Thứ Năm, ngày 16 tháng 6 năm 2016

" LÀM TỪ THIỆN ĐỂ LÀM GÌ ?! "

                               " Từ đây người biết thương người ..." 
    Đó là niềm hân hoan và khát vọng của nhạc sĩ Văn Cao trong " Mùa xuân đầu tiên " sáng tác vào sau năm 1975 . Bốn mươi năm sau không chỉ trong Nam mà ngoài Bắc rộ lên phong trào làm từ thiện vì ngày càng có nhiều mảnh đời cơ nhở , cơ hàn . Nhưng những tấm lòng trắc ẩn , những nghĩa cử cứu giúp người nghèo khó nay bị đem ra phanh phui , mổ xẻ , ...bằng những câu hỏi lạnh lùng khắc bạc " Để làm gì ..., để làm gì ..., để làm gì ...? " Phong trào làm từ thiện rồi đây có nguy cơ bị bức tử . Người dù có " biết thương người " cũng đành bó tay thúc thủ . Do ai và vì sao ra nông nỗi nầy ? Vì sao người ta phải huy động nhiều thành phần tham gia chất vấn   chỉ để đánh sập một tấm lòng .

    Chương trình " 60 phút mở " bề ngoài có dáng vẻ như một cuộc hội thảo cởi mở bình đẳng giữa các thành phần tham gia nhưng thực chất bên trong được dàn dựng theo một kịch bản nhằm điều hướng dư luận theo ý của người biên tập . " 60 phút mở"  lần nầy bàn về chủ đề : " Làm từ thiện vì ai " . Duyên do thành lập chủ đề nầy có lẽ xuất phát  từ sự thất bại lớn của một chuyến đi từ thiện lớn ở vùng cao vào giáp tết Bính Thân . Vào thời điểm nầy nhóm từ thiện " Xây dựng trường vùng cao " tổ chức một chuyến đi từ thiện với chủ điểm " Tết ấm biên cương "   ở Mường Lạng ( sát biên giới Lào ) . Nhóm định tổ chức một bửa tiệc tất niên cho 3600 em bé vùng cao được ăn bánh chưng đươc5 mặc áo ấm . Một chiếc xe chở 3600 chiếc bánh chưng , 3600 cây  giò và 25 tấn quần áo chạy suốt 15 tiếng đồng hồ ! Xe chạy gần tới địa điểm Mường Lạng thì bị lực lượng biên phòng chận lại . Ông trưởng đồn từ chối nhận quà và không cho tổ chức tiệc tất niên . Thế là nhóm từ thiện chỉ còn biết khóc !

  Bà Tạ Bích Loan người chủ trì chương trình mời 2 anh trong nhóm từ thiện nói trên đến để trao đổi ,thực chất là để truy vấn . Hai người đó một người có tên Nguyễn hoài Anh , một người có tên là Nguyễn Như Quỳnh ( trưởng đòan ) . Ngoài ra khách mời có tiến sĩ Đặng Hoàng Giang và ca sĩ Thái Thùy Linh . Mở đầu chương trình bà Tạ mời 2 anh tường thuật lại chuyến đi từ thiện hôm giáp tết ở vùng cao . Khi thuật đến sự kiện bị ngăn cản bà hỏi cảm giác các anh khi đó thế nào . Anh Hoài Anh trả lời " chỉ biết khóc " . Ông tiến sĩ lên giọng an ủi : " Giờ này không nên ngồi mà than vãn chuyện đã xảy ra mà hãy rút kinh nghiệm " , Còn bà Tạ tuyên bố trọng tâm của chương trình : " Đây là câu hỏi rất là chủ yếu của ngày hôm nay , tôi muốn hỏi các bạn làm từ thiện là vì ai ? và để làm gì ? " Câu " để làm gì" được vặn đi vặn lại ba lần .
   Khán giả xem truyền hình thấy cử chỉ gần như trấn áp và những câu hỏi dồn dập của chủ tọa , nhiều người lấy làm khó chịu . Người xem có cảm giác đây là một cuộc hỏi cung . Sau câu trả lời của 2 anh , bà Tạ phán một câu quyết đoán : " Các bạn có nghĩ là làm từ thiện không có lợi mà còn dễ gây hại không ?" Nói theo ngôn ngữ của giáo sư Ngô Bảo Châu thì người hỏi câu nầy " hoặc là thần kinh , hoặc là khốn nạn " . Hoạt động từ thiện thuộc loại hoạt động phi lợi nhuận ( ngoại trừ một số làm kinh doanh từ thiện ) . Có ai sẵn lòng từ tâm đi cứu giúp người khốn khổ mà lại tính toán lợi hại ? . Câu hỏi làm từ thiện là vì ai là câu hỏi thừa mà người hỏi đủ thông minh để biết là thừa nhưng vẫn cứ hòi để lèo lái câu chuyện sang một hướng có dụng ý . Tất nhiên đi làm từ thiện là vì những người cần được giúp đỡ chứ vì ai nữa . Còn làm từ thiện vì mình thì cũng không sai : làm việc nhân nghia để tích đức , lưu phước thì cũng tốt chứ sao . Nhưng vấn đế là câu hỏi " vì ai " , để làm gì "

   Người xem chương trình còn khó chịu hơn nữa khi ông tiến sĩ Đặng Hoàng Giang phô diễn : " Việc làm từ thiện với một quy mô lớn như vừa rồi xuất phát từ TƯ DUY CHỨNG TỎ ( ? ) . Ông nói thêm : " làm đại tiệc hoành tráng , 3600 chiếc bánh chưng ...chứng tỏ như chưa có ai làm được vậy - kiểu như chiếc bánh tét dâng vua Hùng ..." Thật ngớ ngẩn , thật dốt nát ! . Mỗi em bé chỉ nhận một chiếc bánh chưng , ..thì có gì là hoành tráng . ( Hoành tráng chăng có lẽ là con số 3600 bé đang chịu cảnh cơ hàn ;  hay hoành tráng như chiếc bánh  , tô hủ tíu khổng lồ dâng vua Hùng mà không ai ăn được !) . Không biết ông tiến sĩ xuất thân từ đại học nào mà ăn nói hồ đồ như thế .
  Bà Tạ XƯỚNG ra vấn đề "gây hại " thì ông Đặng HỌA : " Làm từ thiện đã không có lợi mà gây ra 2 cái hại : một là các em bé vùng cao mặc áo có  " design"nước ngoài sẽ làm mất bản sắc văn hóa ; hai là gây ra tâm lý ỷ lại , trông chờ của người nhận " . Ông tiến sĩ nầy hiểu thế nào là bản sắc văn hoá?. Nếu y phục làm nên bản sắc văn hóa thì dân tộc Kinh mặc đồ Tây chắc là mất bản sắc văn hóa từ lâu rồi ! Cứu đói cứu lạnh như cứu hỏa mang tính cấp thời . Một em bé vùng cao trùng trục chịu rét dưới cái lạnh 0 độ mà chờ có được cái áo thổ cẩm chắc không còn kịp !Còn cái từ thiết kế sao ông tiến sĩ " bảo tồn bản sắc văn hóa " không dùng mà lại phải dùng tiếng design của nước ngoài ?   Vậy là chính ông ta đang làm mất bản sắc văn hóa Việt ! Còn chuyện ông ta lo sợ người nghèo có tâm thế ỷ lại , trông chờ từ thiện là không đáng . Giúp đỡ người qua cơn khốn khó là "giúp ngặt " chứ không thể " giúp nghèo " . Giúp nghèo đã có an sinh xã hội của nhà nước lo , người làm từ thiện không nhất thiết phải có trách nhiệm với cái nghèo thường trực của người nghèo . Bà Tạ rất vô lý khi nói những người nghèo không cần bánh chưng không cần quần áo mà chỉ cần việc làm , ...Việc làm , sinh kế của người dân là trách nhiệm của bộ Lao Động & Thương Binh xã hội . Trong khi người nghèo đói bị thất nghiệp chưa có cần câu cơm thì trước mắt nên cho cơm để họ sống đã !Còn ông tiến sĩ thì hăm dọa : " Bất cứ hành vi nào khi tác động vào xã hội cũng có hiệu ứng phụ . Làm từ thiện phải là từ thiện đúng , cứ sướng lên mà cho thì khi xảy ra hậu quả tai hại nhà nước phát hiện thì nguy " .Thật không thể tưởng tượng nổi một ông mang danh tiến sĩ mà phát ngôn cẩu thả như vậy ! " Sương lên mà cho " là thế nào ?! Cho , xuất phát từ lóng thương yêu lo lắng chứ không ai nói " sướng " bao giờ .  Nói đến CHO người ta nghĩ đến 5 loại sau đây :
- Ta cho những gì ta có
- Ta không có mà ta vẫn tìm cách để cho ( quyên góp )
- Ta có khi ta cho ( có niềm vui vì làm xong nghĩa cử đẹp )
- Ta có mà ta không biết cho
- Ta không cho mà ta còn dèm xiểm người đi cho

  Theo ông tiến sĩ Đặng Hoàng Giang thì khái niệm từ thiện đúng  là phải hướng dẫn người nghèo cách quản lý tài chánh ( ? ! ) , là tạo chất xám cho người nghèo ! Nói như ông Giang chẳng khác nào đem tranh tặng người khiếm thị , đem dĩa nhạc tặng người khiếm thính !. Chốt lại chương trình " 60 phút mở " bà Tạ quay sang hỏi tiến sĩ : " Vậy là chúng ta có nên đem bánh chưng , quần áo lên vùng cao nữa không ? "  Ông tiến sĩ trả lời dứt khoát : "Tôi thì tôi không làm như vậy " 

    Tóm lại , những nghi vấn về việc làm từ thiện như " vì ai " , " để làm gì " lẽ ra không nên đặt ra . Thấy đói thì cho ăn , thấy rét thì cho mặc , thấy cháy thì chửa lửa , ...đó là tính thiện tự nhiên của con người ,hà tất phải hỏi ! Sở dĩ nhà đài , nhà báo , nhà lý luận cố tình đặt ra những câu hỏi như thế để cố nhào nặn ra cho được câu trả lời : "Làm từ thiện là vì mình , làm lợi cho mình mà làm hại cho người được giúp đỡ " . Đó là một thứ tư duy tư lương , tính toán lợi hại thiệt hơn đã ăn sâu vào não trạng thực dụng tèrre à tèrre ! Tư duy như vậy sẽ làm mất đi cái bản sắc Việt về lòng tương thân tương ái tương tế tương trợ mà người  xưa đã đúc kết trong câu ca dao " Miếng khi đói bằng gói khi no , Của tuy tơ tóc nghĩa so nghìn trùng ". Hành vi từ thiện còn được gọi là nghĩa  cử xuất phát từ cái bụng , cái tâm , tấm lòng chứ không xuất phát từ cái đầu kê tính . Cái tâm đó nhà Phật gọi là Bồ Đề tâm . Phật dạy : " Đánh mất Bồ đề tâm đi làm việc thiện là hành vi của ma " ( vong thất Bồ Đề tâm hành chư thiện pháp thị danh ma nghiệp - Kinh Hoa Nghiêm ) . Bồ Đề tâm là tâm bình đẳng , tâm không phân biệt kẻ cho người nhận , không có gì để cầu , cũng không có gì để được . Những người lợi dụng từ thiện để làm nghề kinh doanh chính là ma nghiệp sẽ bị quả báo khôn lường !

   

Thứ Tư, ngày 08 tháng 6 năm 2016

KHÚC HẬU ĐÌNH HOA VÀ BÀI THƠ BẠC TẦN HOÀI

                                Thương nữ bất tri vong quốc hận 
                                Cách giang do xướng Hậu đình hoa 

Hai câu cuối của bài thơ " Bạc Tần Hoài "(  Tần Hoài Dạ Bạc ) đã từng gây hoang mang tranh cải cho hậu thế . " Không biết mối hận mất nước " thì đã rõ , nhưng khúc " Hậu Đình Hoa " là khúc gì mà ghê gớm lắm vậy ?  Xin thưa là vì bài ca nầy có liên quan đến việc mất nước , đến người sáng tác ra nó , đến thân phận ca nhi , đào hát , đến thái độ của thi hào Đỗ Mục  trong bài " Bạc Tần Hoài" và dư chấn của bài thơ .
 Có thể tóm lược xuất xứ của bài thơ nầy như sau : Hậu Đình Hoa là một trong ba tập thơ do Trần Thúc Bảo  thường được biết đến trong sử sách là Trần Hậu Chủ đời hậu Trần , thời Nam Bắc triều ( 420- 587) bên Tàu  - tập hợp các bài thơ sáng tác trong các buổi tiệc tùng , vui chơi giải trí cùng các quan học sĩ. Khúc " Hậu Đình Hoa " được phổ nhạc từ một bài thơ hay nhất trong tập thơ củng tên . Bài thơ có nội dung ca ngợi vẻ đẹp của Trương Lệ Hoa - người được Trần Hậu Chủ đặc biệt sủng ái . Bài hát có những ca từ tình tứ , du dương nhất .Trong các cuộc dạ tiệc thâu đêm , các ca nương , đào hát rất thích hát bài nầy .
 Trần Hậu Chủ (583- 587 ) là một vị vua cuối cùng của họ Trần - là một ông vua nổi tiếng phong tình , ham mê thi ca , nhạc tửu , nhất là gái đẹp . Ông bị mất nước trong một cơn say khước : Say rượu , say thơ , say nhạc , say tình bên cạnh người đẹp Trương Lệ Hoa đang hát khúc Hậu đình hoa. Rồi từ đó cái tên Trần Hậu Chủ gắn liền với tên Hậu đình hoa - trở thành điển tích của vết nhơ vong quốc .
    Mãi đến 200 năm sau , những ca nhi vẫn còn mê hát khúc hát nầy trong các cuộc vui chơi trác táng , yến tiệc linh đình . Dù trong hoàn cảnh nước mất nhà tan , các thương nữ vẫn bình nhiên hát khúc nhục ca nầy . Thi hào Đỗ Mục ( 803 - 852 ) một đêm đổ bến Tấn Hoài gần kề quán rượu bỗng nghe vẳng lại từ bên sông tiếng hát của một thương nữ đang hát khúc ca Hậu đình . Đỗ Mục đọng mối cảm hoài sáng tác bài thơ BẠC TẦN HOÀI  ( Tần Hoài Dạ Bạc ) .
                             Yên lung hàn thủy nguyệt lung sa 
                              Dạ bạc Tần Hoài cận tửu gia 
                              Thương nữ bất tri vong quốc hận 
                              Cách giang do xướng Hậu đình hoa 

    Dịch xuôi :   Khói lan tỏa trên mặt nước lạnh , ánh trăng lan tỏa trên cát . Đêm đến đậu thuyền trên bến sông Tần Hoài gần quán rượu . Ca nhi không biết mối hận mất nước . Ở bên kia sông còn hát khúc Hậu đình hoa .
 
    Trong thể thơ thất ngôn tứ tuyệt , thường câu thơ cuối chứa đựng nội dung biểu đạt mà tác giả muốn gởi gắm tâm tình của minh vào bài thơ . Về sau bài thơ nầy được nhiều người dịch ra thơ , mỗi người dịch đều trung thành với nguyên tác song thái độ đối với nhân vật "thương nữ " thì mỗi người mỗi khác . Có người vừa trách móc vừa thương hại , có người vừa trách móc vừa khinh miệt .

                    Nhóm thứ nhất gồm có những dịch giả sau đây :

     - Lâm Trung Phú : Cô gái vô tình quên mất nước 
                                     Hậu đình hoa hát vọng sang sông 

   - Trần Trọng San : Cô gái không hay buồn mất nước 
                                  Bên sông còn hát Hậu đình hoa 


   - Nguyễn Hàm Ninh : Thương nữ biết chi sầu mất nước 
                                       Cách sông hát khúc Hậu Đình hoa 

   - Khương Hữu Dụng :Cô gái biết chi hờn mất nước 
                                       Cách sông còn hát Hậu đình hoa 


 Nhóm trên có người để nguyên từ " thương nữ " có người dịch là " cô gái " . Điều đó chứng tỏ có sự nhẹ tay , châm chước và cảm thông . Thật ra thương nữ có nghĩa là con hát , đào hát .
           
       Nhóm thứ hai gồm có những dịch giả sau đây :
       - Mộng Sơn :   Gái đêm quen sóng khuynh thành 
                                Bên sông hát khúc Hậu đình hoa chơi 
       - Hoàng Giáp Tôn  : Gái còn hát Hậu đình hoa 
                                        Hờn mất nước chẳng xót  xa trong lòng 
      - Phó Minh Tâm : Cô ả biết đâu hờn mất nước
                                   Trên sông còn hát khúc Đình hoa 

Nhóm dịch giả trên dịch Thương nữ ra Gái đêm , Gái , Cô ả , thể hiện thái độ coi khinh người ca nữ . Nhất là Mộng Sơn dùng từ Gái đêm hơi nặng tay .
  Dù dịch kiểu gì hay là diễn theo cách nào thì cô gái hát khúc nhục ca vong quốc giũa hoàn cảnh nước nhà nghiêng ngã vẫn bị chê trách . Do đâu và vì sao cô gái phải chịu nỗi hàm oan nầy ? Phải chăng đây là định nghiệp của kiếp cầm ca . Vì nghệ thuật và vì kế mưu sinh - phải làm đẹp lòng khách mua vui . Chẳng qua là vì khúc hát đã biến thành vết nhơ của Trần Hậu Chủ . Trần Hậu Chủ vì ham tửu sắc , thi ca để xảy ra mất nước , bị người đời sau nguyền rủa . Trách hôn quân sao không trách nịnh thần - đám học sĩ bao quanh ông ta . Giữa lúc đất nước ngã nghiêng , dân tình điêu đứng , đám học sĩ không dùng tài học của mình để can gián vua mà lại bẻ cong ngòi bút , làm thơ xướng họa , vịnh nguyệt thưởng hoa hầu hưởng chút hương thừa rượu cặn . Thời nào cũng vậy , ngụy trí thức tuy có học hàm học vị nhưng cam chịu kiếp sống vong thân , làm con rối cho quân quyền giựt dây .

   " Quốc gia hưng vong , thất phu hữu trách " câu nói của người xưa vẫn còn tươi nguyên giá trị . Sự hưng thịnh hay tiêu vong của nước nhà thì kẻ thất học cũng phải có trách nhiệm huống chi người có học . Yêu nước là trách nhiệm của mỗi công dân . Không ai được quyền thoái thác trách nhiệm nầy cho người khác và cũng không ai được độc quyền yêu nước . Yêu nước không nhất thiết là phải cầm súng . Mỗi người thể hiện quyền yêu nước theo cách của họ và tùy vào khả năng điều kiện có thể . Thái độ trút hết trách nhiệm cho cô thương nữ là không công bằng .
   Bài thơ Bạc Tần Hoài cách chúng ta hơn một ngàn năm mà chừng như cái sầu mất nước vẫn còn âm ỉ : Mất biển đảo , mất những vị trí chiến lược trên đất liền , mất nguồn nước sông Mê- Kông , mất ngư trường đánh cá , mất nguồn hải sản , mất an toàn thực phẩm chẳng ngang bằng mất nước ư ?

    Hai câu thơ cuối trong bài thơ của Đỗ Mục như một lời chê trách , lời cảnh báo những ai quay lưng lại với mệnh nước ; những ai bằng lòng với những lợi quyền nhỏ mhoi , bình an giả tạm để đắm mình trong những trò vui chơi giải trí . Bộ máy công quyền nắm vai trò định hướng thông tin đại chúng , bám sát các hoạt động giải trí tuyên truyền . Do vậy người dân chỉ có thể nói một chiều , nghĩ một hướng , làm một kiểu ,...Thậm chí một MC chỉ chia sẻ lại hình ảnh cá chết từ một kênh truyền hình cũng bị đem ra đấu tố , hạch hỏi ...


      Những ai còn có lương tri , lương thức , còn băn khoăn đến vận nước , đến dân tộc , tổ quốc đều bị nhóm lợi quyền quy kết là có ý đồ lật đổ chính quyền .Biết hận mất nước là một chuyện , nhưng làm thế nào để cứu nguy dân tộc lại là điều không dễ !

Thứ Sáu, ngày 20 tháng 5 năm 2016

TRIẾT LÝ NHÂN NGHĨA TRONG BÌNH NGÔ ĐẠI CÁO

         
 

           " Bình Ngô đại cáo "là bản hùng văn tuyên cáo cho toàn dân được biết cuộc kháng chiến 10 năm đánh đuổi quân Ngô ra khỏi nước hoàn toàn thắng lợi . Nguyễn Trãi chấp bút viết thay Bình Định Vương Lê Lợi nên có câu mở đầu : " Thay trời hành hóa Hoàng thượng tuyên rằng : .." Bài cáo ra đời cách chúng ta hơn 600 năm mà tính thời sự của nó như vẫn còn nóng hổi  , sống động . Đó là nhờ cách lập luận của tác giả dựa vào CHÂN LÝ XÁC TÍN của lịch sử .Ở đây là Việt sử - mà sử Việt là đấu tranh sử . Qua khảo sát lịch sử , ôn cố tri tân , tức cổ nghiệm kim ( xét xưa nghiệm nay )  tác giả đã đưa ra những luận điểm , luận cứ , luận chứng hùng hồn , xác thực và giàu sức thuyết phục . Triết lý nhân nghĩa vừa là tư tưởng xuyên suốt , vừa là phương châm hành động của nghĩa quân Lam Sơn .

     Mở đấu bài cáo , tác giả nêu cao ngọn cờ chính nghĩa :
  "  Việc nhân nghĩa cốt ở an dân 
      Quân điếu phạt trước lo trừ bạo "

Hai chữ nhân và nghĩa trong hệ tư tưởng Khổng Mạnh có ý nghĩa chung chung :  Nhân là mối quan hệ giữa con người với con người ; Nghĩa là mối quan hệ giữa cá nhân và cộng đồng .  Trong cấu tự chữ Hán , chữ Nhân  ( )   gồm có bộ Nhân đứng và chữ Nhị . Còn chữ Nghĩa (  ) được cấu tạo từ chữ Dương với chữ Ngã  . Do ý nghĩa chung chung ấy mà nhiều triều đại phong kiến phương Bắc lợi dụng chiêu bài  nhân nghĩa để thôn tính nước ta . Chẳng hạn như chuyện Tôn Sĩ Nghị sang nước ta với chiêu bài nhân nghĩa là phù Lê diệt Trịnh  . Nếu Lê Lợi có công giành lại độc lập tự chủ cho nước nhà thì Lê chiêu Thống là tội đồ rước voi dày mã tổ , cõng rắn cắn gà nhà . Mỗi khi triều đại An Nam bị suy thoái là lúc giặc phương Bắc lợi dụng thời cơ để tiến hành chiến tranh xâm lược . Lần nầy , nhà Trần suy thoái , Hồ Quý Ly khuynh loát triều đình , giết gần bốn trăm người họ Trần để tiếm ngôi . Đây là một cái cớ để nhà Minh mượn tiếng là điếu phạt ( điếu dân , phạt tội ) hầu cướp nước ta một lần nữa .

    Nhân họ Hồ chính sự phiền hà 
  Để trong nước lòng dân oán hận 
Quân Cuồng Minh thừa cơ gây họa 
Bọn gian tà bán nước cầu vinh 

  Trong thư trả lời Phương Chính  - tướng của giặc Minh - Nguyễn Trãi lật mặt dã tâm của nhà Minh : " Nước mày nhân dịp họ Hồ lỗi đạo . mượn tiếng là " điếu dân phạt tội " kỳ thực làm việc bạo tàn , lén cướp đất nước ta , bóc lột nhân dân ta , thuế nặng , hình nhiều , vơ vét của quý , dân mọn các làng không được sống yên . Nhân nghĩa mà lại thế ư ? " . Nguyễn Trãi đã xé toang bức màn dối trá ; đâm thủng bức màn khói hư ảo lập lòe đánh lận con đen - kiểu quan hệ hữu hão giả tạo như ngày nay .

     Nguyễn Trãi đã bạch hóa vấn đề nhân nghĩa đầu môi bằng một câu khẳng định đầy quyết đoán   "Việc nhân nghĩa cốt ở an dân " . Muốn an dân phải lo trừ bạo . Không yêu dân , không lo cho sự an nguy của dân thì sao gọi là nhân nghĩa ? !
 
      Nhà Minh đem quân điếu phạt như một chiêu bài nhân nghĩa để lừa mị dân ta :
  " Dối trời lừa dân đủ muôn nghìn kế 
  Gây binh kết oán trải hai mươi năm 
 Bạt nhân nghĩa nát cả đất trời 
Nặng thuế khóa sạch không đầm núi !

  Chúng không những bắt nhân dân ta xuống biển " còng lưng mò ngọc ", lên núi " đãi cát tìm vàng " mà còn tàn hại môi sinh , tuyệt kế sinh nhai: " bẩy hưu đen ", "bắt chim trả " ," tàn hại cả giống côn trùng cây cỏ "., phá nát cân bằng sinh thái , tuyệt đường sống của dân ta .
   Còn bọn bán nước và bè lũ cướp nước thì :
   Thằng há miệng , đứa nhe răng , máu mỡ bấy no nê chưa chán 
   Nay xây nhà , mai đắp đất , chân tay nào phục vụ cho vừa 

    Sự tham lam độc ác của chúng " trúc Nam Sơn không ghi hết tội , nước Đông Hải không rửa sạch mùi " 
   Não trạng bá quyền của các vua phong kiến phương Bắc cho đến tận bây giờ vẫn thế , nghĩa là luôn luôn cho rằng nước Nam là của Tàu - cũng như Hoàng Sa , Trường Sa là của tổ tiên chúng để lại . Nguyễn Trãi bác bỏ luận điệu đó bằng lịch sử đấu tranh của người Việt . Không có chân lý nào xác tín hơn chân lý lịch sử . Tác giả bài cáo đã khẳng định một cách đanh thép rằng chủ quyền của dân tộc Việt đã từng tồn tại qua chiều dài lịch sử . Nam triều không những tồn tại mà  còn vững vàng - ngang ngữa với Bắc triều .
   Như nước Việt ta từ trước 
Vốn xưng nền văn hiến đã lâu
Núi sông bờ cõi đã chia 
Phong tục Bắc , Nam cũng khác 
Từ Triệu , Đinh , Lý , Trần xây nền độc lập 
Cùng Hán, Đường , Tống , Nguyên hùng cứ một phương 
Tuy mạnh yếu có lúc khác nhau 
Song hào kiệt thời nào cũng có 

   Nếu Lý Thường Kiệt tuyên bố chủ quyền dựa vào sách trời phân định rõ ràng giữa Bắc Quốc và Nam Quốc , giữa Bắc Đế và Nam Đế thì Nguyễn Trãi dựa vào văn hiến là cốt lõi của vấn đề . Nếu kể cả thời tiền sử thì dân Việt ta có đến năm nghìn năm văn hiến . Văn là vẻ đẹp của văn chương học thuật ...nói chung là văn hóa . Còn Hiến là chủ thể của văn hóa vừa tạo ra vừa bảo tồn văn hóa . Đó là nguồn nguyên khí hiền tài bất tận . Chính vì hào kiệt thời nào cũng có nên nền văn hiến trường tồn bất diệt . Phong tục tập quán cũng góp phần làm nên bản sắc của dân tộc Việt . Chính cái nền văn hiến lâu đời đó mà bao nhiêu lần bị Bắc thuộc dân ta cũng không bị Hán tộc đồng hóa . Trái lại , có khi người Hán còn bị Việt hóa : Hoa kiều ở Việt Nam đã nhập quốc tịch Việt , lấy vợ Việt , theo phong tục Việt , góp phần phát triển đất nước . Điển hình như Mạc Cửu ở Hà Tiên , người Minh Hương ở Hội An , Chợ Lớn ,..Sự tồn tại chủ quyền của dân tộc Việt sóng đôi với sự tồn tại của phương Bắc : Phương Bắc có Hán , Đường , Tống , Nguyên thì phương Nam ta có Triệu , Đinh , Lý , Trần . Đó là sự tồn tại ngang hàng bình đẳng giữa các quốc gia dù lớn dù nhỏ . Não trạng bá quyền nước lớn đã ăn sâu vào tâm não của các nhà cầm quyền Trung quốc , xem các nước lân bang là chư hầu ; xem vua của chư hầu là cống thần có nhiệm vụ triều cống cho thiên tử .

      Quốc hiệu Đại Việt có từ thời vua Lý Thánh Tông . Theo nhận định của nhà bác học Hoàng Xuân Hãn : " Lý Thánh Tông là vua ta đầu tiên có óc lập ra một đế quốc có danh hiệu ngang với một nước thiên tử , đặt quốc hiệu là Đại Việt ..." . Từ đó mở ra một kỷ nguyên mới với tinh thần dân chủ rộng mở , dung nạp được cả Nho , Phật , Lão . Chất Đại Việt được nhà Trần bảo lưu , kế thừa . Nguyễn Trãi là cháu ngoại của nhà Trần .Ngay từ nhỏ , Nguyễn Trãi đã được hấp thụ , di dưỡng chất Đại Việt . Chất Đại Việt ấy được đâm hoa kết trái vào đầu nhà Lê .
   Thắng lợi của cuộc kháng chiến mười năm đuổi giặc Minh là nhờ vào tinh thần đoàn kết nội tại trong dân chúng .Truyền thống đấu tranh chống ngoại xâm từ xưa tới nay nhờ vào lòng dân , ý dân ,rồi tạo ra  sức dân . Một khi sức dân đủ mạnh nó " kết thành một làn sóng vô cùng to lớn có thể nhấn chìm cả bè lũ bán nước và cướp nước "  ( Hồ Chí Minh ) 

        Nguyễn Trãi viết cáo bình Ngô theo tinh thần túc cổ nghiệm kim . Vì vậy ngày nay con dân Việt nên đọc bài cáo cũng trên tinh thần ấy . Bởi không có chân lý nào xác tín hơn chân lý lịch sử . Lịch sử chứng minh chủ quyền của nước ta đã phải trả giá bằng xương máu của bao cuộc chiến tranh vệ quốc chống ngoại xâm phương Bắc . Quan hệ Việt Trung muôn đời chỉ là hữu hảo giả tạo . Bài cáo mở đầu bằng cách đề cao nhân nghĩa , mà nhân nghĩa là làm cho dân được an cư lạc nghiệp , bảo đảm an sinh xã hội , Muốn được như vậy trước hết phải trừ gian diệt bạo , phải "làm sao trong thôn cùng xóm vắng không một tiếng oán sầu " .
   Mở đầu bài cáo là   " việc nhân nghĩa cốt ở an dân " và kết thúc bài cáo là "nền thái bình muôn thuở " !

Chủ Nhật, ngày 08 tháng 5 năm 2016

Lan man suy nghĩ về cái nghề " giải trí"

     
      Vào thời hậu Lê độc tôn Nho giáo quan niệm những người xướng ca , diễn tấu không nằm trong bốn nghề "sĩ ,nông  ,công ,  thương " nên gọi là vô loại . Vua quan ngụy Nho nhà Lê rẽ rúng , coi khinh cả dòng họ , con cháu của những người nầy . Thế nhưng ngày nay những người làm nghề ca hát nói chung là giới showbiz được công chúng hâm mộ , có khi đến cuồng nhiệt . Cuộc sống , thu nhập của giới nầy rất cao ; địa vị của họ cũng được xã hội tôn vinh . Tuy nhiên, trong hoàn cảnh đất nước như hiện nay xảy ra quá nhiều thảm họa thì sự lên ngôi của giới showbiz là một hiện tượng  đáng buồn . Sự cạn kiệt nguồn nước sông Mê Kông , đồng bằng miền Tây bị ngập mặn , biển miền Trung bị nhiểm độc cá chết hàng loạt , bùn đỏ tây nguyên tràn ngập , vv..thì dường như chẳng làm nao lòng giới Showbiz.
   Ngược dòng lịch sử , nghề ca hát diễn xướng ở Việt Nam xuất hiện từ thế kỷ thứ 3 . Hai loại diễn xướng là tuồng và chèo được phát triển phổ biến rộng rãi trong dân gian và được cho là một bộ môn nghệ thuật vào đời vua Lý Thái Tông ( 1068 - 1128 ). Đến đời vua Lý Thánh Tông thì không những nghề nầy phổ biến trong dân gian mà ngay tại cung đình cũng được trọng vọng . Lý Thánh Tông là vị vua rất sành về âm luật của cả nhạc Trung Hoa và Chiêm Thành . Chính nhà vua đã soạn ra những ca khúc Chiêm Thành rồi cầm khiên múa hát trong tiệc khao quân giữa lòng đất Chiêm . Nhà Lý tuy chọn Phật giáo làm quốc giáo song vẫn ứng dụng tinh hoa của Nho gia hòa vào mạch sống của dân tộc tỷ như quan niệm " hưng ư thi , thành ư lễ , hòa ư nhạc ( hưng phấn nhờ vào thơ ca , thành ý nhờ ở lễ , hòa hợp nhờ vào âm nhạc ) .  Nhiều khi một bản nhạc , một bài cũng tạo ra hiệu ứng  gây ảnh hưởng lớn trong xã hội   . Yếu tố nhân hòa không kém quan trọng trong ba yếu tố Thiên thời , địa lợi , nhân hòa .
   Đến đời hậu Lê độc tôn Nho giáo . Đặc biệt dưới thời Lê Thánh Tông đã liệt những người ca kỷ hát xướng vào chung với hạng người cờ bạc rượu chè , trộm cướp , ác nghịch , ...Thậm chí còn có lệnh cấm con cháu những người nầy không được đi thi ;  không được lấy người quyền quý . Chế độ độc tôn , độc đoán hà khắc đó đã làm mất đi  các bậc hiền tài . Tỷ như Đào Duy Từ là con của một người làm nghề xướng ca nên không được đi thi . Năm 21 tuổi ông đổi sang họ Vũ đi thi Hương đổ Á nguyên . Nhưng đến kỳ thi thi Hội bị phát hiện man khai lý lịch nên chẳng những ông bị đánh tuột á nguyên của kỳ thi Hương mà còn bị tống giam . Sau khi ra tù ông mai danh ẩn tích một thời gian rồi trốn vào " đàng trong " phò chúa Nguyễn Phúc Nguyên . Về sau , Đào Duy Từ trở thành một nhà quân sự , một chính trị gia lỗi lạc , một danh nhân kiệt xuất , một bậc sơ khai công thần số một của quân đội chúa Nguyễn . Ấy là nhờ tinh thần cởi mở phóng phoáng , hào hiệp của dân Thuận Quảng nói riêng và dân Nam bộ nói chung .

    Có ý kiến cho rằng xướng ca vô loại không hẳn là do không có tên trong các nghề mà do nhập vai tréo hèo như cha đóng vai con , mẹ đóng vai vợ , .. . Người đời không hiểu rằng vì nghệ thuật cho nên diễn viên phải nhập vai như vậy . Chuyện nhập vai là chuyện sân khấu ; mà đã là sân khấu thì phải diễn - muốn diễn tốt thì phải nhập vai là lẽ đương nhiên . Điều đáng nói  là trong đời thường , nhất là trong chính trường mà nhập vai đóng giả để lừa mị nhau thì mới là tệ hại  . Thật ra không có nghề xấu mà chỉ có người xấu . Nghề mà không bị tai tiếng mà còn giúp ích cho đời thì  mới là đạo nghệ . Nhà phường chèo , giới showbiz là những nghệ sĩ hoạt động nghệ thuật . Nghệ thuật lại là một trong các nội hàm của văn hóa . Văn hóa là hơi thở là mạch sống của cả một dân tộc . Sự thịnh suy hưng vong của dân tộc một đất nước không thể không ảnh hưởng đến văn học nghệ thuật . Bởi vì  ca hát , nhảy múa , tấu hài ,...cũng là một bộ môn nghệ thuật nên các nghệ sĩ chân chính không thể thờ ơ bàng quan trước những gì xảy ra trong cuộc sống quanh ta  .

   Gần đây trên TV xuất hiện nhiều chương trình giải trí như  Vietnam's Got Talent  , Vietnam Idol , vv,. . Giám khảo trong các cuộc thi ngồi chễm chệ trên ghế như một vị thánh -  nhả ngọc phun châu .. . Các thí sinh thì như những con chiên ngoan đạo đứng nghe những điều răn như muốn nuốt  từng lời . Thế là Showbiz đã lên ngôi . Giải trí  đúng là thang thuốc bổ đối với khán giả sau những giờ làm việc mệt nhọc  . Còn đối với diễn viên sân khấu thì đó là cơ hôi để tỏa sáng . Càng tỏa sáng càng nổi tiếng ; càng nổi tiếng thu nhập càng cao . Thế là dân ta bình yên vui chơi thỏa thích . nếu không được như vậy thì ít ra cũng ru ngủ được số đông . Những ai còn thao thức khắc khoải vận nước từng ngày cũng " cuốn theo chiều gió " vì

Thiên hạ có khi còn ngủ cả 
 Việc gì ta thức một mình ta  ( Trần Tế Xương ) 

      Thể mệnh của giới văn nghệ sĩ ngày nay  thật là chông chênh chìm nổi . Có khi  bị  liệt vào nhà phường chèo xướng ca vô loại , có lúc thì bị tù đày chỉ vì bảo vệ chính kiến ... Nhưng cũng có khi chỉ chực làm nghề tuyên truyền trong hàng ngũ văn công - làm công cụ để ru ngủ quần chúng quên đi nỗi nhục quốc thể , kiếp sống vong nô .

Thứ Bảy, ngày 23 tháng 4 năm 2016

Cuộc đời của Đức Phật Thích Ca và con đường trung đạo

                                                             

            
         
              Đức Phật Thích Ca là một nhân vật lịch sử ( Historical person) có ngày sinh, nơi sinh và ngày chết hẳn hoi .Đức Phật Thích Ca còn là Đức Phật lịch sử  (Buddism historique  ) nên bên cạnh tính biên niên của sử lịch còn có tính triết lý của sử tính .Cuộc đời của Ngài là một khảo chứng cho sự tựu thành của con đường Trung đạo ( middle way ) - con đường giữa hai đầu cực đoan -trong bối cảnh của xã hội  Ấn Độ thời bấy giờ .Thời ấy xã hội Ấn Độ bị phân hóa bởi nhiều giai cấp và trong môi trường văn hoá có nhiều luồng tư tưởng cực đoan đối đầu nhau , Ngài thị hiện trên thế gian như một giải pháp đối trị với mọi cực đoan quá khích hầu đem lại hòa bình trong tự thân và trên thế giới .

       Ngay trong thời Đức Phật còn tại thế có hai tôn giáo lớn đã phát triển rộng rãi và có tầm ảnh hưởng sâu rộng đến triết học và tôn giáo ở Ấn Độ .Đó là Phật giáo và Bà La Môn giáo . Phật giáo tuy mới hình thành song phát triển nhanh và sâu rộng hơn Bà La Môn giáo .Những tư tưởng triết học , tôn giáo thời ấy chia làm hai hệ  thống : Chính thống ( Astika - cực hữu ) và không chính thống ( Nastia- cực tả  ).Đại biểu cho hệ thống chính thống là Bà La Môn giáo và đại biểu cho hệ thống không chính thống là Chủ nghĩa duy vật ,Kỳ Na giáo , Chủ nghĩa hoài nghi , Phật giáo , vv...Nguyên nhân xuất hiện nhiều trường phái không chính thống là bởi hệ thống tư tưởng Bà La Môn có tính độc tôn,độc quyền về ý hệ nên nảy sinh ra các trường phái chống lại sự áp đặt quan niệm về một đấng sáng tạo vũ trụ ,vạn hữu.
 Trường phái chủ nghĩa duy vật ( Météralism ) chủ trương vô thần , sau khi chết không có linh hồn ,không còn có đời sống nào khác . Chết là hết .Không có thế giới nào khác ngoài thế giới hạnh phúc và lạc thú ở đời . Cứu cánh cuộc đời là hưởng thụ khoái lạc .Không có chuyện luân hồi hay tái sinh .
    Trái lại những tín đồ của Kỳ Na giáo (Jainism)chuyên tu hành khổ hạnh ,khắc kỷ để giải thoát linh hồn ra khỏi sự ràng buộc của nghiệp , luân hồi ,tái sinh ,...Lối tu của các tín đồ nầy hành hạ thân xác , o ép bản thân ,thậm chí có phái cấm không mặc quần áo !
Còn trường phái hoài nghi chủ trương nghi ngờ tất cả mọi thứ , mọi việc , tẩy chay mọi sự hiểu biết ,tranh luận , phê phán ...
   Trước những luồng tư tưởng cực đoan quá khích đó , Đức Phật chọn con đường Trung đạo :Ngài bác bỏ quan niệm về đấng tối cao của Bà La Môn giáo, không chấp nhận lối tu khổ hạnh của Kỳ Na giáo ,cũng không đồng tình với chủ nghĩa duy vật .Ngài cho rằng hạnh phúc trong dục lạc là tạm thời và ngắn ngủi .Ngài cũng đã phê phán chủ nghĩa hoài nghi sai lầm ở chỗ không tin vào thực chứng chân lý bằng suy niệm tâm linh ở nội tâm .

    Trở lại cuộc đời của Đức Phật Thích Ca từ khi sinh ra cho tới  khi nhập diệt  là một bài học thân giáo về triết lý Trung đạo .
  Ngay trong việc tái sinh lần cuối cùng làm kiếp người ,Thái Tử Tất Đạt Đa (Siddhārtha  ) không đi thẳng đến gốc cây Bồ Đề để thành Phật ngay mà phải tuần tự trải qua các giai đoạn :hài đồng , thiếu niên ,thành nhân ; rồi xuất gia tu hành thành đạo .Ấy là vì Người muốn thành tựu Phật quả với tư cách là một con người - cùng một phận người - như mọi con người trong cộng đồng nhân loại .Người muốn chứng tỏ cho những kẻ hoài nghi tin rằng tất cả chúng sanh đều có Phật tính và ai cũng có khả tính thành Phật .Nghiệp , kiết sử  ,đều có thể chuyển hóa bằng con đường tu tập .Sự giác ngộ của Ngài không do thần  khải hay mặc khải  mà là hoa trái của một quá trình tu chứng . Đó là việc làm của một Pháp Vương ,một lãnh đạo tinh thần cho cả thế gian thay vì làm một Quốc vương cai trị một nước .Thái Tử Tất Đạt Đa sống trong cung vàng điện ngọc nhưng không hề mê đắm  vào trong cuộc sống xa hoa sung mãn cũng như Ngài  không mặn mà đến việc kế nghiệp vương quyền  . Tuy nhiên ,Ngài cũng đã kết hôn và có con theo ý của vua cha . Ngay cả đến việc đặt tên con là La - Hầu - La (có nghĩa là sự cản trở ) cũng  xuất phát từ tâm thức về sự ràng buộc thê nhi ( thê thằng tử phược ).
 Sau nhiều lần ra ngoại thành du ngoạn , đã chứng kiến nhiều  thảm  cảnh khổ đau của kiếp người ; Ngài bắt đầu suy tư về bốn chữ sanh ,lão , bệnh ,tử . Lần ra  ngoại thành cuối cùng Thái Tử bắt gặp một tu sĩ đang thiền định dưới một gốc cây với dáng vẻ thảnh thơi , an hoa , tỉnh lự . Chính hình ảnh đó đã thôi thúc Ngài sớm thực hiện ý nguyện xuất gia tầm đạo . Rồi một đêm  , Thái Tử vứt bỏ quyền bính , cung điện , từ giã vợ đẹp con xinh để vào rừng làm một tu sĩ .
   
 Trong rừng sâu , Thái Tử đã từng gặp các bậc thầy của các bậc thầy thiền định như Uất Đạc gia , A La La . Nhưng rồi Thái Tử sớm nhận ra hai vị tiên nhân đó chưa phải là bậc thầy của giải thoát , tự thân của họ chưa đạt được trí tuệ Ba La Mật . Thái tử suy nghiệm rằng Nhất thiết trí hay trí tuệ Ba La Mật có liên quan đến thân xác , lục căn , lục trần . Thái tử từng tự vấn phải làm thế nào để tịnh hoá lục căn , điều phục thân xác ? Phải chăng là con đường khổ hạnh ? Thế là Ngài gia nhập nhóm tu khổ hạnh trong Khổ hạnh lâm - ép xác suốt sáu năm trời : Từ phép tu cắn răng đến phép nín thở rồi nhịn ăn , ...Thái tử lúc này chỉ còn là bộ xương khô , lại không mảnh vải che thân . Như một quả lắc đồng hồ đi từ cực đoan nầy sang cực đoan khác , Thái tử từ trong nhung lụa xa hoa đến khắc khổ hành xác -đi đứng khó khăn tai ù mắt loà ..May thay nhờ trải qua nhiều kiếp tu hành nên Thái tử vẫn còn đủ trí tuệ để phản tỉnh xét lại lối tu sai lầm nầy . Đó là khởi đầu cho một con đường sáng : Con đường Trung đạo ! Không o bế chìu chuộng thân xác , cũng không o ép hành hạ xác thân . Một tinh thần minh mẫn chỉ có thể có trong một thân thể tráng kiện .
    Nhờ vào phước báo được tích luỹ trong nhiều kiếp trước nên Thái tử có nhiều trợ duyên giúp phục hồi sức khoẻ nhanh chóng : có người cho tấm y để che thân , có người cho bát sữa tươi bồi bổ thân thể , có người cho mấy bó cỏ khô làm bồ đoàn - đã giúp Ngài đủ điều kiện toạ thiền suốt 49 ngày đêm ròng rã . Để củng cố tinh thần cho Thái tử , một thiên sứ đã hoá thân làm nhạc sĩ lên dây đàn . Thái tử ngộ ra rằng nếu dây đàn căng quá thì đứt mà nếu dây chùng quá thì thanh không vang ; vậy không căng không chùng thì sẽ đạt thanh âm tuyệt hảo .Thì ra việc hành trì tu tập cũng giống như việc lên dây đàn vậy !

    Sau 49 ngày đêm thiền định dưới gốc Bồ đề Ngài lần lượt thắng vượt được tham , sân , si , ái , dục ; chiến thắng được vòng vây cám dỗ bởi tài , sắc , danh , thực , thuỳ , ... cuối cùng chứng đắc túc mạng minh , thiên nhãn minh rồi lậu tận minh ...toả sáng Bát Nhã Ba La Mật . Ngài đã thành một Pháp vương vô thượng tôn của cõi Trời , cõi Thần và cõi Người . Từ đây Thái tử Siddhārtha  (tiếng Pali có nghĩa là một người đã hoàn thành được chủ đích của mình ) đã trở thành một Đấng giác Ngộ hoàn toàn ; có danh hiệu là Phật Thích Ca và được người đời tôn xưng là Đức Phật . Chữ Phật phiên âm từ chữ Budha ( Bụt ) có nghĩa là Giác Ngộ . Sau khi thành Phật , Ngài tiếp tục thiền định 7 ngày để kiểm nghiệm lại quá trình tu chứng của mình . Sau đó , Ngài phân vân không biết có nên tuyên thuyết giáo pháp của mình hay nhập Niết bàn ngay , bởi giáo pháp của Ngài quá vi diệu khó tiếp thu do sự hạn chế của ngôn ngữ văn tự . Nhưng rồi vì lòng bi mẫn đối với chúng sinh , Ngài bắt đầu đi du thuyết . Bài thuyết pháp đầu tiên ( chuyển pháp luân ) nói về con đường Trung đạo . Du thuyết suốt 45 năm khắp xứ Ấn Độ  mà cuối đời  Phật lại nói  rằng : " 45 năm qua ta chưa từng nói một lời nào " . Không định thuyết rồi lại thuyết ; thuyết rồi lại phủ nhận điều mình đã thuyết . Tại sao như vậy ? Vấn nạn nầy về sau được Bồ tát Long Thọ giải mã trong Trung Quán luận . Luận chứng căn bản trong Trung Quán là biện chứng pháp sau đây :
                                Không - Giả danh - Trung đạo 
  Chữ Không trong mệnh đề trên nằm trong " Vạn Pháp giai không " .Không không có nghĩa là không đối đãi với có mà có nghĩa là không có tự tính , không thực hữu . Tất cả các pháp đang hiện hữu đều không có tự tính . Chúng hiện hữu do duyên sinh ( tương tức, tương nhập ) . Bồ tát Long Thọ đưa ra tiền đề : " Nếu bảo tất cả các pháp đều không , ngôn ngữ văn tự cũng nằm trong các pháp , thì lấy gì bảo rằng không ? Vậy nên phải mượn văn tự xét như một phương tiện để hiển bày Không Tánh  gọi là giả danh . Đó chính là Trung đạo . Xem thế , ngôn ngữ không phải là thực tại mà là phương tiện truyền thông  để chuyển tải mô tả thực tại . Kinh nói " Chỉ có văn tự thôi thì đều không có thực nghĩa ( đản hữu văn tự đô vô thật nghĩa ) . Đức Phật từng ví Chân lý thực tại mà Ngài vén mở như mặt trăng , còn văn tự ngôn thuyết như là ngón tay chỉ mặt trăng ( nhất thiết tu đà na giáo như tiêu nguyệt chỉ ) . Nếu vướng và chấp vào văn tự thì sẽ lầm lẫn ngón tay là mặt trăng . Biện chứng pháp Không - Giả danh - Trung đạo cho phép ta không loại trừ ngôn ngữ văn tự mà vẫn thấy được thực nghĩa ; đồng thời không động đến chân tướng mà vẫn kiến lập được các pháp :

                                Bất đoạn giả danh nhi kiến thực nghĩa 
                                Bất động chân tướng kiến lập chư pháp 

       Thái độ tẩy chay hay tuyệt đối hóa giá trị của ngôn ngữ  đều là cực đoan cố chấp . Bởi thế cho nên Đức Phật đi du thuyết suốt 45 năm mà cuối cùng Ngài lại bảo rằng  : " Ta không nói một lời nào "  Ấy là vì Ngài lo sợ hậu thế chấp vào kinh giáo . Tuy nhiên phép đốn tu mà Ngài giới thiệu cho thánh chúng trong hội Linh Thứu bằng thái độ không giảng một lời kinh nào mà chỉ đưa cánh hoa lên ( niêm hoa vi tiếu ) dĩ tâm truyền tâm .Ngài Ca Diếp trong chúng hội được truyền tâm nên " phá nhan vi tiếu " . Đó là phép tu " giáo ngoại biệt truyền "của Thiền tông mà Ngài Ca Diếp là tổ thiền đầu tiên . Về phép tu theo kinh giáo , Đức Phật sợ hậu thế sau nầy chấp vào văn tự nên đã khuyến cáo chúng đệ tử rằng : " Không nên kẹt vào pháp , cũng không nên kẹt vào chẳng phải pháp . Các vị tỳ kheo nên biết pháp ta nói như chiếc bè qua sông . Pháp còn phải bỏ huống hồ gì không phải pháp " ( Kinh Kim Cang )
      Trên con đường tu đạo điều uý kỵ nhất là thái độ cực đoan cố chấp . Trong luận Đại Trí Độ , Phật giảng về đệ nhất nghĩa đế để độ những kẻ cực đoan cố chấp : " Có kẻ đang được độ thoát mà bị rơi vào thái độ cực đoan hoặc vì vô trí mà chỉ cầu sự khoái lạc cho thân thể , hoặc vì hành đạo mà tu hành theo lối khổ hạnh , những người như thế đối với đệ nhất nghĩa đế mất hết niết bàn chánh đạo " ( trích Luận Đại Trí Độ - bản dịch của Tuệ Sỹ ).Rõ ràng con đường Trung đạo là con đường duy nhất đưa ta đến Niết Bàn

   
Tóm lại , cả cuộc đời của đức Phật Thích Ca từ khi sinh ra cho đến khi nhập diệt đều hiển thị ý nghĩa vi diệu của con đường Trung đạo - con đường ở giữa hai đầu cực đoan - Đó là một trong những lý do mà Liên Hiệp Quốc chọn Phật giáo là tôn giáo Hòa Bình của Thế Giới - giữ được sự cân bằng hòa hợp trong tâm mỗi người là bước quan trọng trong tiến trình kiến lập hòa bình trong tự thân và trên thế giới ( Peace in oneself , Peace in the world ) .


Thứ Ba, ngày 05 tháng 4 năm 2016

Chuyện trăng tròn trăng khuyết

   


           Trăng dù có khi tròn khi khuyết thì cũng vẫn chỉ là trăng . Còn chuyện lăng xăng sầu bi hỉ lạc lúc nhìn trăng vọng nguyệt là chuyện của con người .Trăng tròn hay khuyết chỉ là do vị trí tương đối  giữa mặt trăng mặt trời và trái đất cùng với sự tiếp nhận ánh sáng của mặt trăng từ mặt trời . Tròn hay khuyết cũng là do niệm tưởng của con người- có khác chăng là giữa người nầy với kẻ nọ , lúc nầy và lúc khác .

     Mọi sự trên đời đều do chấp tướng mà tưởng ra thế nầy thế nọ như thấy dây thừng nhìn ra con rắn .Yếu tính của mọi hiện hữu là vừa hằng vừa  chuyển  .Hằng là thường hằng bất biến còn chuyển là chuyển biến dịch chuyển thường xuyên . Tỷ như nước và sóng , sóng dù có lăn tăn hay cuồng nộ cũng chỉ là nước . Trăng tròn hay trăng khuyết cũng chỉ là trăng của muôn thuở . Do diễn biến dịch chuyển mà có khi tròn khi khuyết khiến cho nhân gian lấy đó làm điều . Ngày xưa Mạc Đỉnh Chi đi sứ sang Tàu vào đúng lúc cô công  chúa con gái duy nhất của vua Tàu qua đời . Sứ giả họ Mạc đại diện cho nước Nam làm bài thơ chữ NHẤT để  tán thán như sau :
             Thiên thanh nhất đóa vân 
             Hồng lô nhất điểm tuyết 
             Thượng uyển nhất chi hoa 
             Giao trì nhất phiến nguyệt 
             Ô hô! vân tán ,tuyết tiêu , hoa tàn, nguyệt khuyết !
   Tạm dịch :
             Giữa trời xanh có một áng mây 
             Giữa lò lửa có một điểm tuyết
              Trong vườn ngự có một cành hoa
              Giữa ao sâu có một vầng trăng tròn 
              Ôi! mây tán ,tuyết tan ,hoa tàn ,trăng khuyết !

    Thì ra luật vô thường không loại trừ bất kỳ ai :Mây tụ rồi lại tán , tuyết tụ rồi lại tan , hoa thắm rồi lại tàn , trăng tròn rồi lại khuyết .Vũ trụ là không gian vô cùng vô tận và thời gian vô thỉ vô chung . Nói đến thời gian là nói đến sự dịch chuyển từ quá khứ đến hiện tại ; từ hiện tại đến tương lai . Triết gia Heideguer đã định nghĩa về sự luân chuyển của thời gian như sau : " Thời gian tính là thể tính của thời gian khi tương lai đi vào quá khứ chính lúc nó vừa tới hiện tại " .Dòng thời gian vừa hằng vừa chuyển chẳng khác nào lưu lượng của một dòng sông . Những lưu lượng nước không ngừng thay đổi . Thế nên mới nói " Không thể tắm hai lần trong một dòng sông " ( Heraclite). Cuộc đời con người cũng như một dòng sông . Con người già ,chết từng phần qua dòng thời gian . Sống là đang chết từng phần ( La vie est la mort partie en partie ) trong từng sat -na. .Những tế  bào sinh sinh hóa hóa . Ta đi ngang qua cuộc đời như đi qua dòng sông . Trịnh công Sơn đã ngộ ra điều nầy :" Em đi qua chuyến đò thấy con sông đang nằm ngủ . Con sông là quán trọ và trăng tên lãng du Em đi qua chuyến đò con trăng đang còn trẻ Con sông đâu có ngờ ngày kia trăng sẽ già "
  Rõ ràng diễn biến dịch chuyển là định luật tất yếu . Trong thời gian vô thỉ vô chung thì sự chuyển  biến diễn
 ra thật là chớp nhoáng .
              Trăng non rồi sẽ trăng già 
              Ba vô số kiếp chỉ là sát na 

     Chuyện trăng tròn trăng khuyết là do ảnh hưởng sự vận hành của vũ trụ .Thế nhưng trong cõi nhân sinh thì đó là tâm tình  tâm cảnh . Khi buồn thương tiếc nuối thì người ta than vãn trăng tròn rồi lại khuyết . Khi an ủi ,gieo niềm tin hy vọng thì người ta bảo trăng khuyết rồi lại tròn .Cũng cùng một vầng trăng mà mỗi lần xuất hiện trong thi ca nhạc họa đã trở thành một mảnh tình riêng  . Với Lý Bạch trăng là mối u hoài cố quận " ngẩng đầu nhìn trăng sáng , cúi đầu nhớ cố hương "; với Nguyễn Du thì trăng là nỗi niềm ly biệt " Vầng trăng ai xẻ làm đôi ,
nửa in gối chiếc nửa soi dặm trường "...
Tất cả đều do móng tâm niệm tưởng mà ra
Trăng tròn rồi  lại khuyết hay trăng khuyết rồi lại tròn đều nằm trong ý nghĩa của luật vô thường vậy !




Thứ Sáu, ngày 12 tháng 2 năm 2016

Năm khỉ nghĩ về tập tính bắt chước của loài khỉ

           
     
 
      Tập tính của loài khỉ là hay bắt chước . Bắt chước cũng là một trong các thuộc tính thuộc về trí năng của con người . Nhưng nếu con người bắt chước một cách thiếu thông minh thì chẳng khác gì Vượn học tiếng người . Cách đây 90 năm chí sĩ Phan Bội Châu đã phê phán nền tây học lúc bấy giờ " Tới bây giờ , tuy là hình thức học đường  khác học đường khoa cử ngày xưa rất nhiều , dáng vẻ bên ngoài hình như vừa mắt , nhưng xét đến tinh thần cốt tủy có khác gì vượn học tiếng người . Đạo đức cũ đã sạch sành sanh , và văn hóa mới lại chẳng có chút gì dây vướng ở học đường "

  Đã non một thế kỷ mà những chuyện " khỉ gió " thời bây giờ chẳng khác chi chuyện " khỉ gió  "thời bấy giờ . Chuyện thời bây giờ hình thức học đường tuy có cách tân rất nhiều về kỹ thuật , về kế hoạch , về tổ chức học chánh vv...nhưng hồn cốt thì chẳng khác chi " vượn học tiếng người " . Trần tế Xương - người đồng thời với chí sĩ Phan Bội Châu chế diễu cái kiểu duy tân , cải cách kệch cởm , nhố nhăng thời bấy giờ :
  " Gặp ba ông Táo dạo chơi xuân
Đội mũ mang hia chẳng mặc quần
  Trời hỏi làm sao ăn mặc thế ?
Thưa rằng hạ giới nó duy tân !
 Tú Mỡ họa lại bài thơ trên làm tăng thêm nét trào phúng cay độc :

 " Thưa rằng hạ giới nó duy tân
Chỉ có trên đầu với dưới chân
Trong bụng chứa nguyên điều hủ bại
Xin trời đại xá bọn ngu dân !

Nhận định của nhà chí sĩ họ Phan quả là tiên tri ! Gần một thế kỷ sau , cái học ngày hôm nay về da dẻ hình thức bên ngoài trông thật chỉn chu đẹp mắt song " trong bụng chứa nguyên điều hủ bại ", Duy tân theo kiểu bắt chước một cách dại dột thiếu ý thức thì chẳng khác nào " vượn học tiếng người " Ngày ngày nhí nhố nhộn nhịp diễn ra quan chức mặc đồ Tây , đi xe Tây , ăn cơm Tây , uống rượu Tây , xài tiền Tây , ...nhưng rất ít người là  con người mới ! Văn hóa mới cũng "chẳng có gì dây vương ở học đường ". Trong khi đó đạo đức cũ đã sạch sành sanh "
 Vượn học tiếng người là chỉ lối bắt chước dại dột và nguy hiểm của con người . một câu chuyện vui kể về sự bắt chước của khỉ dẫn đến sự tự hại mình : " Có một con khỉ của người hàng xóm của  anh thợ giày ; hàng ngày thường hay lén nhìn  qua cửa sổ tiệm giày để xem anh thợ cắt da . Nó nhìn thấy anh thợ giày lấy dao cắt da để làm giày  . Chớ lúc anh ta đóng cửa đi ăn cơm , nó chui vào và bắt chước cắt nát hết các tấm da trong tiệm . Đi ăn cơm về , anh thợ giày biết ngay thủ phạm . Lợi dụng tính hay bắt chước của khỉ , anh buộc tấm da vào cổ -dưới da có chèn miếng sất - xong anh đưa dao cắt vào tấm da trên cổ mình . Sau đó anh đóng cửa tiệm đi về .Hôm sau trở lại , quả nhiên anh ta thấy con khỉ bị chết ngả lăn vì đứt cổ !

   Thấy ai làm gì mà mình bắt chước làm nấy mà không biết suy nghĩ , chọn lọc để áp dụng cho thích hợp  thì thật là dại dột và nguy hiểm như chú khỉ đáng thương kia
Nền giáo dục của ta hiện nay tự mình nhổ ra khỏi gốc rễ của truyền thống để rồi mô phỏng rập khuôn theo nước ngoài chẳng khác nào ghép một nhánh cây vào một cái gốc cây không cùng chủng loại . Hậu quả là " đạo đức cũ đã sạch sành sanh và đạo đức văn hóa mới chẳng có gì dây vướng ở học đường " . Đạo đức cũ ở đây là đạo đức Khổng Mạnh với tam cương và ngũ thường . Để cho con người xứng đáng là người thì không thể thiếu " nhân , nghĩa , lễ , trí , tín " . Và để trở nên con người hiền lương , tử tế thì con người ấy phải đầy đủ tám đức tính : hiếu , để , trung , tín , lễ , nghĩa , liêm , sĩ . Bất luận học thuyết đạo đức nào , chủ nghĩa gì cũng không thể rũ sạch những đức tính trên , nếu muốn giáo dục con người thành tử tế ! Bắt chước , mô phỏng theo cái học của người một cách tùy tiện để rồi loại bỏ những tinh hoa cố hữu của mình là lai căng mất gốc . Một nền giáo dục như vậy chỉ có thể đào tạo ra những  lãnh đạo yếu kém , những cán bộ vừa thiếu khả năng chuyên môn lại vừa thiếu đạo đức ; những đứa con bất hiếu , những người dân bất trung .

   Vừa qua , dự thảo chương trình giáo dục phổ thông của Bộ GD& ĐT đã có dự kiến tích hợp môn Lịch Sử với môn Giáo dục công dân và An ninh Quốc phòng thành môn Công dân và Tổ Quốc . Một việc làm trái khoáy như vậy thế mà có chuyên gia ở Bộ lại cho rằng " Các nước làm như thế và Việt Nam cũng nên làm theo " .

   Hiện nay , nhiều trường phổ thông ở nhiều địa phương có khuynh hướng coi nhẹ môn Tiếng Việt và thường dồn hết tâm sức cho môn Tiếng Anh . Đây cũng là kiểu bắt chước các nước muốn hội nhập vào văn minh thế giới . Chú trong vào môn ngoại ngữ là không sai song xem thường tiếng mẹ đẻ là một việc làm sai lầm có nguy cơ làm con cháu mất gốc .

    Giáo dục có một nhiệm vụ kép : vừa vun bồi , kế thừa tinh hoa văn hóa của ngày hôm qua vừa tiếp thu có chọn lọc tinh hoa văn hóa thế giới . Ngoài ra , giáo dục phải có sức đề kháng , đào thải sự xâm nhập của văn hóa ngoại lai . Hơn nữa , giáo dục cần phải có nhiệm vụ cảnh giác trước sự cưởng ép , thống trị của văn hóa ngoại lai . Sự xâm nhập văn hóa ngoại lai vào một quốc gia chẳng khác nào một vật lạ trong cơ thể người ...

       Khỉ là một  loài vật thông minh nổi trội hơn các loài vật khác . Năm Bính Thân - năm con khỉ -mong sao năm nay sẽ xuất hiện một "Thạch Hầu "( với 72 phép thần thông biến hóa )
để triệt phá những cái nhố nhăng trong xã hội đồng thời phục hoạt lại nền văn hóa cổ truyền của dân tộc bên cạnh những giá trị văn minh phổ quát của nhân loại !