giày lấy dao cắt da để làm giày  . Chớ lúc anh ta đóng cửa đi ăn cơm , nó chui vào và bắt chước cắt nát hết các tấm da trong tiệm . Đi ăn cơm về , anh thợ giày biết ngay thủ phạm . Lợi dụng tính hay bắt chước của khỉ , anh buộc tấm da vào cổ -dưới da có chèn miếng sất - xong anh đưa dao cắt vào tấm da trên cổ mình . Sau đó anh đóng cửa tiệm đi về .Hôm sau trở lại , quả nhiên anh ta thấy con khỉ bị chết ngả lăn vì đứt cổ !

   Thấy ai làm gì mà mình bắt chước làm nấy mà không biết suy nghĩ , chọn lọc để áp dụng cho thích hợp  thì thật là dại dột và nguy hiểm như chú khỉ đáng thương kia
Nền giáo dục của ta hiện nay tự mình nhổ ra khỏi gốc rễ của truyền thống để rồi mô phỏng rập khuôn theo nước ngoài chẳng khác nào ghép một nhánh cây vào một cái gốc cây không cùng chủng loại . Hậu quả là " đạo đức cũ đã sạch sành sanh và đạo đức văn hóa mới chẳng có gì dây vướng ở học đường " . Đạo đức cũ ở đây là đạo đức Khổng Mạnh với tam cương và ngũ thường . Để cho con người xứng đáng là người thì không thể thiếu " nhân , nghĩa , lễ , trí , tín " . Và để trở nên con người hiền lương , tử tế thì con người ấy phải đầy đủ tám đức tính : hiếu , để , trung , tín , lễ , nghĩa , liêm , sĩ . Bất luận học thuyết đạo đức nào , chủ nghĩa gì cũng không thể rũ sạch những đức tính trên , nếu muốn giáo dục con người thành tử tế ! Bắt chước , mô phỏng theo cái học của người một cách tùy tiện để rồi loại bỏ những tinh hoa cố hữu của mình là lai căng mất gốc . Một nền giáo dục như vậy chỉ có thể đào tạo ra những  lãnh đạo yếu kém , những cán bộ vừa thiếu khả năng chuyên môn lại vừa thiếu đạo đức ; những đứa con bất hiếu , những người dân bất trung .

   Vừa qua , dự thảo chương trình giáo dục phổ thông của Bộ GD& ĐT đã có dự kiến tích hợp môn Lịch Sử với môn Giáo dục công dân và An ninh Quốc phòng thành môn Công dân và Tổ Quốc . Một việc làm trái khoáy như vậy thế mà có chuyên gia ở Bộ lại cho rằng " Các nước làm như thế và Việt Nam cũng nên làm theo " .

   Hiện nay , nhiều trường phổ thông ở nhiều địa phương có khuynh hướng coi nhẹ môn Tiếng Việt và thường dồn hết tâm sức cho môn Tiếng Anh . Đây cũng là kiểu bắt chước các nước muốn hội nhập vào văn minh thế giới . Chú trong vào môn ngoại ngữ là không sai song xem thường tiếng mẹ đẻ là một việc làm sai lầm có nguy cơ làm con cháu mất gốc .

    Giáo dục có một nhiệm vụ kép : vừa vun bồi , kế thừa tinh hoa văn hóa của ngày hôm qua vừa tiếp thu có chọn lọc tinh hoa văn hóa thế giới . Ngoài ra , giáo dục phải có sức đề kháng , đào thải sự xâm nhập của văn hóa ngoại lai . Hơn nữa , giáo dục cần phải có nhiệm vụ cảnh giác trước sự cưởng ép , thống trị của văn hóa ngoại lai . Sự xâm nhập văn hóa ngoại lai vào một quốc gia chẳng khác nào một vật lạ trong cơ thể người ...

       Khỉ là một  loài vật thông minh nổi trội hơn các loài vật khác . Năm Bính Thân - năm con khỉ -mong sao năm nay sẽ xuất hiện một "Thạch Hầu "( với 72 phép thần thông biến hóa )
để triệt phá những cái nhố nhăng trong xã hội đồng thời phục hoạt lại nền văn hóa cổ truyền của dân tộc bên cạnh những giá trị văn minh phổ quát của nhân loại !

Thứ Hai, ngày 25 tháng 1 năm 2016

NGHĨ VỀ TRIẾT LÝ HÀNH ĐỘNG CỦA BÀ AUNG SAN SUU KYI

   
     
         
     Bà Aung San Suu Kyi - nhà đấu tranh chính trị kiệt xuất của đất nước Miến Điện - đã đấu tranh không mệt mõi cho tự do , dân chủ suốt 20 năm - đã đạt được thắng lợi vinh quang và ngọt ngào êm thắm !Triết lý hành động của bà được gói gọn  trong câu nói : "  Chỉ có sự sợ hãi mới là nhà tù thật sự và chỉ có tự do  thật sự khi giải phóng được sự sợ hãi " ( The only real prison is fear and the only real freedom is freedom from fear)

    Dưới ánh sáng của triết lý Phật giáo , bà San Suu Kyi đã trang bị cho mình một tư duy chân xác về nguyên nhân gây ra thảm hoạ cho con người . Trước sự nô lệ của con người , thảm hoạ bắt đầu từ  sự sợ hãi của chính con người . Sự sợ hãi tạo ra một nhà tù ảo giác cho  chính mỗi cá nhân , mỗi công dân trong một chế độ độc tài .Và , chỉ khi nào giải thoát được nỗi sợ hãi đó mới có tự do thật sự .
  Nói thì dễ mà làm thì không dễ . Làm thế nào có thể vượt thoát nỗi sợ hãi đã trở thành thâm căn cố đế . Sợ hãi thuộc về chủng tử bản hữu , tiên thiên trong mỗi con người . Khi sinh ra là đã biết sợ hãi . Vấn đề đặt ra là mỗi cá nhân phải tự đấu tranh để vượt thoát khỏi bản năng cố hữu đó . Càng sống càng va chạm với cuộc đời , với xã hội , càng nẩy sinh bao nỗi sợ hãi dưới nhiều hình thức khác nhau . Nếu chẳng may sống trong một xã hội đảo điên , một thể chế chính trị hà khắc thì nỗi sợ hãi sẽ trở nên luỹ thừa .
   Thế nhưng , nguyên nhân nào gây ra thảm hoạ sợ hãi ? Nguyên nhân gây ra mọi thảm hoạ chính là vô minh . Đối trị với vô minh là chánh kiến , chánh tư duy . Bà Aung San Suu Kyi đã tư duy về sự sợ hãi từ tứ diệu đế ( 4 chân lý vi diệu về thực tại ) của nhà Phật . Sau khi thành Phật , Đức Thích Ca đã rời gốc bồ đề , đến vườn Lộc Uyển để thuyết pháp cho 5 anh em Kiều Trần Như  về bốn chân lý vi diệu nầy . Đây là bài thuyết pháp đầu tiên của Ngài . Bốn chân lý ấy là khổ - tập - diệt - đạo.  
   Khổ : hiện trạng thực tế của kiếp người
  Tập : nguyên nhân gây ra đau khổ
  Diệt :trạng thái được giải thoát sau khi hết khổ 
  Đạo :con đường , phương pháp tu tập để được giải thoát .
       Riêng về chân lý thứ nhất ( khổ đế ) , Đức Phật dẫn ra các  hình thái khổ đau của kiếp người : Sinh khổ , lão khổ , bệnh khổ , tử khổ , cầu bất đắc khổ , ái biệt ly khổ ,  oán tắng hội khổ .
     Bà San Suu Kyi với tư cách là nhà hoạt động xã hội , nhìn cuộc đời bằng con mắt thương cảm và tấm lòng trắc ẩn cho rằng : " Bất cứ nỗi khổ nào bị bỏ qua thì nơi đó có mầm mống xung đột . Bởi vì nỗi khổ sẽ làm cho con người sa đoạ , thù hận và bạo hành " .Một xã hội có nhiều hận thù và bạo hành sẽ gây ra biết bao nỗi sợ hãi . Con người ta sợ hãi trước cái chết đã đành , mà cả trong lúc sống cũng nơm nớp lo sợ đủ điều :  Sợ giả , sợ bệnh , sợ nghèo , sợ mất việc ,...Vậy làm thế nào để đối trị với nỗi sợ hãi để thoát ra khỏi nó ? Nhà Phật đề cao hạnh vô uý (không sợ hãi ). Một trong những nỗi sợ khủng khiếp nhất là sợ tù tội , mất tự do . Bà San Suu Kyi cho rằng không có nhà tù thật sự mà chỉ có sự sợ hãi mới là nhà tù thật sự ; và chỉ có tự do  thật sự khi giải phóng được sự sợ hãi . Sợ hãi là nhà tù ảo ảnh khiến con người bị nô lệ chính mình . Trước sự nô lệ của con người đòi hỏi mỗi chúng ta phải đấu tranh với chính mình , phải tu tâm rèn chí , phải kiên định chí khí để thoát khỏi sợ hãi . Một trong những thuộc tính của hạnh vô uý là sự can trường dũng lược . Nhật Bản là một dân tộc can cường với truyền thống võ sĩ đạo . Sau chiến tranh thế giới , Nhật Bản được vực dậy một cách nhanh chóng là nhờ triết lý nhân- trí - dũng . Việt Nam ta  vào thời Lý cũng đề cao bi- trí - dũng . Bi , trí , dũng có mặt đồng thời , tương liên , tương tác trong một con người toàn diện . Bi , trí , dũng chẳng phải là ba thành phần đối nghịch tách bạch ; mà là ba mặt của cùng một thực tại : Trí chỉ là trí khi nào có bi và dũng đi cùng . Bi đích thực  là bi khi được trí soi sáng và dũng trợ lực . Dũng đúng là dũng khi có sự điều hướng của bi và trí .
Vì vậy , người được mệnh danh là trí thức chính là con người có lòng trắc ẩn , đồng thời có can đảm đứng lên tranh đấu cho sự thật mà lòng không bị ngăn ngại bởi sợ hãi ;dù cho có gặp nguy hiểm cho bản thân vẫn không bị thối chuyển ;  quyết tâm thực hiện chí nguyện giúp người cứu đời .
        Con người sỡ dĩ sợ hãi vì do có nhiều chướng ngại , chấp trước : chấp thủ , chấp hữu , chấp danh , chấp ngã . Trong kinh Tinh yếu Bát Nhã Ba La Mật Đa ,  Bồ Tát Quán Tự Tại trao cho con người một món quà quý giá - đó là món quà vô uý . Sợ hãi , hận thù , bạo hành là sản phẩm của ảo giác,vọng tưởng , điên đảo do tri giác sai lầm gây ra . Ví dụ do nhận thức sai lệch về lẽ sống chết ( sanh , diệt ) cho rằng chết là hết  nên thường sợ hãi hốt hoảng trước cái chết .Thật ra , bản thể của sự sống là chuyển biến từ dạng thức nầy sang dạng thức khác - chứ không sinh mà cũng chẳng diệt . Nếu có cái nhìn chánh kiến , chánh tư duy về bản chất đích thực của sự sống thì sẽ an nhiên trước lẽ sống chết .
   Sự sợ hãi là gánh nặng đeo đẳng đè nặng lên cả kiếp người từ khi sinh ra cho đến khi nhắm mắt xuôi tay . Khi quán chiếu thật sâu vào Bát Nhã Ba La Mật , Bồ tát Quán Tự Tại soi thấy năm uẩn đều không có tự tính ( do duyên mà sinh ) . Ngài tuyên thuyết  : " Nếu nương tựa vào pháp vi diệu thì trong lòng không còn chướng ngại . Tâm không chướng ngại nên không sợ hãi và vì  không sợ hãi nên tránh xa được điên đảo mộng tưởng " ( Tâm vô quán ngại cố , vô hữu khủng bố , viễn ly điên đảo mộng tưởng ) .
  Thì ra , con người sợ hãi vì do chấp hữu , chấp danh , ...; do vô minh cố chấp . Con người vô sự mới đích thị là con người tự do . Và chỉ khi nào phá hết chấp , giải thoát ra khỏi sợ hãi thì khi ấy mới có tự do thật sự .
   Phật giáo là quốc giáo của Miến Điện . Bà San Suu Kyi là Phật tử thuần thành của nhà Phật . Chẳng may do cộng nghiệp của cả dân tộc bà phải làm công dân của một đất nước bị cai trị dưới một chế độ độc tài quân phiệt . Bà San Suu Kyi vì lòng trắc ẩn trước dân tình thống khổ cộng với truyền thống yêu nước của gia đình nên đã dấn thân vào con đường đấu tranh cho dân quyền , dân chủ . Dấn thân vào con đường nầy là chấp nhận nguy hiểm kể cả cái chết . Dante - nhà cách mạng dân chủ Pháp ( 1789 ) đã từng cảm khái kêu lên : " Ôi! Mỗi bước tiến của thần tự do là một viên đá để xây mồ "  Bản chất của chế độ độc tài là khủng bố tinh thần dân chúng , gieo rắc sự sợ hãi để dễ bề cai trị . Machiavel - một triết gia cổ vũ cho chế độ độc tài - cho rằng : " Dân chỉ cần làm cho họ sợ chứ không cần làm cho họ thương " .
 
   Suốt 20 năm bị quảng thúc (giam lỏng) tại gia , thường xuyên bị canh gác , giám sát , bà San Suu Kyi vẫn cảm thấy mình là con người tự do . Bà vẫn tiếp tục đấu tranh không mệt mõi  dưới hình thức bất bạo động . Chí khí cương liệt của bà đã có tầm ảnh hưởng sâu rộng đến quần chúng đấu tranh .

   
        Suy cho cùng , triết lý và hành động bao giờ cũng có một khoảng cách nhất định . Hành động mà không nương tựa vào một nguyên tắc có tính triết lý là một ý chí mù quáng .Bà San Suu Kyi vừa hành động vừa có tư tưởng triết lý hướng dẫn hành động . Trước một tình trạng xã hội nhiễu loạn , sa đoạ , thù hận , bạo hành ,...gieo rắc muôn vàn sợ hãi ; bà đã tự trấn an mình và vỗ an quần chúng bằng con đường thoát khỏi sợ hãi . " Và , chỉ có tự do thật sự khi giải phóng được nỗi sợ hãi " (  Aung San Suu Kyi )

Thứ Sáu, ngày 27 tháng 11 năm 2015

Tich hợp hay cưỡng hôn ?!

 

 

          Dự thảo chương trình giáo dục phổ thông trong tổng thể của Bộ GD- ĐT dự kiến sẽ tích hợp môn Lịch sử với môn Giáo dục công dân và An ninh quốc phòng thành một môn học mới là môn Công dân và Tổ quốc . Về mặt học thuật , về nguyên tắc tích hợp thì việc làm nầy có phù hợp và thích ứng với  thuật ngữ  tích hợp không ; đó là vấn đề tiên quyết và then chốt ( còn vấn đề di hại của việc nầy đã có nhiều người bàn ).

     Trước hết  cần phải hiểu cho đúng về thuật ngữ tích hợp .Tích hợp là một thuật ngữ mới được vận dụng ở nước ta . Nó xuất phát từ quy luật nhận thức cho rằng : Không có một đơn vị kiến thức nào đứng ở vị trí độc lập và không liên quan đến các kiến thức khác trên cùng bình diện . Hai chữ tích hợp  được dùng dưới nhiều dạng thức khác nhau : Quan điểm tích hợp , tinh thần tích hợp , phương pháp tích hợp , nội dung tích hợp , dạy học tích hợp . Riêng về nội dung tích hợp đòi hỏi các thành phần được tích hợp cùng nằm trên một bình diện . Bởi vì có cùng một bình diện mới có tính liên thông liên kết . Ví dụ dạy môn Văn cần phải có phương pháp tích hợp hai phân môn Tiếng Viết và Tập Làm Văn . Bởi vì trong văn có tiêng , trong tiếng có văn và cả văn lẫn tiếng đều là nguyên vật liệu để tập làm văn .
     Về mặt nội dung tích hợp thì các môn Lịch sử , An ninh quốc phòng và Giáo dục công dân không cùng chung bình diện , cũng chẳng họ hàng gì với nhau . Cho nên sát nhập ba bộ môn nầy thành một là một việc làm khiên cưỡng , phản khoa học và phản học thuật . Thuật ngữ tích hợp hoàn toàn xa lạ với việc sát nhập , lồng ghép , Trong giảng dạy bộ môn ,  hai chữ tích hợp được hiểu là phối hợp thành một thể thống nhất tích chứa bao điều có thể mà vẫn lưu giữ được tính đặc thù của phân môn . Hiểu một cách nôm na đơn giản là nhiều phân môn hòa trộn vào nhau , học cái nầy biết cái kia và ngược lại nhưng vẫn giữ được tính độc lập của từng phân môn ; nghĩa là hòa trộn mà không hòa tan .

      Ông Bộ trưởng bộ GD- ĐT cam kết trước Quốc Hội rằng : "Tuy tích hợp nhưng môn lịch sử không bị coi nhẹ và khẳng định được coi trọng hơn  so với chương trình hiện hành " . Ông nói như vậy đúng là ngụy biện . Một khi tên đã không còn là tên riêng nữa thì lấy gì bảo đảm sự tồn tại của môn lịch sử , nói chi đến xem trọng xem khinh . Ba môn Lịch sử , An ninh quốc phòng và Giáo Dục công dân được trộn lại để cho ra môn Công Dân và Tổ Quốc thì môn Lịch sử kể như đã bị khai tử rồi . Tích hợp như cách làm của ban soạn thảo chương trình là hình thức đánh tráo khái niệm tích hợp thành sát nhập lồng ghép .
    Bộ môn Lịch sử chỉ có thể tích hợp với môn Địa lý , Việt sử , Thế giới sử và những vấn đề có liên quan đến văn học , kinh tế , quân sự , tín ngưỡng , tổ chức hành chính ; và đặc biệt là tư tưởng triết học . Tư tưởng triết học chi phối toàn bộ các lãnh vực khác trong cùng một thời đại , một sự kiện lịch sử .
   Việc tích hợp môn Lịch sử với hai môn khác thành môn mới nằm trong ý đồ thực hiện bước cuối cùng trong tiến trình chính trị hóa . Từ lâu , giáo dục , thông tin và truyền thông  đã bị đánh đồng làm một để mở đường cho tiến trình trên . Và cũng đã từ lâu môn Việt sử hiện đại ( Lịch sử Đảng ) được cày sâu cuốc bẩm ; còn Việt sử thời trung đại và cổ đại thì bị hoang hóa . Tại sao chúng tôi nói bỏ môn Lịch sử là bước  cuối cùng trong tiến trình chính trị trị hóa ? Bởi vì Quốc sử , Quốc học chính là cái hồn , cái hạnh của một dân tộc . Một khi môn Lịch sử không còn tên gọi thì còn  biết đâu là nguồn cội . Cớ sự nầy gây ra do lỗi hệ thống .
   Có hai khuynh hướng cực đoan trong đường lối giáo dục trên thế giới :
  - Một là giáo dục con -người- nhân- loại vượt qua mọi giới hạn không gian , thời gian , hoàn cảnh ( như nền Giáo dục của Pháp trước thế chiến II )
 - Hai là giáo dục con -người- công- dân  trong một hoàn cảnh nhất định ; đào tạo theo một khuôn mẫu nhất định ; đáp ứng yêu cầu của một định chế nhất định ( như nền giáo dục của quốc xã thời Hitler hay nền giáo dục của Nga thời Sô Viết ).
  Hai khuynh hướng trên đều cực đoan và không tưởng . Khuynh hướng đầu phi thực tế ,phi dân tộc .
Khuynh hướng sau không chú trọng đến giáo dục con người đích thực có đầy đủ giá trị Chân Thiện Mỹ của con người muôn thuở mà chỉ chú trọng giáo dục con người công cụ .

   Nền giáo dục Việt Nam Cộng Hòa trước đây mang tính trung dung với triết lý giáo dục Nhân Bản -Dân Tộc - Khai Phóng . 
  - Giáo dục nhân bản là lấy con người làm cứu cảnh , đề cao giá trị thiêng liêng của con người , mỗi người và mọi người .
 - Giáo dục dân tộc là đề cao bản sắc dân tộc , bảo đảm sự trường tồn của dân tộc , sự phát triển điều hòa toàn diện của quốc gia .
 - Giáo dục khai phóng có nghĩa là tôn trọng tinh thần khoa học , hướng tới sự tiến bộ , đón nhận tinh hoa văn hóa của thế giới , góp phần phát triển sự tiến bộ , cảm thông và hợp tác quốc tế để tạo điều kiện thăng tiến cho đất nước.

    Nói đến dân tộc là nói đến quá trình phát triển và tiến hóa của dân tộc đó . Và nói đến quá trình phát triển tiến hóa là nói đến lịch sử nước nhà . Những bước đi của lịch sử kết thành những chặng đường phát triển qua các thời kỳ lịch sử . Tính độc lập của môn học nầy vừa hàm nghĩa tính đặc thù bộ môn vừa hàm nghĩa chối từ sự chi phối của bất kỳ xu thế chính trị nào .Thuật lại một sự kiện lịch sử không đơn thuần dựng lại quá khứ mà còn làm sống lại quá khứ trong kinh nghiệm mới mẻ của hiện tại . Đó chính  là ôn cố tri tân .

   "Ý mới rút từ kinh nghiệm cũ 
    Mai tàn lưu lại chút hương xưa "
"Chút hương xưa" ấy là tinh hoa hồn cốt của cả dân tộc , cũng là tư tưởng triết học của người xưa . Nhà sử học Phùng Hữu Lang cho rằng : ' Thuật lại lịch sử của một thời đại , của một dân tộc mà không đề cập đến triết học của thời đại ấy thì chẳng khác nào họa long bất điểm nhãn "  . Và nhà triết học Bacon cũng cho rằng : " Nghiên cứu lịch sử của một thời đại , của một dân tộc mà không đề cập đến triết lý thì khó mà hiểu được triệt để thời đại đó , dân tộc đó " . Xem ra không có triết thì không thể triệt vậy .
  Lịch sử của dân tộc ta đã
" Trải bốn ngàn năm dựng nước nhà 
Sông khoe hùng vĩ núi nguy nga ..." ( Vũ Hoàng Chương )
Trong khoảng thời gian dằng dặc đó trải qua một ngàn năm tranh đấu chống Bắc thuộc ; thời kỳ độc lập tự chủ khởi đầu từ nhà Ngô , nhà Đinh ; rồi hưng thịnh nhất vào thời Lý , Trần . Dưới triều vua Lý Nhân Tông không những giữ yên được bờ cõi , kiên cố phên giậu mà còn bình Chiêm và cả phạt Tống nữa .

      Ơi sử Việt là tranh đấu sử 
      Trước đến sau cầm cự nào ngơi 
      Tinh thần cách mạng sáng ngời 
      Bao người ngã lại bao người đứng lên
                               ( Trả ta sông núi - Vũ Hoàng Chương )

Nền giáo dục xưa không xử lý kỷ thuật , không xây dựng kế hoạch , không công nghệ hiện đại ...nhưng nó đã làm tròn nhiệm vụ của mình ; giữ được vai trò lịch sử của mình ròng rã mấy ngàn năm để nước Việt tồn tại đến tận ngày hôm nay ! 
Bỏ môn lịch sử đồng nghĩa với việc phủ nhận bao công trình huyết hãn của tiền nhân : Bắc đánh Tống , Nam bình Chiêm, diệt Mông Nguyên , giữ yên bờ cõi  . Có được những thành tựu to lớn như vậy là nhờ triết lý giáo dục trung , hiếu , tiết , nghĩa ...chứ không nhờ vào kỹ thuật , kế hoạch giáo dục .

     Để bênh vực việc tạo ra môn học mới , phó GS - TS Bùi Mạnh Hùng đưa ra ý kiến : " Việc tích hợp không chỉ nhắm đến việc nâng cao hiệu quả giáo dục mà còn giải quyết vấn đề kỹ thuật khi xây dựng kế hoạch dạy học " Thì ra ông nầy không phân biệt được đâu là gốc đâu là ngọn ! Đổi mới tư duy giáo dục , đường hướng giáo dục , triết lý giáo dục mới là cái gốc ; còn vấn đề kỹ thuật , kế hoạch kể cả hiệu quả giáo dục chỉ là cái ngọn . Thêm một ý kiến  khác bênh vực cho đề án nầy thì nói  rằng : " Các nước làm như thế và Việt Nam cũng nên làm theo " . Thật là nông cạn và ngớ ngẩn . Các nước tích hợp môn lịch sử với môn địa lý chứ đâu có kiểu tích hợp tùy tiện như dự kiến của các ông !


     Suy cho cùng thì môn Lịch sử không thể nào tích hợp với các môn An ninh quốc phòng , Giáo dục công dân để tạo thành môn học mới cho được . Vì nhiều lý do - trong đó có lý do phản khoa học , phản học thuật và sai nguyên tắc tích hợp là then chốt  . Ngoài ra , việc làm trái khoáy nầy sẽ gây di hại khó lường là việc  chuẩn cấp học ( standard learn ) ở bậc học phổ thông sẽ không thành công . Sau khi ra khỏi nhà trường phổ thông , học sinh sẽ không được trang bị đầy đủ vốn liếng hành trang vào đời  một khi đã bị mất căn bản kiến thức phổ thông trầm trọng . Nguy hiểm nhất là các em sẽ  thiếu tố chất " để cho con người xứng đáng là NGƯỜI " ( nhân chi sở dĩ vi nhân dã ) . Phó GS- TS Phạm Quốc Sử khẳng định : " Người không hiểu sử thì không khác gì con trâu . Con trâu thì ruộng nào cũng cày bởi nó không biết nguồn cội của mình " . Đúng vậy , con trâu chỉ biết cắm cúi cặm cụi kéo cày theo một đường rảnh có sẵn . Kiến thức lịch sử và địa lý vô cùng cần thiết cho con người - cho mỗi người và cho mọi người . Đặc biệt , giới luật gia , chính khách không thể không có hiểu biết về lịch sử và địa lý . Chính khách mà tù mù về kiến thức sử địa thì khi làm cán bộ lãnh đạo dẫn dắt quần chúng chẳng khác nào một người mù dẫn đường  một đoàn người mù .



   

Thứ Hai, ngày 16 tháng 11 năm 2015

ĐỌC LẠI BÀI HỊCH TƯỚNG SĨ CỦA TRẦN QUỐC TUẤN


   Bài Hịch tướng sĩ ( Dụ chư tỳ tướng hịch văn ) của Hưng Đạo Vương Trần Quốc Tuấn viết cách chúng ta hơn 700 năm mà nay đọc lại vẫn cứ âm vang giai điệu hào hùng và dâng trào tâm tư bi thiết .
   Trong cuộc chiến chống Mông Nguyên lần thứ hai , bài Hịch đã chuyển thế trận của quân Đại Việt từ thu quân , đầu hàng sang quyết chiến quyết thắng . Sức thuyết phục của bài hịch là ở chỗ yếu tố trữ tình bàng bạc , lan tỏa thấm đẩm cả bài văn chính luận . Từ trái tim đến trái tim , từ một tấm lòng đến vạn tấm lòng đã thắp sáng niềm tin , gọi hồn sông núi . Khởi đầu là tấm lòng của chủ tướng . Mục đích yêu cầu của bài hịch -  không dùng đao to búa lớn , lý lẽ suông tình , mệnh lệnh áp đặt hoặc nhân danh này nọ - mà chỉ dùng tình cảm để hiệu triệu , khuyến dụ , khuyên răn , cảnh tỉnh tướng sĩ đang  ham chơi mê ngủ .

    Tháng 12 năm Giáp thân ( 1254 ) hiệu Thiên Bảo năm thứ 6 , đời Trần Nhân Tông , đại binh Thoát Hoan tiến đánh Chi Lăng , Hưng Đạo Vương  thất thế thu quân chạy về Vạn Kiếp . Vua Nhân Tông thấy thế giặc quá mạnh cho mời Hưng Đạo Vương về Hải Dương mà phán rằng :
  -  " Thế giặc to như vậy mà chống với chúng thì dân chúng bị tàn sát , nhà cửa bị phá hết ; hay là trẩm sẽ chịu hàng để cứu muôn dân ".
   Hưng Đạo Vương tâu :
-" Bệ hạ nói câu ấy là lời nhân đức , nhưng tôn miếu xã tắc thì sao ? Nếu bệ hạ muốn hàng thì xin hãy chém đầu thần trước đã " .
Vua Nhân Tông nghe thế yên lòng , Hưng Đạo Vương trở về Vạn Kiếp hiệu triệu 20 vạn quân và thảo ra DỤ CHƯ TỲ TƯỚNG HỊCH VĂN  để khuyên răn , đánh thức các tướng dưới quyền hãy từ bỏ lối sống cầu an , hưởng thụ và lo luyện tập võ nghệ , trau dồi binh pháp để chuẩn bị chiến tranh . Mặt khác vua cho họp các bô lão , mở hội nghị DIÊN HỒNG ,trưng cầu ý dân NÊN HÒA HAY NÊN CHIẾN .
  Lúc bấy giờ vua quan nhà Trần phải đương cự trước một tình thế vô cùng khó khăn . Khó khăn lớn nhất là phải chống lại một đạo quân bách chiến bách thắng , một đạo quân mà các sử gia tây phương phải kiêng dè :" Đi đến đâu thì cỏ chết đến đấy " . Nhưng đó chỉ là khó khăn ngoài biên ải , đáng kể nhất là khó khăn nội tại ngay trong triều đình . Trong triều đình vẫn có những quan lại vì lợi ích cá nhân mà thông đồng với giặc , thỏa hiệp với kẻ thù . Các quan lại khác thì vì hèn nhát phải khom lưng cúi đầu tiếp đãi ngụy sứ như quốc khách . Những cảnh tượng chướng tai gai mắt ngày ngày vẫn diễn ra trước sự phẫn nộ , căm tức của những con dân yêu nước . Trong lúc đó ở bên ngoài thì bọn sứ giặc  " đi lại nghênh ngang ngoài đường , uốn lưỡi cú diều mà sỉ mắng triều đình , đem thân dê chó mà bắt nạt tể phụ " . Còn ở bên trong triều đình thì "tấu nhạc Thái Thường để đãi yến ngụy sứ ; làm tướng triều đình mà đứng hầu quân giặc "  .Thật oái oăm thay khi phải đem quốc lễ mà tiếp đón kẻ cướp nước .
  Càng đáng lo ngại hơn nữa là các tướng sĩ trong quân ngũ không ai quan tâm đến hiện tình dầu sôi lửa bỏng của đất nước .Họ bàng quan , thờ ơ trước những chuyện đau lòng đang diễn ra trong triều , ngoài dân chúng .  Sau khi thắng cuộc trong trận chiến chống Nguyên Mông lần thứ nhất , họ ngủ quên trong chiến thắng ; họ đua nhau hưởng thụ theo sở thích cá nhân : "hoặc lấy việc chọi gà làm vui đùa , hoặc lấy việc đánh bạc làm tiêu khiển , hoặc vui thú ruộng vườn hoặc quyến luyến vợ con ; hoặc nghĩ về lợi riêng mà quên việc nước , hoặc ham săn bắn mà quên việc quân ; hoặc thích rượu ngon , hoặc mê tiếng hát " . Thái độ ham mê hưởng thụ xuất phát từ tâm lý chung của những người vừa mới trải qua nhiều thiếu thốn gian khổ . Còn thái độ quay lưng lại với thời cuộc với vận mạng của nước nhà là xuất phát từ vô minh , không thấy được mối tương quan , tương liên giữa cá nhân và xã hội , giữa gia đình và Tổ quốc . Một khi nước mất là mất tất cả ! Quốc phá gia vong !Chủ tướng Hưng Đạo Vương đem lòng đại lượng mà chỉ tỏ cho các tỳ tướng thấy được cái sai cùa mình bằng một giọng ôn hòa , khoan nhu đan xen hóm hỉnh : " Nếu có giặc đến thì cựa gà trống sao cho đâm thủng áo giáp quân thù , mẹo cờ bạc sao cho dùng nổi được quân mưu ; dẫu rằng ruộng lắm vườn nhiều , tấm thân ấy ngàn vàng khôn chuộc , vả lại vợ bìu con ríu nước nầy trăm sự nghĩ sao ? tiền của dù nhiều cũng không mua được đầu giặc , chó săn ấy thì địch sao cho nổi quân thù , chén rượu ngon không làm cho địch say chết ; tiếng hát hay không làm cho địch điếc tai . Lúc bấy giờ chẳng những thái ấp của ta không còn mà bổng lộc các ngươi cũng hết ; chẳng những gia quyến của ta bị đuổi mà vợ con các người cũng nguy ; chẳng những là ta chịu nhục bấy giờ mà trăm năm về sau tiếng xấu hãy còn mãi mãi ; mà gia thanh cùa các người cũng chẳng khỏi mang tiếng nhơ. Đến lúc bấy giờ các người dẫu muốn vui vẻ , phỏng có được không ? "
  Hậu quả của lối sống hưởng thụ , thái độ vô cảm , bàng quan thờ ơ trước vận nước không những ảnh hưởng đến sự mất còn của quốc gia dân tộc mà còn gây di chứng cho nhiều thế hệ kế tiếp .
    Sau khi chỉ ra cho các tỳ tướng thấy được sai lầm trong hành vi cũng như trong nhận thức của họ ; chủ tướng Hưng Đạo Vương Trần Quốc Tuấn mới bộc bạch tâm tư tình cảm của mình :
   "Ta đây ngày thì quên ăn , đêm thì quên ngủ , ruột đau như cắt , nước mắt đầm đìa , chỉ căm tức rằng chưa được xẻ thịt lột da của quân giặc , dẫu cho thân nầy phơi ngoài nội cỏ , xác nầy gói trong da ngựa , thì ta cũng đành lòng " ,
  Tâm tư, tình cảm của chủ tướng nói gọn lại cô đúc trong bốn chữ : "LO- ĐAU - BUỒN - CĂM ".
  Lo là lo cho vận nước trong cơn nguy khốn
  Đau là đau lòng vì thấy bọn tham quan hại dân bán nước
  Buồn là buồn cho dân tình lơ láo , quân ngũ buông tuồng
  Căm là căm tức thái độ hung hăng ngang ngược của giặc Tàu

 Lo , đau , buồn , căm - tình cảm nào cũng tuyệt đỉnh :
 Lo cho đến nổi quên ăn bỏ ngủ
  Đau như có ai cắt từng khúc ruột
 Buồn đến nổi nước mắt đầm đìa
Căm đến nổi muốn lột da xẻ thịt quân thù cho hả dạ

Tất cả những tình cảm ấy nung nấu thành một ý nguyện hy sinh cũng tuyệt đỉnh : Dẫu cho trăm thân phơi ngoài nội cỏ , nghìn xác gói trong da ngựa thì cũng cam lòng !

   Tại sao tình cảm nào cũng tuyệt đỉnh ?
  Lẽ dễ hiểu là không có nỗi nhục nào lớn hơn nỗi nhục quốc thể ( quốc sỉ ) .
Nỗi nhục bị xúc phạm đến thể diện quốc gia là nỗi nhục lớn nhất .
Ai đó xúc phạm đến danh dự thể diện của cá nhân hoặc dòng họ thì cũng đủ làm cho ta thấy nhục rồi . Huống chi ở đây kẻ thù xúc phạm đến cả tông miếu , triều đình  , xả tắc ...thì chỉ có những con người vô cảm vô sỉ mới không thấy nhục !

   Tấm lòng của chủ tướng đã bộc bạch can trường là thế , còn các tỳ tướng thì sao?

 Đây là câu hỏi vô cùng nghiêm khốc khiến người nghe phải giật mình . Bài hịch chuyển sang giọng nghiêm :
" Nay các ngươi nhìn tủi nhục mà không biết lo , trông thấy quốc sỉ mà không biết thẹn , làm tướng triều đình đứng hầu quân giặc mà không biết tức ; nghe nhạc Thái Thường đãi yến ngụy sứ mà không biết căm ! "  khiến cho các tỳ tướng  không thể không soi lại mình .
  Trong khi chủ tướng vừa lo vừa buồn vừa đau vừa căm thì các tỳ tướng lại điềm nhiên bình chân như vại là nghĩa làm sao . Đã thế mà còn đàn đúm hưởng thụ ăn chơi trụy lạc  . Huống chi tấm lòng của chủ tướng đối với quân sĩ như nghĩa anh em như tình cha con :
  Không có áo thì ta cho áo , không có ăn thì ta cho ăn , quan nhỏ thì ta thăng thưởng ,lương ít thì ta tăng cấp ; đi thủy thì ta cho thuyền , đi bộ thì ta cho ngựa ; lúc hoạn nạn thì cùng nhau sống chết , lúc nhàn hạ thì cùng nhau vui cười ..."
    Chủ tướng không nhân danh cấp trên để hạch hỏi  , cũng không  sỉ mắng chì chiết cấp dưới mà ai nấy cũng tự khắc cảm thấy mình mang tội bất hiếu , bất để , bất trung , bất tín , vô liêm ,  vô sỉ . Bất hiếu với tổ tông ,bất để trong tình huynh đệ chi binh , bất trung với vua , bất tín với xã tắc , vô liêm trong cách hành xử và vô sỉ vì không biết xấu hổ .Cảm được như vậy và hiểu ra như thế các tỳ tướng tự nhiên thấy mình có lỗi mà đem lòng thống hối muốn đái công chuộc tội. Sức thuyết phục của bài hịch ở chỗ không dùng lý lẽ quân pháp mà dùng tình cảm để mưu phạt tâm công . Hiệu quả to lớn của bài hịch nhờ vào cái tài bút pháp đã đành nhưng đặc biệt là nhờ cái tâm của chủ tướng . Nhà văn Ngô Tất Tố cho rằng :" bài dụ Chư tỳ tướng hịch văn cho thấy không những Hưng Đạo Vương là võ tướng mà ông còn có tài học vấn , đọc nhiều sách và thông hiểu nhiều điển tích kim cổ " còn sử gia Trần Trọng Kim ghi lại trong Việt Nam sử lược : " Binh sĩ nghe lời hịch nức lòng , lấy mực xăm hai chữ Sát Thát lên cánh tay và hết lòng chiến đấu chống giặc " . Kinh nghiệm chống giặc ngoại xâm phương bắc trong suốt chiều dài lịch sử cho thấy yếu tố tất thắng chính là nhờ khối đoàn kết nội tại trong cả nước . Nhưng để huy động được sự đoàn kết ấy cần có nhà lãnh đạo minh triết .

       Hưng Đạo Vương Trần Quốc Tuấn được quốc tế công nhận là một danh tướng thế giới . Sau khi mất Ngài được nhân dân phong thánh và lập đền thờ ở khắp nơi . Ngài vừa có võ học vừa có văn tài , vừa rành binh pháp vừa giỏi dụng binh . Nhưng cái đáng tôn sùng và nể trọng  là Ngài đã  biết gạt bỏ thù nhà để lo nợ nước ; biết lấy bản thân làm gương cho binh sĩ .  Trung thực và công chính chính là bản chất của Ngài . Ngài được vua ban cho quyền tiền trảm hậu tấu nhưng chưa một lần dùng đến quyền nầy .  Ngài được phong thánh không chỉ vì có công lớn đối với quốc gia xã tắc mà còn là vì  sự kỳ vĩ thập thành trong lập ngôn cũng như lập đức .





Chủ Nhật, ngày 25 tháng 10 năm 2015

CÁI HẠNH CỦA NGƯỜI CẦM BÚT


    Cụ Đồ Chiểu có một câu thơ rất hay -ít nhiều nói lên cái HẠNH của người cầm bút :
         Chở bao nhiêu đạo thuyền không khẳm 
         Đâm mấy thằng gian bút chẳng tà 
Trừ gian diệt ác phải chăng là cái hạnh của người cầm bút . Sứ mệnh của nhà văn , nhà thơ , nhà báo ,...phải chăng là bảo vệ , tôn vinh cái đúng , cái tốt , cái đẹp đồng thời phê phán , chỉ trích , tiêu trừ cái sai , cái ác , cái xấu , ...trong đời sống chính trị xã hội .

    Ba  cột trụ tinh thần của nhân loại là  CHÂN - THIỆN - MỸ  . Cái chân là cái đúng , là  thực tại , chân lý ; cái thiện là đạo đức , luân lý , lòng nhân ái ; cái mỹ là cái vẻ đẹp của thiên nhiên và con người . Đứa bé cắp sách đến trường tức là lên đường đi tìm chân , thiện , mỹ . Nhà trường sẽ dạy trí dục , đức dục và mỹ học . Rồi khi lớn lên một số ít người có năng khiếu thiên bẩm văn chương , chữ nghĩa ...sẽ gia nhập vào nghề cầm bút - không biết chắc là họ đã chọn nghề hay nghề đã chọn họ .Nghề gắn liền với nghiệp , nghề tạo ra nghiệp và nghiệp dẫn dắt nghề trải qua những dằn xôc của số phận . Nghề nào cũng có cái đạo , cái hạnh của nó . Riêng cái nghề cầm bút thì lắm bi kịch . Thứ nhất là giàu tinh thần , giàu chữ nghĩa nhưng nghèo tiền bạc ; thứ hai là vinh nhục khó lường ; thứ ba là khó giữ được toàn thân  ( có khi còn phải vào tù ra khám ). Viên Mai đời nhà Thanh - Trung Hoa đã nói lên bi kịch của nghề cầm bút :
     Mỗi phạn bất vong duy trúc bạch 
     Lập thân tối dĩ hạ văn chương 
( Mỗi bữa không quên ghi sử sách 
 lập thân tệ nhất ấy văn chương )
 Trong ba cái lập : lập ngôn , lập đức , lập công thì lập ngôn tiềm ẩn nhiều rủi ro nhất nhưng lại có tính quyết định nhất . Chính vì vậy mà lập thân bằng con đường ghi chép sử sách , sáng tác văn chương , ...là con đường đầy chông gai , dằn xốc ( tệ nhất ) . Thế mà lạ thay : tới bữa có thể quên ăn , tới giấc có thể quên ngủ , nhưng dứt khoát không thể xao lãng việc trước tác , ghi chép , ...Vinh quang và cảm khái đối với người cầm bút là ở chỗ đó . Đúng là kiếp tơ tằm !
  Tôn trong sự thật lịch sử là cái hạnh của sử gia
  Lịch sử của một dân tộc là ngọn hải đăng , định hướng phát triển của dân tộc đó . Viết sử mà bóp méo sự thật lịch sử là có tội với dân tộc . Quy luật của lịch sử có những nếp gấp ( lặp lại ) mà hậu thế phải biết để rút kinh nghiệm . Dòng họ Tư Mã Thiên nhiều đời làm sử quan bị triều đình ám hại vì không theo ý vua . Đến đời Tư Mã Thiên ẩn nhẫn chấp nhận làm hoạn quan để được sống sót hầu thực hiện sĩ khí của ông cha . Cuốn sử ký Tư Mã Thiên và giá trị của nó có được là nhờ đức tính ẩn nhẫn phi thường của người viết sử .

   Thời nào và ở đâu cũng có những nhà văn , nhà báo kiên trì , ẩn nhẫn trong đấu tranh bảo vệ chân lý . Emil Zole , nhà văn Pháp công khai viết kháng nghị , viết báo để minh oan cho sĩ quan gốc Do Thái . Sau khi ông mất , thủ tướng Pháp - cũng là nhà báo -gọi kháng nghị của ông là TUYÊN NGÔN CỦA TRÍ THỨC ( manifeste des in tellectuel )

  Ở Việt nam , sau cái chết mờ ám của em Đổ Đăng Dư ở Hà Nội , mười mấy luật sư ký tên vào tờ trình báo gởi lên bộ công an đề nghị điều tra xem xét . Sự đoàn kết chung tay góp phần hạn chế những án oan sai bảo vệ dân lành . Ở các nước dân chủ , nhà báo , luật sư có quyền tham gia phá án . Nhà báo , luật sư nếu không được hành nghề , tác nghiệp một cách độc lập thì khó có tự do , công bằng xã hội .
Vừa qua ,giải Nobel văn chương 2015 trao cho Svetlana Alexievich, một nhà báo viết sử bằng cảm xúc của nhà văn . Bà đã đem tâm tình viết lịch sử chiến tranh đổ nát và những số phận con người trong chế độ Xô- Viết  cũ . Viện hàn lâm Thụỵ Điển đã tôn vinh bà như " một tượng đài ẩn nhẫn và quả cảm trong thời đại của chúng ta ". Từ nhiều năm nay bà đã rời bỏ quê hương đất nước Bélarus sang định cư ở Tây Âu vì không chịu nổi chế độ độc tài ở Bélarus.
Năm 2009 , Herta Muller , nữ văn sĩ người Đức cũng nhận giải văn chương Nobel cũng do được tôn vinh đức tính ẩn nhẫn , kiên định với văn chương và thái độ tố cáo tội ác của chế độ độc tài

  Churchill, một nhà quân sự , một chính khách  cũng là thủ tướng nước Anh - là một thủ tướng duy nhất được nhận giải Nobel - là công dân danh dự của Hoa Kỳ -đồng thời cũng từng là một nhà báo với câu nói nổi tiếng : " Một dân tộc tìm cách tránh chiến tranh bằng cái giá của sự nhục nhã thì sẽ nhận lấy cả sự nhục nhã và chiến tranh " Nghề cầm bút tuy có lắm nhọc nhằn , nhiều rủi ro song cũng rất vinh quang khi có được những tác phẩm lớn , những bài viết tốt , những phóng sự phản ảnh trung thực ...Người cầm bút phải thường xuyên luyện văn , mài bút , chắt lọc ngôn từ . 
 Thánh thơ Đỗ Phủ rất quan tâm đến việc dùng từ .
Đối với Đỗ Phủ : " Một chữ mà không lay động được lòng người thì chết không yên giấc " (Ngữ bất kinh nhân , tử bất an ). Nhưng muốn lay động lòng người thì người nghệ sĩ phải có trái tim lớn . Trái tim yêu thương , lòng nhân ái ,... là động cơ mà cũng là nguyên liệu để chế tác ra tuyệt phẩm . Đó cũng là nguyên động lực cho những nhà khoa học trong quá trình phát minh , phát kiến . Bất cứ sáng kiến nào cũng xuất phát từ con tim mới dâng lên khối óc . Nguyễn Du viết nên tuyệt tác Truyện Kiều khởi đi từ "những điều trông thấy mà đau đớn lòng "
 Đặng Trần Côn xót thương nỗi lòng cô phụ có chồng đi chiến trận mà viết " Chinh Phụ Ngâm " 
Ôn Như Hầu vì "kiếp phù sinh trông thấy mà đau " nên mới chia sẻ nỗi bất hạnh của những nàng cung nữ trong cung cấm bằng "Cung oán ngâm khúc "

   Cái hạnh của người cầm bút là dám nói thẳng , nó thật ; yêu sự thật , ghét gian trá ; thẳng thắn , trung thực , ghét a dua nịnh bợ . Nói như cụ  Đồ Chiểu " Ghét kẻ nịnh như nhà nông ghét cỏ "


  Tóm lại , cái hạnh của người cầm bút là thánh hóa cuộc đời bằng cách xiển dương những giá trị chân lý , đạo đức , thẩm mỹ . Văn dĩ tải đạo là tôn chỉ của các cụ đồ xưa . Nhờ vậy mà truyện Kiều của cụ Nguyễn Du , truyện  Lục Vân Tiên của cụ Nguyễn Đình Chiểu là những tác phẩm văn chương có giá trị bất hủ được lưu gữ trong tâm hồn của nhiều thế hệ . Cũng là những cuốn tiểu thuyết đầu tiên viết bằng chữ quốc ngữ mà Tố Tâm của Hoàng Ngọc Phách đã đi vào quên lãng ; còn những tác phẩm của cụ Hồ Biểu Chánh thì chẳng những được truyền đọc mà  còn được  chuyển thể thành phim và được nồng nhiệt đón nhận .
 Trong một xã hội băng hoại về đạo đức , điên chữ , loạn nghĩa ,...thì sứ mệnh thiêng liêng của người cầm bút càng phải được đề cao hơn bao giờ hết .