Thứ Năm, ngày 20 tháng 3 năm 2014

Quan hệ giữa HỌC , THI và yêu cầu CHUẨN HÓA CẤP HỌC

    Chuẩn cấp học ( Standard learn ) là thuật ngữ chỉ sự hoàn bích chuẩn mực cho từng cấp học , bậc học từ tiểu học đến đại học . Mỗi cấp học đòi hỏi phải cáng đáng hoàn tất nội dung chương trình được phân phối gồm những bộ môn  bắt buộc và tự chọn mà bô giáo dục và đào tạo đã quy định . Để kiểm tra việc chuẩn cấp học , mỗi cuối cấp học có một kỳ thi tốt nghiệp để sát hạch trình độ của HS hay  Sv đạt chuẩn đến đâu . Việc HỌC việc THI và việc CHUẨN CẤP HỌC có một mối quan hệ hổ tương , mật thiết cùng nhau . Ấy thế mà việc học hành thi cử hiện nay không đảm bảo cho việc chuẩn cấp nói trên . Đúng ra theo nguyên tắc thì học môn nào thi môn nấy thì đằng nầy học đủ các môn mà thi có 4 môn , chưa nói là trong 4 môn thi đã có 2 môn tự chọn . Thi kiểu nầy vô hình trung khuyến khích học sinh học lệch , học để đối phó chứ không phải học để tự trang bị cho mình đầy đủ kiến thức phổ thông . Hệ quả tất yếu là hs tốt nghiệp phổ thông tỷ lệ rất cao nhưng lại mất căn bản phổ thông . Để có thể hình dung mối quan hệ hổ tương giữa HỌC , THI và CHUẨN CẤP xin được ôn lại nền giáo dục ở miền Nam trước 75 .
   Mục tiêu và cũng là triết lý của nền giáo dục ở Nam VN trước 75 là : NHÂN BẢN , DÂN TỘC và KHAI PHÓNG. Nền giáo dục đó đã thoát ra 2 đầu cực đoan : một là giáo dục với mục tiêu đào tạo CON NGƯỜI NHÂN LOẠI chung chung ; hai là đào tạo giáo dục thành con người uốn mình trong một khuôn khổ nhất định vv...
 Ở đây ta không nói về mục tiêu và triết lý giáo dục mà chỉ nói về cách tổ chức học chánh theo từng cấp học của miền nam trước đây . Bộ GD soạn ra một quyển phân phối chương trình cho từng lớp học và từng cấp học . Về bậc học , cấp học có những tên gọi đích danh : bậc tiểu học , bậc trung học phổ thông và bậc đại học . Ngay tên gọi cũng đã hình dung được yêu cầu của từng cấp : cấp tiểu học ( 5 năm ) trang bị cho hs các kiến thức sơ đẳng yếu lược ( élémentaire), cấp trung học phổ thông ( 7 năm )trang bị cho hs kiến thức phổ thông về các bộ môn Văn , Toán , Lý , Hóa , Sinh , Sử , Địa , Công dân giáo dục , Nhạc , Vẽ , Thể dục , Nữ công .. Cấp trung học phổ thông chia ra làm hai cấp nhỏ :
  1//Cấp Trung học đệ nhất cấp ( 4 năm ) từ lớp 6 đến lớp 9
  2/ Cấp trung học đệ nhị cấp ( 3 năm ) từ lớp 10 đến lớp 12.
Đại học : không còn trang bị kiến thức phổ thông mà đi vào chuyên biệt hóa ( spécialiser)
  Cấp tiểu học rất được coi trọng vì đây là nền móng của một công trình đồ sộ . Móng có chắc , công trình mới vững . Cuối 5 năm tiểu học có một kỳ thi lấy bằng tiểu học , học bao nhiêu môn thì thi đủ bấy nhiêu môn . Học sinh đậu tiểu học  có quyền dự  kỳ thi tuyển ( concours ) vào bậc trung học . Chẳng may thi hỏng kỳ thi nầy  thì hs có thể xin vào học ở các trường tư thục. Hệ thống các trường tư thục đa phần do giáo hội của các tôn giáo thành lập .Hs học trường tư thục nếu đỗ kỳ thi Trung học đệ nhất cấp sẽ được quyền vào học lớp 10 của các trương công .. Tương tự như thế nếu hs trường tư thi đỗ Tú Tài I sẽ được quyền vào học lớp 12 của trường công . Điều đó chứng tỏ rằng dù trường tư hay trường công nếu chuẩn cấp học và đúng cách trong các kỳ thi thì được nhà nước và toàn xã hội tin tưởng , công nhận , giá trị văn bằng được bảo đảm . Được vậy là do giữa học và thi ăn nhịp cùng nhau .Bằng tú tài ở VN thời đó  không những có giá trị ở trong nước mà còn  được cả quốc tế công nhận . Việc tổ chức kỳ thi nghiêm nhặt , việc khảo thí nghiêm xác , kết quả đậu tú tài tỷ lệ toàn quốc chưa khi nào đạt 30%. Chính phủ và dân chúng vẫn cứ yên tâm chấp nhận tỷ lệ đỗ tú tài hàng năm vì thồi bấy giờ không có khái niệm chỉ tiêu , thành tích . Thà ít mà tinh còn hơn nhiều mà tạp ( quý hồ tinh bất quý hồ đa ) . Chính vì vậy mà thời đó có được mãnh bằng tú tài toàn phần trong tay , hs có quyền ghi danh vào bất cứ đại học nào ngoại trừ các đại học do chính phủ mở ra để đào tạo cán bộ cho các ngành nghề như ĐH y, dược ; ĐH sư phạm ,ĐH kỹ thuật ,...Loại hình trường nầy , SV không phải trả
bất kỳ khoảng học phí nào . Các trường ĐH khác ,công cũng như tư , SV chỉ đóng một khoảng niên liễm ít ỏi .Ngoài ra thì khi  chữa bệnh , cũng như đi lại trên các phương tiện giao thông đều  miễn phí .HS học xong chương trình phổ thông ( chuẩn cấp ) bước vào ngưỡng cửa  ĐH sẽ không ngỡ ngàng xa lạ vì chuyển cấp . Bởi lẽ bắt đầu từ lớp 10 HS đã được phân ban . Phân ban là hình thức khởi động cho sự chuyên biệt hóa ở cấp đại học . HS ban C ( Văn , Triết , Sinh ngữ )sẽ vào các trường Luật , Văn khoa hay Khoa học nhân văn , HS ban B ( Toán , Lý Hóa ) sẽ vào các trường khoa học , HS ban A ( Sinh , Hóa , Lý ) sẽ vào các trường Y , Dược ...Một HS đỗ Tú Tài II nếu muốn đi dạy thì làm hồ sơ gởi Nha tư thục và được cấp cho một giấy phép dạy học từ lớp 6 đến lớp 9 . Nếu vào quân đội thì đã có parem sẵn : Đậu bằng Trung học đệ nhất cấp thì vào trường Hạ sĩ quan , đậu bằng Tú tài I thì  vào trường Sĩ quan trừ bị ; đậu bằng Tú tài II thì vào trường Võ bị Đà lạt . Như vậy , giữa HỌC , THi và CỬ diễn ra trong quy trình :học gì thi nấy . Thi đậu thì được bổ dụng , sắp xếp ( cử )vào vị trí tương ứng với trình độ , cấp học . Bộ GD chỉ soạn phân phối chương trình dạy và học ở mỗi lớp , mỗi cấp chứ không soạn sách giáo khoa ( chỉ cung ứng học liệu ) Sách giáo khoa do các giáo viên có bề dày kinh nghiệm dạy học và khảo thí soạn và tự xuất bản . Thầy và trò tự do lựa chọn sách hay để dạy và học . Sách giáo khoa có thể dùng từ đời anh rồi đến đời em ,đời cháu ...Bên cạnh sách giáo khoa có nhiều tạp chí văn , văn học , bách khoa , phổ thông được học sinh ưa chuộng mua về đọc để làm phong phú thêm kiến thức phổ thông của mình .
  Về phương diện đào tạo , giáo hóa con người trở nên con người đích thực , đúng nghĩa . Bên cạnh các môn Đức dục , Công dân giáo dục còn có chương trình ngoại khóa .Lên đến lớp 12 thì không học văn chương ( song song với luận đề văn chương có luận đề đạo đức ) mà phải học môn Triết   : tâm lý học , luận lý học ,  đạo đức học . Riêng các HS ban C ( Văn chương , Sinh ngữ , Triết học ) thì phải học thêm môn Siêu hình học nữa .
Tài liệu sách giáo khoa giới thiệu nhiều học thuyết , quan niệm đạo đức đa chiều để học sinh suy nghĩ , lựa chọn và thực hành
 Ở các trường của các tôn giáo thành lập có thêm môn Giáo lý góp phần hướng HS vào con đường hướng thiện .
  Nói chung các văn bằng từ cấp tiểu học đến trung học ,đại học ở miền nam trước đây đều là nhãn hiệu cầu chứng cho việc chuẩn cấp học ( standard learn ). Việc chuẩn cấp học được tiến hành theo một quá trình nghiêm túc trung thực từ việc học các bộ môn và thi đầy đủ các bộ môn
  Ngày nay , ai cũng thấy có một số HS tốt nghiệp Trung học phổ thông rồi mà  còn quá nhiều khiếm khuyết về kiến thức phổ thông  Ngay cả bộ môn Văn xét như bộ môn công cụ cũng còn sai chính tả , sai ngữ pháp , sai cú pháp . Bảy năm học một ngoại ngữ mà vẫn không đọc thông viết thạo . Về lịch sử nhất là cổ sử thì tù mù ấm ớ . Về chuẩn mực đạo đức thì vụng về trong ứng xử trong giao tiếp .. Ngày trước một em bé Tiểu học đã thuộc lòng và biết làm theo lời dạy của Khổng Tử : " Việc gì mình không muốn người làm cho mình thì mình đừng làm cho người " ( được đóng khung dưới bài học " công bình " của môn Đức dục ).
   Việc thi cử hiện nay có môn bị bỏ không thi , có môn được học sinh chọn , có môn không được chọn ,...khiến cho HS lơ là chễnh mãng với nhiều môn , đáng kể là môn sử . Nếu môn Văn được xem là một bộ môn công cụ của các bộ môn thì môn sử là công cụ của các luật gia , các chính trị gia , các nhà xã hội học.

   Những căn bệnh trầm kha trong giáo dục như bệnh chạy theo chỉ tiêu , bệnh coi trọng thành tích , chịu áp lực  phổ cập đã đưa  số lượng bằng cấp , học hàm , học vị đi lên trên con  đường chất lượng đi xuống .Nay thì bộ Giáo dục và đào tạo quy định kỳ thi tốt nghiệpTrung học phổ thông chỉ thi 4 môn trong đó có 2 môn bắt buộc là Văn và Toán còn 2 môn còn lại thì HS tùy chọn thì làm sao bảo đảm được việc chuẩn hóa cấp học phổ thông .  Bậc học phổ thông không được chuẩn hóa cấp học thì dù có mở thêm bao nhiêu trường Đại học , có cải cách kiểu gì thì cũng chỉ là việc chăm lo cho phần ngọn mà quên chăm lo phần gốc . Khi cái thân cái gốc không còn được cung ứng nhựa nguyên thì dù cho lá cành có được quang hợp đến mấy cũng không thể nào chế tác được nhựa luyện để nuôi cây .




Thứ Sáu, ngày 14 tháng 3 năm 2014

Ngôn ngữ tình trong lời ru xứ Quảng

                                                                                                   

         Tình yêu và trí thức là hai mặt tác dụng không thể thiếu vắng trong một con người giữa các cộng đồng lớn nhỏ ; không có tình yêu cuộc sống sẽ đóng băng và không có trí thức con tim sẽ mù lòa . Một trong những thứ tình cao cả thiêng liêng là tình mẹ thương con . Tình yêu ấy bộc lộ qua tiếng hát ru của mẹ bên quai nôi . Thi sĩ Xuân Quỳnh thú nhận : Dẫu con đi suốt một đời , cũng không quên hết những lời ru xưa " . Trong lời hát ru của người dân xứ  Quảng Nam  có chứa đựng một thứ ngôn ngữ tình giàu chất triết lý nhân sinh mà không nơi nào có được . Ngôn ngữ ấy đã kết tinh từ hoàn cảnh tâm lý của những lưu dân đi mở cõi và hoàn cảnh địa lý sông nước Thu Bồn . Sông Thu Bồn từ Tí Sé , Dùi Chiêng chảy xuống đến Hội an , Cửa Đại có một mối dây liên lạc mật thiết trên những chuyến đò dọc theo gió mùa mậu dịch  ( buổi mai nam ta trông bạn , buổi chiều nồm bạn trông ta ). Tâm tình của người dân Quảng Nam thật là nồng thắm , tươi nhuận thể hiện qua lời ru và lời ru thì chứa đựng biết bao ngôn ngữ tình giàu chất triết luận .


            Trong thời đại hiện nay , với những ngôn ngữ thực dụng của loại trí thức điện toán , kê tính , với những âm thanh xập xình , gào thét , thở than của dòng nhạc trẻ ...ta thử lội ngược dòng để tìm kiếm , lượm lặt một vài ngôn ngữ tình ấy ; hoặc thử làm người thợ lặn , lặn sâu dưới đáy đại dương để chắt chiu những trầm tích từng bị bỏ quên .
    Hát ru thuộc thể loại thơ ca dân gian như hò đối , hát hò khoan , bài chòi v..v...đều có đặc điểm diễn xướng ( trình diễn bằng âm thanh nhạc điệu với nhiều người ). Riêng hát ru lại có đặc điểm riêng là chỉ hát cho một đối tượng nghe mà thôi , đó là em bé nằm trong nôi . Em bé ngủ được là do âm điệu êm ái của tiếng hát ru . Còn phần ý tứ sâu xa , tâm tình thầm kín thì chỉ có người hát mới biết . Có khi em bé ngủ rồi mà người mẹ ( người chị  vẫn còn hát tiếp dăm ba câu nữa cho cạn nốt bầu tâm sự) . Trong lời ru có những ngôn ngữ , những cách nói ẩn ý như một thứ mật mã vừa rất trữ tình - bay bỗng lãng mạn- lại vừa đậm chất triết lý .
    Trước hết phải nói đến câu hát " Đất Quảng Nam chưa mưa đà thấm" mà không một người dân Quảng nam nào không thuộc .
    Đất Quảng Nam chưa mưa đà thấm 
Rượu hồng đào chưa nhấm đà say 
  Gặp nhau chưa mấy lăm ngày 
Để mang ơn nặng nghĩa dày tình thâm 
 Có người cho rằng hai câu đầu là cách nói tỷ hứng , thậm xưng , nói quá . Nhưng suy cho cùng thì cũng không quá chút nào . Thứ nhất , về mặt địa lý đất ở đây được bồi đắp bởi phù sa của sông Thu Bồn phì nhiêu , màu mỡ nên thường xuyên có độ ẩm . Còn say ở đây là  say tình say nghĩa ...Cụm từ chưa mưa đã thấm không chỉ nói đến độ thấm của đất mà còn nói đến độ nhạy cảm của người dân đất Quảng .Phải công nhận rằng Quảng Nam có những con người tiên phong trong nhiều lãnh vực như chính trị , phong hóa , thơ ca ...Khi tiếng súng xâm lược của thực dân Pháp nổ ở biển Sơn Trà -Đà Nẵng ( 1858 ) thì người dân Quảng Nam - Đà Nẵng đã cùng với Nguyễn Tri Phương lập phòng tuyến chống giặc , ngăn chận bước tiến của chúng khiến chúng phải chạy vào Gia định ( 1859 ). Quảng Nam là điểm đầu tiên xuất phát phong trào chống sưu thuế . Cụ Phan chu Trinh là người đầu tiên xướng xuất thể chế dân chủ thay chế độ quân chủ ; cụ và cụ Huỳnh Thúc Kháng là những người đầu tiên cổ xúy phong trào cắt tóc ngắn để gọn gàng , mạnh mẽ .Cụ Đỗ Đăng Tuyển và cụ Châu Thượng Văn là những người đầu tiên đấu tranh bất bạo động kiểu Gandhi; tuyệt thực đến chết trong tù để đấu tranh chính trị với thực dân Pháp . Đặc biệt trong thi ca , người con Quảng Nam- Phan Khôi- là người đầu tiên xướng xuất phong trào thơ mới với bài Tình già nổi tiếng một thời .Đúng là " Đất Quảng Nam chưa mưa đà thấm " bởi vì họ rất ưu thời mẫn thế , nhạy bén với thời cuộc .
     Sắc thái văn hóa  Quảng Nam cũng mang màu sắc  sông nước , núi rừng hiểm trở .
          Dù cho cạn nước Thu Bồn 
    Ô Gia* chảy ngược , biển đông thành đồi 
         Dù cho cay đắng trăm chiều  
    Cũng không lay được tình sâu nghĩa dày 
 Con sông Thu Bồn phát nguyên từ Tí Sé , Dùi  Chiêng và xuôi về hạ nguồn chảy ra Cửa Đại .Còn sông Vu Gia từ phía tây Đại Lộc chảy xuống hợp lưu với Thu Bồn tại Giao Thủy - Quảng Huế .Thi ca dân gian hò vè ...được sáng tác ngẫu hứng trên các bãi dâu xanh hai bên bờ sông hoặc trên chuyến đò dọc lên ngược về xuôi. Trên những chuyến đò dọc có nhiều khách thương tứ xứ : người các Chú ( Tàu ) , người Chà và  ( Ấn độ )...Họ mang đến nơi đây một nền văn minh Trung Ấn hội nhập với văn minh Đại Việt . Cái rốn của sự giao lưu này là Giao Thủy Khi những con đò dọc nhổ sào xô ra từ Quảng Huế , nó sẽ tỏa ra mọi nẻo đường quê hương : Khe Rô , Quảng Đại , Trang Điền , Kim Liên , Lệ Trạch , Vân Ly , Đa Hòa ...
   Kể từ Quảng Huế xô ra 
Khe Rô , Quảng Đại , Ô Gia , Trang Điền
 hoặc 
   Kể từ Quảng Huế ra đi 
 Kim Liên , Lệ Trạch , Vân Ly , Đa Hòa 
  Tất cả các địa danh đó mang hơi hướng của quê hương mình giao lưu cùng nhau trên những chuyến đò dọc , xuôi về cửa Đại để rồi " Rạng mai đến phố đôi ta trao lời " .Đất Giao Thủy vì vậy mà có độ thấm ,độ ấm ghê gớm .
    Giao Thủy đất tốt trồng hành 
 To cây lớn củ lại lành con trai 
 Độ thấm đẫm của đất đem lại cho người dân xứ Quảng một tâm hồn ướt át , nồng thắm ân tình , được biểu đạt qua lời ăn tiếng nói hằng ngày trong các câu ca ngẫu hứng bất chợt :
      Trồng trầu thả lộn dây tiêu 
  Con đi đò dọc mẹ liều con hư 
 Đây là lời người mẹ tự nhủ với lòng khi ra vườn hái trầu bắt gặp vài dây tiêu bò lẫn với dây trầu rồi liên tưởng tới hình ảnh con gái mình vì kế sinh nhai phải buôn chuyến trên đò dọc . Trên chuyến đò dọc chở sản vật từ đầu nguồn về bán ở phố và lại chở hàng ở phố lên bán cho các chộ miền núi ."Mít non chở xuống , cá chuồn chở lên ". Trên chuyến đò dọc ấy , ai cũng tìm chỗ để ngủ qua đêm . . Họ nằm lẫn lộn , bất kể nam nữ đều dồn hết vào mui ghe chật hẹp :" Lửa gần rơm không bén cũng tròm trèm ". Người mẹ nào có con đi buôn đò dọc mà không lo chứ . Chữ " Liều "  trong câu ca nói lên kế sinh nhai nghiệt ngã. . Vì cuộc sống mà người ta còn phải làm nhiều việc hiểm nguy hơn , sá chi đò dọc .
 Nợ áo cơm phải trả lấy hình hài 

Một người con gái bị một chàng trai lừa phỉnh, cay đắng hát bên quai nôi :
Chim xanh ăn trái xoài xanh 
 Ăn no tắm mát đậu cành cây đa 
Cực lòng em phải nói ra 
 Chờ trăng trăng xế , chờ hoa hoa tàn

Người con gái đi lấy chồng  đoạn tuyệt với người tình cũ . Và còn gởi lời nhắn nhe với người cũ :
Đất Phú Hanh trồng tranh mau nhảy 
 Em gởi lời về cậu Bảy thôi thương 
Em có chồng như ngựa có cương 
 Ngõ anh anh đứng , đường trường em đi 

 Ngôn ngữ tình của người dân xứ Quảng còn có tính thật thà chơn chất " có răng nói rứa tự hồi mô đến chừ ". Ăn cục nói hòn không có nghĩa là kiểu " dùi đục chấm mắm cái "mà nói kiểu thực lòng không đĩ đưa môi mép
   Thương anh để nón về dầu 
Về nhà mẹ hỏi qua cầu gió bay 
 Tại sao người Quảng không nói " cởi áo cho nhau " mà nói " để nón về dầu ?Bởi vì " để nón " là đúng sự thật hơn .Phải chăng họ không thích nói quá !. Hai chữ " về dầu " nghe sao mà thương !Về dầu tức là về đầu trần - Thà em mưa dãi nắng dầu- chứ không nỡ nhìn Anh về chân đất đầu dầu vượt truông .

 Ấn tượng nhất là những lời ru sau ;
Giả đò mang giỏ hái dâu 
 Ghé vô thăm bạn nhức đầu khá chưa 
 Chưa khá ta băng đồng chi sá , bẻ một nồi lá vô xông 
Phải chi nên điệu vợ chồng 
 Đổ mồ hôi ta quạt , ngọn gió lồng ta che  
Đến bây giờ tôi mới hiểu cái ý nghĩa thâm thúy của câu hát , đặc biệt là hai chữ " Giả đò '" Vì sao phải vờ vịt , giả vờ , giả đò như thế ? Là bởi gia phong ngày xưa rất nghiêm . Con trai tới nhà con gái là loạn , con gái tới nhà con trai là dâm ( Nam đáo nữ phòng nam tắc loạn , nữ đáo nam phòng nữ tắc dâm ) . Nhưng ở đây không có tà ý dâm loàn chi cả - chẳng qua nghe " bạn "  nhức đầu ta ghé ta thăm và ta mong được gần kề để được quan tâm chăm sóc cho " bạn " được chu đáo .
 Cho dẫu sau này vì hoàn cảnh không ở đặng với nhau lâu dài thì cũng chỉ than lên một tiếng :
 Ân tình chưa đặng bao lâu 
 Tằm sao nỡ bỏ nghĩa dâu hỡi tằm ? 
   Thật là đằm thắm , thật là nhân hậu .
        Sắc thái , phong hóa của người dân đất Quảng gắn liền với màu xanh của bãi mía , nương dâu , của rừng sâu núi thẳm ; của sông dài tách nhánh . Nơi đây kết nối giao thoa của nhiều nền văn minh : Văn minh Champa ảnh hưởng Ấn Độ , văn minh Sa Huỳnh đại Việt ảnh hưởng Trung Hoa . Trên thế giới có những nền văn minh tựu thành trên lưu vực của những con sông như : Văn minh sông Loire , văn minh sông Nil , văn minh sông Hằng ....thì Quảng Nam quê chúng ta chắc chắn có một nền văn minh sông Thu Bồn . ..Những cuốn địa chí hiện nay chỉ mới ghép về đất đai , dân cư , kinh tế , xã hội ...chứ chưa động bút tới lãnh vực triết lý , ngôn ngữ phong hóa ,,,của địa phương mình .


         Ngôn ngữ tình trong lời ru của xứ Quảng Nam là một loại ngôn ngữ đặc thù , giàu chất triết lý nhân sinh . Nó là sự kết tinh tâm lý của đoàn lưu dân đi mỡ cõi -trong một hoàn cảnh địa lý khắc nghiệt sơn lâm chướng khí ...-do vậy mà lời ăn tiếng nói của họ thẳng thắn , bộc trực , vừa thực tế vừa bay bỗng vừa bình dân vừa điển nhã , vừa nôm na vừa bác học Hoàn cảnh địa lý , ý thức thân phận , tâm hồn phiêu lãng ...đã sản sinh ra một ngôn ngữ ru đặc thù  của một dân Quảng nam như thế . Những nhà thơ lớn như Nguyễn Du , Nguyễn Trãi ...nhờ học hỏi lời ăn tiếng nói trong dân gian mà có được những kiệt tác bất hũ.  Bùi Giáng có điều lạ là xa quê hàng mấy chục năm mà giọng nói vẫn đặc sệt tiếng Quảng Nam và trong khối lượng thơ ca đồ sộ của ông vẫn ngồn ngộn , đậm đặc ngôn từ đất Quảng .Phải chăng " ngôn ngữ tình Xứ Quảng " mãi mãi là chất liệu tươi nguyên trong tim của mỗi con người xứ Quảng !


* Ô Gia : tên gọi cũ của Vu Gia , một nhánh của sông Thu Bồn

Thứ Ba, ngày 25 tháng 2 năm 2014

Chữ TÌNH trong thơ Hoàng Lộc ( Qua thi tâp " Cho dẫu phù vân" )

Nhà thơ Hoàng Lộc 
Chữ tình hay cái tình trong thơ Hoàng Lộc không tuyền là tình yêu đôi lứa . Chữ tình trong thơ Hoàng Lộc có cả tình quê , tình bạn và cả tình đời dâu bể .Mới xem ra chữ tình trong thơ anh là tình mơ tình mộng  , tình sầu tình hận ...vì những cuộc tình dang dở , những cuộc tình mong manh chập chờn thoáng chốc . Đành là vậy , nhưng trong những cuộc tình lỡ , tình hờ , tình muộn ...vẫn cứ đan xen ẩn chứa những băn khoăn , thao thức , những khắc khoải vời vợi bao nỗi nhớ quê nhà , nhớ bạn bè và cả nỗi đau đời trong cuộc nhân sinh . Hoàng Lộc đích thị là kẻ đa tình : " Bồ tát tâm rất Phật , như ta đây đa tình "

  Ngay trong tình yêu đôi lứa , Hoàng Lộc cũng khác với những nhà thơ chuyên viết thơ tình như Xuân Diệu , Vũ Hoàng Chương , Đinh Hùng ,Nguyễn Bính ,.... Điểm khác biệt dễ thấy nhất là tư thái điềm đạm , bao dung , độ lượng của Hoàng Lộc . Tư thái nầy xuất phát từ một tình yêu vô cầu vô nhiểm .Yêu như một cái cớ để làm thơ , để thủ thỉ , để tâm sự ...chứ không phải để chiếm hữu người tình . Thi sĩ thường vẫn vậy , yêu rất nhiều mà vợ thì chỉ một  mà thôi ; khác với bọn trọc phú vợ thì nhiều mà chẳng biết yêu cho ra hồn .Hoàng Lộc tự cho mình là con bướm già đời vẫn thức :
    Năm mươi năm đời ta hoài con bướm thức 
    Hoa vàng nhà em - đêm khờ trở giấc 
    Thì ra có thiêt  mùa xuân 
    Bướm đã già rồi, tội lắm tình nhân
                                    
Hoàng Lộc là con bướm lượn lò đôi cánh  chiêm ngưỡng trên những khóm hoa . Ngay những năm đầu của bậc trung học , Hoàng Lộc đã bối rối yêu và bối rối làm thơ :
     thuở mới lớn anh rình cô bạn học 
     tháng ngày ai thơm áo trắng không ngờ
    khi cô thả tóc thề ngang cửa lớp
    là khi lòng cậu bé rối câu thơ 

 Rồi sau những cuộc tình lỡ , tình muộn , tình phụ , Hoàng Lộc vẫn lẻo đẻo đi theo con đường thơ " quá chừng cô độc "

không thể theo nhau thôi đừng ngó lại 
cô đi theo chồng ,anh đi theo thơ 

Già nửa cuộc đời đi theo thơ :

    Hơn bốn mươi năm anh cứ dật dờ 
    Con đường của thơ ngời ngời oan nghiệt
   Gần khép trần  gian mà thơ mù biệt 
   Mới hiểu ngậm ngùi mấy kẻ thành danh 

Cụm từ ngời ngời oan nghiệt nói lên nghịch lý của cuộc đời thi sĩ : ngời ngời mà oan nghiệt . Thi sĩ là người đưa ra ánh sáng những gì ẩn chứa dưới nền đất . Thi sĩ khó mà sống nỗi bằng thơ mà cũng không gì tôn vinh bằng thi sĩ . Dù sao thì dù , Hoàng Lộc vẫn đi theo thơ vẫn cột chặt thể mệnh đời mình cùng với thi ca .:
    Anh khập khiểng chân thêm ngàn bước nữa 
    Mà vẫn đành hun hút lối tình si 

 Con đường thi ca là con đường đi mà không tới

    Đi không tới bởi thôi rồi cạn kiếp 
    Gió suy vi thổi rã những cành tàn 

Rồi đến một ngày ( sắp đi xa ) anh vẫn không quên chuyện cũ :

    Rồi mắt khép cũng ngập ngừng cố sự
    Lũ mưa chiều nắng sớm ghé phân ưu 
    Một kiếp nữa với dặm ngàn lữ thứ 
    Anh còn bay đâu đó với mây trời 

Tình yêu trong thơ Hoàng Lộc chỉ là sương khói . Nó lãng đãng chập chờn trong thoáng chốc như gió thoảng mây trôi . Đó là những giọt tình  lấp lánh như sương mai trong nắng .
  Một lần gặp lại người xưa -sắp làm mẹ- :

    Cái bụng của nàng sao mà chướng vậy 
    Ta đứng trông theo bất giác đau lòng 
    Chiếc áo dưỡng thai che mười -phần -gã -ấy 
    Có phần nào sương khói của ta không ?

Có phần nào sương khói của ta không ? Chắc chắn rằng không . Chính vì vậy mà anh đau lòng !
Lắm khi nhà thơ cảm thấy mệt mõi vì tình .mệt vì tình phụ , mệt vì điều tiếng thị phi :
    Có những thứ tóc xanh phải lòng đầu bạc 
    Thì mắc chi thiên hạ lo phiền 
    Ví đống tuổi nầy rứt ra mà bán được 
    Thì chắc buổi chiều anh xuống phố cùng em  

Mệt mỏi , phiền phức quá bèn kiếm chỗ nghỉ ngơi :

    Nghỉ ngơi được rồi hỡi gã làm thơ 
    Đĩa dầu đã hao đêm còn gió nổi 
    Kiếm một chỗ nằm , nghe mình hối lỗi 
    Về một chữ tình đáng lẽ không nên 

Dầu thì hao ,  bấc thì cạn , gió vẫn nổi ,...Hối vì " một chữ tình đáng lẽ  không nên ". Trong cõi nhân sinh , tình yêu vừa là dược tố vừa là độc tố . Về điểm nầy , Tuệ Sỹ -luận gia về tánh KHÔNG - nói rất rõ : "Tình yêu và tri thức nào nhấn con người xuống vũng sình của ngu muội và ngông cuồng đặt cho nó cái tên là Ái và Kiến. Tình yêu  và tri thức nào  chắp cánh cho con người bay vào hư không vô tận , chúng được gọi là đại bi đại trí " 
      Tình yêu trong thơ Hoàng Lộc không có độc tố phiền não vì không sầu bi khổ lụy . Tình yêu trong thơ Hoàng Lộc vô cầu vô nhiểm ; cho nên dù có yêu thêm muôn kiếp nữa thì " anh vẫn bay đâu đó giữa mây trời"
   "Yêu em yêu thêm tình phụ 
    Yêu em lòng chợt từ bi bất ngờ " ( Trịnh công Sơn )

Có điều đáng trân quý ở tấm lòng nhà thơ đó là chung thủy :


   Tóc ta thay màu và em thay áo 
   Vì thế cho nên có chuyện đổi dời ...
...Ta ai hoài em ngời ngời tai kiếp 
   Tóc ta thay màu mà lòng thì không

Con đường thơ thì ngời ngời oan nghiệt , còn đường tình thì  ngời ngời tai kiếp  .Dù oan nghiệt hay tai kiếp gì  thì vẫn cứ ngời ngời . Bởi thế mới có thơ rằng :  " Cái tình là cái chi chi , dù chi chi cũng chi chi với tình ( Nguyễn công Trứ )

  Người yêu cuối  cùng quanh quẩn cuối đời cùng với nhà thơ chính là " mẹ các con "
Nếu gia đình là thánh đường thì tín đồ tình yêu trở về với gia đình , ở đó có các con và mẹ các con :

    Em thế nầy đây mà ta đã tán 
    Láng giềng ơi ! cái thuở rất không ngờ 
    Em thế nầy đây mà ta lãnh đạn 
    Có đứa phải lòng em đòi mổ bụng gã làm thơ .

Nhà thơ không chỉ ca ngợi nhan sắc một thời của "mẹ các con " mà còn cảm thán đức hạnh kham nhẫn , chịu đựng của người bạn đời trong các bước thăng trầm cùng anh . 

    Em thế nầy đây mà ta đã cưới 
    Phải cùng ta chịu chừng ấy thăng trầm 
    Từng làm vợ quan , làm vợ thằng tù tội 
    Rồi cũng đành làm vợ một tha hương 

Cuối cùng thì cái nhan sắc đáng được ngưỡng mộ nhất vẫn là diện mạo của người tình trăm năm : 
    Em thế nầy đây mà ta ngưỡng mộ 
    Tha hương tha hương hề em buồn không ?
    Tóc cũng hoa râm, ít nhiều bở ngỡ
    Vẫn ngó nhau cười bên cạnh các con  

Đúng  là " Áo xưa dù nhàu  cũng xin bạc đầu gọi mãi tên nhau " ( Trịnh công Sơn ).

  Chữ tình hay cái tình trong thơ Hoàng Lộc thật là mênh mông , chan chứa ...
  Về tình yêu quê hương đất nước đối với anh thật là đặc biệt : tình cố hương và tình cố  quốc !Càng xa quê anh càng nhớ quê . Ra đi xa cố hương xa tổ quốc đối với anh là chuyện bất đắc dĩ :

    Cây đã già đời đem bứng gốc 
    Sót đôi chút rể, vứt bên trời
    Tiếng kêu cứu gửi từ tâm đất 
    Dơ dáng hình cây đứng lẻ loi 
   
    Ta đã già rồi qua xứ khác 
    Tiêu điều thân thế bóng cây khô 
    Hiểu sao quít ngọt về Giang Bắc 
    Giỏi bấy tay trồng cũng hóa chua 

Quít trồng ở Giang nam thì rất ngọt bứng đem về trồng Giang Bắc lại hóa chua ; ấy là vì không hợp với thổ ngơi thổ nhưỡng ...Nơi xứ lạ quê người , Hoàng Lộc cảm thấy lẽ loi , đơn độc .Nhiều năm trời nơi đất khách ,Hoàng Lộc bỏ bê nghiên bút , bởi có làm thơ thì " viết cho ai , ai biết mà đưa "
        " Giao du khắp thiên hạ
          Tri âm được mấy người "

    Cơm áo nghe ra đời quá cực 
    Bỏ bê nghiên bút kể nhiều năm 
    Hiểu sao nhị cú  tam niên đắc 
    Chỉ nửa câu đây đủ khóc ròng 
  
Nhị cú  tam niên đắc : ba năm viết được hai câu ( lấy từ ý thơ của Giả Đảo ):

    Ba năm viết hai câu 
    Ngâm lên mà lệ rớt
    Tri âm  còn ai đâu
    Về núi xưa ngủ trớt 

  Còn đối với Hoàng Lộc chỉ mới nửa câu " đủ khóc ròng ". Ấy mới hiểu vì sao Bá Nha đập vở cây đàn !
  Định cư trên đất Mỹ mà Hoàng Lộc vẫn mang tâm trạng ăn nhờ ở đậu :
 
     Ngồi góc quê người , coi lá rớt 
     Bỗng mừng khi lá mắc trên cây 
     Thà khô héo chết theo cành mục 
     Hơn phải sa cơ rụng đất nầy 

Lá rụng về cội : cội nguồn quê cha đất tổ !
 Một hôm , ngồi vọng về Thái Bình Dương để định hình cõi nước :
 
    Nhiều lần anh ra biển 
    Ngó qua Thái Bình dương 
    Hun hút tầm con mắt
    Biết cõi nào Việt nam ! 


Nhớ nước nhớ quê , nhớ cả những người đồng hương Xứ Quảng ở tận ...xứ Bến Tre :
     Gởi Quảng Bến Tre 
    Dân Quảng Nam đi đâu cũng ưa lập hội 
    Đi đâu cũng  cố nối tình quê 
    Hội thơ Bảy Hiền , hội Quảng ở Cali , Boston , Atlanta  ,  Dallas 
    Sao anh mãi nao lòng vì em , Quảng- Bến -Tre 
Rồi từ trái tim đến trái tim , tình yêu mới gợi được tình yêu ; một em Quảng Bến Tre " gởi anh Quảng xa xứ "
    
     Đọc bài thơ gởi Quảng 
     Mấy chục mạng nao lòng 
     Thương anh Quảng xa xứ
     Một chử TÌNH nên THƠ

     Quê xứ hoài xa xăm 
      Biết khi mô anh về !

Tình đồng hương , tình cố hương , tình bạn bè đã khiến anh :
     Từng mơ về lại Bến Tre 

     Nôn nao vì nỗi bạn bè , đồng hương 

 Nhưng chưa về đã lo nỗi chia xa  : 

      Ra đi là chuyện trời đày 

     Về thăm cũng chỉ đôi ngày lại xa  

  Nhớ đồng hương rồi lại nhớ bạn hiền , nhớ Đồng Đức Bốn ,nhớ Đinh Trầm Ca ,...Một bửa , ngồi uống rượu với Uyên Hà ở Tennessee :
      lâu lắm mới được ngồi với bạn 
       nhắc chuyện xưa và kể chuyện nay
      một ngày nói với dễ chi đủ 
      rượu rót hoài mà không biết say 

  Đúng là " tửu phùng tri kỷ thiên bôi thiểu  "

     cùng điểm danh từng đứa bạn cũ 
     trong lòng có lúc lặng - nhìn nhau 
     bao nhiêu đứa đã không về nữa 
     thầm biết mình chẳng còn bao lâu ...

Sinh ly tử biệt là nổi đau khôn cùng của giống hữu tình . Hoàng Lộc là đệ nhất hữu tình bởi lòng anh trang trải cho nhiều người ở khắp mọi nơi : 
    nhắn bạn mai chiều lại cố quán
    thấy ai quen cũng nói lời thăm 
    thấy mỗi nàng thơ ta xiêu tán 
    đều cho ta rớt hạt lệ buồn ...

Hoàng Lộc không những yêu người mà yêu cả cuộc đời , mong cho cây đơi mãi mãi  xanh tươi , mong cho sông suối , mương rạch , mạch ngầm đủ nước nuôi cây :
     "Mùa đã khô rồi sông hết nước 
      Và ta , cây đã không còn cây 
      Mặt trời cứ tận cùng sức nóng 
     Như muốn thiêu tan trái đất nầy 

Nước sông mỗi ngày một cạn , người người đều ô trọc . Trong cái lò thiêu của trời đất , biết ai là giống hữu tình đây ?
   
 "  Giang hà nhật hạ nhân ô trọc
  Vũ trụ lô trung thục hữu tình  "
     

Người người ô trọc vì quá thực dụng rồi trở nên riết róng vô cảm :

      Không thể rồi em , đời cạn kiệt 
      Không còn những thứ để nuôi nhau 
     Để nuôi ta - nuôi tình một thuở 
     Để xanh em cho ta bạc đầu 

Con người tàn hại môi sinh , vắt cạn các nguồn tài nguyên thiên nhiên , đua nhau chiếm hữu đất đai , chiếm hữu quyền lực , tiền bạc , danh vọng ; không hề quan tâm đếm xỉa đến chữ tình , chữ nghĩa :

      Nắng rát mặt mùa - đất đã nứt 
      Cây ta duỗi thẳng những cành trơ 
      Cả những mạch ngầm nước cũng tắt 
       Chỉ mắt em còn mấy giọt khô 
Riết rồi em không còn nước mắt để khóc .

  Thế đấy , cái tình cái tâm của Hoàng Lộc bao trùm suốt cõi nhân sinh . Như Hoàng Lộc đích thị là nhà thơ đa tình - " Đa tình thị Phật tâm "
 Như anh từng thú nhận :
     Bồ tát tâm rất Phật 
     như ta đây đa tình 

Hoàng Lộc là người con yêu của xứ Quảng - là tinh hoa tích tụ của văn minh sông Thu , của đất Quảng Nam chưa mưa đà thấm. Người Quảng Nam mẫn tiệp  nhạy bén như đất - dân Quảng Nam luôn tiên phong trong các phong trào chính trị , xã hội , thi ca ( Phan Khôi là người đầu tiên khởi xướng phong trào thơ mới ).
Đất Quảng Nam  sinh ra những nhà thơ nổi tiếng như Bùi Giáng , Luân Hoán , Hoàng Lộc ,Tường Linh , Nguyễn Nho Sa Mạc , Đinh Trầm Ca ,...Đó là nhờ hấp thụ  khí thiêng sông núi - con sông Thu Bồn khởi nguyên từ dãy Trường Sơn chảy qua vùng thượng du , trung du rồi xuôi về Hội An , Cửa Đại ...đã bồi đắp nên những bãi bờ xanh dâu bát ngát .


                     (Bài nói chuyện của Phạm Đạt Nhân 
                     trong "Đêm Thơ Tình Người Xa xứ "
   
                        tổ chức tại Bến Tre vào đêm 18/2/2014)
               





Thứ Năm, ngày 13 tháng 2 năm 2014

Nói láo có thành công mãi không ?



Napoléon , một danh tướng tài ba của nước Pháp có một câu nói bất hủ: “ đừng nói láo vô ích vì nói láo chỉ thành công một lần “. Bên xứ ta cũng có một câu tương tự : “một lần bất tín , vạn lần bất tin “ . Thế mà trên đời nầy vẫn có nhiều người nói láo nhiều lần qua nhiều giai đoạn , nhiều thời kỳ kéo dài mà vẫn còn nhiều người tin ! Vì sao lại thế ?

 Tướng tài Napoléon cầm quân trăm trận trăm thắng ;  vậy mà có lần  ông cũng bị thất trận . Ông không hề che dấu hay nói khoác , mà chỉ dõng dạc tuyên bố trước ba quân rằng : “ Ta chỉ thua một trận giặc chứ ta không thua giặc “. Câu nói thể hiện sự trung thực có pha chút tự tin và lòng kiêu dũng . Nó gây lòng tin tưởng và sự phấn chấn trong toàn quân ; thua keo nầy ta bày keo khác .
  Nói láo chỉ thành công một lần ..
Rõ ràng trong một số trường hợp câu nầy thật không sai .Nhớ truyện U Vương nước Tàu vì muốn nghe tiếng cười của nàng Bao Tự mà phóng hỏa đốt phong hỏa đài để  lừa các chư hầu kéo binh tiếp cứu . Đến nơi mới biết bị lừa đành tiu nghỉu kéo binh trở về trong tiếng cười sảng khoái của U Vương và người đẹp . Về sau khi có nguy biến thật thì U Vương đã không còn được chư hầu nào tới cứu cả và đành ngậm ngùi nhận ra cái sai lầm quá lớn của mình trước khi bỏ mạng .
  Truyện cổ dân gian cũng kể một câu truyện của một cậu bé hay thích nói dối để lừa mọi người ; lấy đó làm trò vui . Một hôm cậu chạy ra khỏi nhà và kêu toáng “nhà cháy” . Hàng xóm chạy đến , không thấy nhà cháy , biết đã bị lừa mọi người tức giận quay về . Sau đó đến khi nhà cậu bé chẳng may bị cháy thật ; cậu kêu cứu rát cả họng chẳng thấy bóng người nào chạy đến ; vì họ cứ tưởng cậu lại đùa nghịch như  lần trước !

 Đúng là nói láo chỉ thành công một lần ! Một lần thất tín , vạn lần bất tin .
  Tuy nhiên trên thực tế vẫn có nhiều người nói láo nhiều lần , qua nhiều giai đoạn mà vẫn có được lòng tin ở nhiều người . Đây là vấn đề  !
  Nói láo mà đạt đến trình độ nầy thì được mọi người “ thán phục “ là nói láo có sách . Thật ra không có sách  nào dạy nói láo ; mà chỉ là một sự nói láo có chủ trương có sách lược , có bí quyết !.
Ví dụ như sách  lược tạo ra một huyền thoại được nhiều người lập đi lập lại mãi một điều gì đó cũng khiến người ta tin. Chẳng hạn có tin đồn đoạn đường nào đó có ma . Tin đồn lan xa . Nhiều người nói ; nói nhiều lần …Thét rồi ai cũng tin là đoạn đường ấy có ma thật . Thậm chí người ban đầu phao tin đồn láo đó cũng ngại đi qua đoạn đường đó vì “ nghe đồn rằng ở đó có ma “ . Đó là hiện tượng tâm lý tự kỷ ám thị ..
 Cũng như diễn viên sân khấu suốt đời chỉ thủ vai một nhân vật ; quen nhập vai trên sân khấu diễn viên mặc định mình là nhân vật đó ở ngoài đời ..

Dùng huyền thoại để tăng hiệu quả lời nói  là cách đại chúng hóa xã hội hóa  điều muốn nói  .. Chẳng thế mà các sản phẩm  được hằng ngày quảng cáo rầm rộ trên TV, tràn lan trên khắp phố xá , hang cùng ngỏ hẻm . Tên sản phẩm được người ta ghi nhớ , chấp nhận dùng thử
  Sự dối trá ngày nay dần được hợp thức hóa và trở thành mode trong giao tiếp hàng ngày  kiểu ‘ đắc nhân tâm ‘. Gặp nhau câu đầu tiên là một câu khen “ Anh bận rày phong độ quá “ hoặc “ Chị hôm nay trông xinh ra , trẻ ra …” Người được khen vẫn tin là mình phong độ thật , trẻ thật , xinh thật , (mặc dù người khen không có ý khen thật ).
, vì “ ai cũng nói vậy “.
  Những lời lẽ dối trá dua nịnh , tâng bốc nhiều khi làm hư hõng con người ta . Vua , quan hư hõng cũng vì sự ton hót bợ đỡ của nịnh thần .
   Có câu chuyện cổ tích kể một vị vua bị lừa thậm chí cởi truồng mà không hay cũng vì bọn nình thần dối trá . Ngày nọ có hai tên thợ may đến cung vua lãnh may cho vua bộ hoàng bào bằng vàng . Chúng lãnh vàng xong , hàng ngày vào phòng giả bộ cắt cắt may may . Bọn chúng tung tin rằng bộ đồ này rất đặc biệt , chỉ người nào thông minh mới nhìn thấy được mà thôi . Đến hôm nhà vua thử bộ đồ “ không thấy “ thì cả đám nịnh thần đều khen là tuyệt đẹp “ là “ quý phái “ ,vv…Thậm chí nhà vua cũng nghĩ là mình đang mặc hòang bào  “ lộng lẫy’ , mà vì mình không thông minh nên không nhìn thấy đó thôi .. Nếu không có cậu bé thật thà reo lớn “ nhà vua cởi truồng’ thì không biết nhà vua còn bị những lời dối trá gây ảo tưởng và làm trò cười đến bao giờ .
   Nói láo bằng cách tạo ra huyền thoại cũng là sách lược của Hitler- nhà độc tài phát xít Đức -  Hitler cố tình dịch sai , hiểu lệch triết lý siêu nhân của Nieztche – triết gia của Đức . Bộ máy thông tin tuyên truyền của Đức Quốc xã  rao giảng  rằng dân tộc Đức là dân tộc siêu nhân , rằng chủng tộc Đức là chủng tộc ưu việt và rằng nước Đức xứng đáng làm bá chủ hoàn cầu .. Người dân Đức lúc bấy giờ bị nhồi nhét tư tưởng siêu nhân rồi tôn thờ Quốc trưởng Hitler như một vị thánh . Huyền thoại siêu nhân ăn sâu vào trong  huyết quản của dân Đức . Do vậy mà  khi xung trận lính Đức cứ tưởng mình là siêu nhân nên không sợ chết ; cũng vì thế mà Đức quốc xã đã chiếm gần hết Châu Âu .
  Ngoài sách lược tạo ra huyền thoại còn có bí quyết THAY ĐỔI CÁCH NÓI LÁO . Khi cảm thấy nói láo nhiều lần sợ người ta không còn tin nữa bèn nghĩ ra cách nói láo mới – kiểu bình mới rượu cũ .. Chú Cuội là nhân vật điển hình về xão thuật nầy .Cuội lừa gạt chú thím mình không biết bao nhiêu lần mà lần nào cũng thành công cũng là nhờ biết thay đổi cách nói láo tùy tình huống , tùy thời điểm , tùy hoàn cảnh , tùy địa điểm , không gian thích ứng .Vì vậy cho nên mới có thành ngữ nói láo như cuội , hứa cuội , …
 Một trong những hình thức thay đổi cách nói láo là đổi cách gọi tên sự vật , sự việc để đánh tráo khái niệm hay ý nghĩa của một danh từ , của một cụm từ vốn ổn định trong tự điển .. Để cho người ta dễ dàng tin theo mình trước một sự việc  nên phải đánh tráo một khái niệm nầy bằng một khái niệm khác .Ví dụ có một phóng viên nhà báo bào chữa cho hành vi nhận tiền hối lộ của một quan tham , anh ta dùng cụm từ hoa mỹ rối loạn cảm xúc !
Đánh tráo cụm từ ham tiền hám lợi bằng mỹ từ rối loạn cảm xúc !
  Gần đây lại xuất hiện cụm từ “ nhà ngoại cảm “thay cho từ “ thầy bói “, “ phù thủy “. Trong tự điển chỉ có các từ chiêm tinh gia , nhà tiên tri ,nhà toán số ( như Trạng Trình Nguyễn Bỉnh Khiêm )chứ không có từ “ nhà ngoại cảm “ .
 Các “nhà ngoại cảm “ nầy thi nhau tham gia tìm mộ liệt sĩ và được bộ trưởng LĐTBXH cấp giấy khen . Về sau , khi phát hiện hài cốt được tìm thấy chỉ là xương thú thì mọi người kinh hoàng cho cái láo đã đến mức thượng thừa ! Việc phát hiện sự vụ lừa dối nầy đã khiến cho bà bộ trưởng lấy làm bàng hoàng và vô cùng hối hận vì đã trot tin những kẻ lừa đảo  !
  Cũng trong những năm gần đây có một khoa học mới gọi là khoa học tiềm năng để thay cho “ khoa học huyền bí “ ( sciène mystère ). Nhà nước lại mở ra viện nghiên cứu ứng dụng tiềm năng con người với kinh phí đầu tư đáng kể .. Các nhà ngoại  cảm là thành viên , là học viên của viện nầy . Sự đánh tráo khái niệm nầy không biết sẽ còn gây ra hệ lụy gì nữa đây .
 Riết rồi sự dối trá lừa mỵ đã được xã hội hóa . Ngay trong nhà trường cũng không tránh khỏi . Dẫn học sinh đi  du lịch , dã ngoại thường được thay thế bằng cụm từ “ Về nguồn “ , “ Tìm hiểu lịch sử “ , vv…Người lớn không trung thực khó mà giáo dục trẻ con thật thà . Nhiều học sinh mang giấy khen giả về khoe với phụ huynh để vòi tiền . Thầy cô thì lập thành tích bằng cách nâng điểm  cho học sinh vô tội vạ , báo cáo không đúng thực trạng chất lượng  học sinh , tạo ra tình trạng vô số học sinh ngồi nhầm lớp .
    Thật là trớ trêu khi  vừa rồi có một phụ huynh phát hiện con mình ngồi nhầm lớp bèn đến nhà giáo viên chủ nhiệm " xin cho cháu được ở lại lớp vì tôi thấy học lực cháu học còn yếu quá  " . Cô giáo xanh mặt phản đối : Bảng điểm đây , anh xem đi , cháu đủ năm phẩy mà , làm sao ở lại lớp cho được !! Vậy đó , người ta đôi khi lại không dám chấp nhận sự thật ; bằng lòng và khư khư tin vào cả những dối trá do mình tạo ra .
 Trung thực là nét đẹp văn hóa , là thuộc tính của văn minh . Còn nhớ em bé Nhật 9 tuổi trong trận động đất sóng thần năm nào đã làm nhiều người kinh ngạc thán phục . Tại sao lại thán phục khi đó chỉ là một hành động đúng đắn tất nhiên của một con người có giáo dục ? Phải chăng xã hội ta đã nhiễu nhương đến mức phải kinh ngạc trước một sự việc bình thường của một con người văn minh !

Đất nước ta , dân tộc ta , vốn có truyền thống tín nghĩa từ rất lâu dời . Con đường hán học xuống dốc khiến cho  cái đạo của người quân tử bị mai một . Khái niệm người quân tử bị nhòe đi trong ký ức của mọi người .
 Con người chính nhân quân tử phải có đầy đủ các đức tính : nhân , nghĩa , lễ , trí , tín .. Trong đó chữ tín rất quan trọng về phương diện lập thân .. Bởi vì người xưa từng nói : Nhân vô tín bất lập ! Người quân tử nói ra điều gì mà họ có khả năng làm được , không nói suông , hứa suông : Quân tử nhất ngôn . Chính vì vậy mà người quân tử thường vô cùng cẩn trong trong lời nói của mình bởi vì nhất ngôn ký xuất tứ mã nan truy ! Trái lại những kẻ tiểu nhân thì lúc nào cũng ngoa ngôn xão ngữ !

Nói láo có thể thành công nhiều lần nhưng không thể thành công mãi được .. Bởi sự thật muôn đời vẫn là sự thật .Galilé bị giáo hội Ky Tô đưa ra tòa án dị giáo về tội đã nói trái đất quay , ngược lại với quan điểm của giáo hội  . Sau khi  phải tuyên bố theo những gì giáo hội bắt buộc ; ông mới được tha . Nhưng khi quay trở xuống dưới chỗ ngồi ông lại lẩm bẩm :“dù sao trái đất vẫn quay”. Thật là một con người chân chính !
   Nói láo - ngoài một số trường hợp nhân đạo như bác sĩ nói dối tình trạng bệnh của bệnh nhân – không những không thành công mãi được mà còn để lại những di chứng khôn lường cho nền văn minh văn hóa của cả dân tộc .



Thứ Bảy, ngày 08 tháng 2 năm 2014

Người Thầy của tôi

Thầy Nguyễn Đăng Thục (1909-1999)
Cô bất cô, cô tai cô tai” (*)
Tôi xin mạn phép Khổng Tử buông lời bắt chước:
Sư bất tai, sư tai sư tai!?- Thầy không ra Thầy mà cũng bảo là Thầy sao?!
Hạnh phúc cho ai có được một người Thầy đúng nghĩa, chính danh.
Tôi may mắn có được cái hạnh phúc ấy. Thầy tôi là một giáo sư lão thành vừa dạy học vừa viết sách vừa thực sống theo những gì mình nói và viết – suốt một đời làm nghề giáo. Cha ông ta từ xa xưa đã có tập quán ngày tết rất đẹp - Mùng một tết cha, mùng hai tết mẹ, mùng ba tết thầy. Theo phong tục xưa ấy như bao người khác tôi đến thăm chúc tết Thầy của tôi vào mùng ba tết.

Nơi ở của Thầy một ngôi nhà ngói cổ đơn sơ giữa một khu vườn rộng trồng cây ăn trái. Ngôi nhà có ba gian. Gian chính thờ Phật, hai gian bên thờ ông bà và tiếp khách. Thầy mời tôi ngồi. Thầy tiếp tôi như tiếp một đồng nghiệp. Tôi ngồi xếp chân ở một bên không trực diện với Thầy. Thầy tự tay châm trà, còn tôi đưa hai tay vin vào tách trà.
Đó là cách giao tiếp với người lớn mà học sinh ngày đó được dạy như vậy. Thầy say sưa giảng dạy cho tôi về những nghiên cứu và những bài viết của Thầy thuộc nhiều đề tài song chung quy là Tinh thần Tam giáo Đồng Nguyên (Nho -Phật -Lão quy về một nguồn).Tôn chỉ của thầy là “đồng quy nhi thù đồ, nhất trí nhi bách lự”. Nghĩa là quy về chỗ giống nhau nhưng bằng nhiều đường khác nhau. Nhiều cách nghĩ khác nhau nhưng rốt cùng cũng nhất trí với nhau.
 Với tôn chỉ nầy thì không những chỉ có Nho -Phật -Lão đồng quy mà sẽ có sự hòa đồng giữa triết lý đông và tây, giữa khoa học và đạo học. Bởi vì “ở phương đông có thánh nhân ra đời thì tâm ấy đồng, ý ấy đồng; ở phương tây có thánh nhân ra đời thì tâm ấy đồng, ý ấy đồng”. Nếu đạt được tôn chỉ nầy thì sẽ không có hận thù không có chiến tranh, không còn khủng bố. Bấy giờ sẽ bốn biển một nhà, năm châu một chợ.
Theo Thầy, sự hòa đồng trên chỉ có thể thành tựu ở Việt Nam. Vì hoàn cảnh địa lý và vị trí đắc địa mang tính tượng Trời của Việt Nam là giao điểm cho đồng quy, hòa đồng mọi tư tưởng dị biệt. Việt Nam là ngã tư của những nền văn minh trên thế giới (carefour de civilization) .Theo thầy thì hai chữ Giao Chỉ, Giao Châu là con đường gặp gỡ Trung - Ấn, Á – Âu chứ không phải là hai ngón chân cái giao nhau như nhiều người lầm tưởng. Không hiểu được điều này thì cũng chẳng hiểu được vì sao có tiết xuân kia.
Cứ mùng ba tết hàng năm tôi lại cảm thấy như mình có được món quà tết quý giá nhất đó là được tới chúc tết Thầy để được nghe, được chiêm nghiệm những điều mới mẻ nhất không chỉ từ những lời nói, trang viết mà từ chính cuộc sống của Thầy. Hoài bão cả một đời của Thầy là xây dựng một nền Quốc học cho Việt Nam, một nền văn hóa thuần túy Việt Nam mà tinh thần tam giáo đồng nguyên là cốt lõi của nền văn hóa đó. Quốc học được xem như một giáo trình bắt buộc giảng dạy ở các đại học. Quốc học được coi như là cái gốc vững chắc để đón nhận những nhánh văn hóa ngoại lai cấy ghép vào. Nếu cái gốc không vững chắc thì sự cấy ghép sẽ không tựu thành, thậm chí có nguy cơ lai căng mất gốc. 

 Giáo sư Heinrich Zimmer cho rằng nền giáo dục cũng như triết học Á đông là ở  nếp sống chứ không phải ở lý thuyết đầu môi. Điều quan trọng không phải là những gì Thầy viết, điều quan trọng là những điều Thầy thực sống với những gì đã viết. Điều quan trọng không phải là ngôn thuyết mà là thân giáo. Không phải dùng lời thuyết giáo suông mà lấy bản thân làm gương mẫu, dùng tâm mình để chuyển tánh (transformation ). Trong con người của Thầy có ba dòng chảy: Khổng, Phật, Lão. Về Khổng giáo,Thầy tổ chức gia đình thành một nếp sống nho phong, lễ giáo; hành xử giao tiếp ngoài xã hội với một phong thái điềm đạm, khiêm cung, tín nghĩa, tiết độ. Về Phật giáo, Thầy đã chọn đây là bến đỗ tâm linh; về Lão giáo, Thầy sống theo nếp nhàn của Lão Trang; nhàn nhã tự nhiên trong cái đa đoan bận rộn – lấy cái làm mà không làm, lấy cái không làm mà làm (dĩ vi nhi vô vi, dĩ vô vi nhi vô bất vi).

 Một số tác phẩm của giáo sư tiến sĩ Nguyễn Đăng Thục 
 Vừa giảng bài trên giảng đường, vừa đảm nhiệm chức trưởng khoa, vừa liên tục cho ra đời nhiều đầu sách, vừa nhận làm patron cho sinh viên cao học vv… nhưng lúc nào Thầy cũng ung dung tự tại. Chính nếp sống của Thầy, tư cách phong thái của Thầy đã cảm hóa được biết bao kẻ hậu học, dạy về đạo, viết về đạo, sống trong đạo, không màng danh lợi. Trong bốn mươi năm tuổi nghề Thầy đã cho ra đời trên năm mươi tác phẩm văn học, đạo học, triết học. Học trò của Thầy nhiều người đã thành danh.

Nghề nào cũng phải có đạo của nghề đó. Cái đạo của nghề dạy học là lòng yêu thương học sinh. Không những yêu thương mà còn phải biết trân quý mầm non của đất nước. Nhà vi trùng học Yersin có một câu nói rất hay về đạo làm thầy: Ta đến với một đứa trẻ vì một lòng thương và một lòng kính. Thương vì hiện tại của em và kính vì tương lai mà em có thể có.Làm thầy mà không biết yêu thương học trò không biết nâng niu trân trọng tương lai của học trò, không mô phạm chuẩn mực thì đâu phải là thầy!Sư bất tai sư tai sư tai?!

Ngày xuân đi thăm thầy cũ gợi lại trong tôi nỗi niềm trắc ẩn trước thực trạng của giáo dục hiện nay. Biết bao người đã mong chờ và tự hỏi không biết trong lần cải cách tới có thay đổi được gì không? Riêng tôi, tôi may mắn có được một người Thầy đúng nghĩa, chính danh.

Thầy tôi đã giảng về đạo, viết về đạo và thực sống trong đạo  với những gì Thầy nói Thầy viết trong suốt cuộc đời làm nghề dạy học!

(*) Cô là cái cốc uống rượu có góc vuông . Về sau cốc uống rượu không có góc vuông nữa vẫn được gọi là cô .
 Trong thuyết chính danh Khổng Tử than : Cốc không là cốc, cũng gọi cốc sao, cũng gọi cốc sao ?!

Thứ Năm, ngày 05 tháng 12 năm 2013

Sư tử trùng đục sư tử nhục

  Sư tử là vua của các giống thú , mạnh mẽ , can đảm , oai nghiêm , mau lẹ , quyết đoán hơn các giống thú khác . Vì vậy nên các kinh giáo của nhà Phật thường ví Phật với sư tử , và tiếng thuyết pháp của Phật được ví như tiếng hống của con sư tử . Nếu tiếng gầm tiếng hống của con sư tử làm cho liệt não của các loài thú dữ thì pháp âm của Phật có thể hàng phục thiên ma , phá tan tà thuyết ác kiến . Chân lý của Đức Phật từ ngày được khai phá vén mở cách nay hơn 2500 năm , có thể bị hoài nghi , báng bổ bởi chính những người trong tăng đoàn , giáo đoàn của ngài ; cũng như con vi trùng trong thân của sư tử làm hại nhục thân của sư tử . Khi các tu sĩ không giữ nghiêm giới luật thì uy tín của đạo Phật sẽ xuống cấp . Nhất là vào thời mạt pháp , Phật giáo không còn là đạo giáo mà chỉ còn là hình thức tôn giáo . Và lúc bấy giờ giáo quyền sẽ rơi vào tay của thế quyền .
    Trong thời gian gần đây , qua các nguồn thông tin mạng , báo đài đã phơi bày tình trạng của nhiều vị sư phá giới . Xin đơn cử một số trường hợp sau đây :
  - Trường hợp của những thượng tọa đại đức tham gia các hoạt động chính trị như đại đức Thích Thanh Cường  . Đại đức  Thích Thanh Cường là ủy viên nghi lễ trung ương , chánh văn phòng Phật giáo tỉnh Hải Dương có lập trang  Facebook . Trên trang cá nhân ông đăng hình bản thân mặc áo tràng , đội mũ công an và chào theo kiểu quân đội . Nội dung trên face còn có đăng bài hát " Như có Bác Hồ " nhân kỷ niệm ngày 30/4 . Và hình ảnh đại đức đại diện Phật giáo trao cờ cho bí thư tỉnh đoàn Hải Dương trong chương trình " Tô thắm màu cờ " ( tất cả 10 lá , mỗi lá 12 triệu ).
  - Trường hợp Thượng Tọa Thích Thanh Quyết với tư cách là đại biểu quốc hội lên án những người đấu tranh cho nhân quyền , dân chủ , ca ngợi nền an ninh chính trị , ca ngợi ngành công an và dùng từ "đồng chí" để gọi công an như là một cán bộ thực thụ .
  Ngoài ra còn một số trường hợp phá giới :
  - Một chú tiểu ở chùa Huỳnh Kim (Gò Vấp ) ham vui đi theo trang điểm cho các cô gái dự thi hoa hậu VN
  -Một ni cô ở Quảng Ninh đi thi " Việt Nam Idol "
  -Một thầy tăng đi xem ca nhạc nổi hứng lên sân khấu và xin được hôn môi ca sĩ
  Một số ni cô ở chùa Pháp Hải ( Bình Chánh ) hóa trang mặc quân phục trình diễn văn nghệ trong mùa " an cư "
   Tệ hại hơn nữa lại có sư vừa phạm giới vừa phạm pháp như mượn tiền tỷ của Phật tử đem sổ đỏ của nhà chùa đi cầm . Có sư đánh người , dời tượng gổ và thay tượng gỗ bặng tượng mới đúc giống mình . Có sư phạm giới dâm dục , rồi giết người ...
  Tất cả những sự vụ trên đây đã gây ra hậu quả gì và bắt nguồn từ nguyên nhân nào ?
  Về mặt hậu quả thì đã rõ : Phật tử thì hoang mang dao động , lòng tin Phật thì bị xoáy mòn lung lay mất hướng ; uy tín của tăng đoàn bị tổn thương , kẻ xấu có cơ hội báng bổ bôi nhọ .
  Thế còn nguyên nhân nguyên ủy của sự vụ trên là gì ?
  Trước hết ta có thể xếp có ba loại sư: Một là loại vốn chân tu có tâm nguyện dấn thân nhập thế nhưng vì chưa đủ nội lực nên bị đời tục hóa . Loại thứ hai là xuất gia đầu Phật với mưu toan mượn đạo tạo đời chứ không phải phát " Bồ đề tâm " . Còn loại thứ ba là do thế quyền đặt để con người  vào giáo hội để khuynh loát , định hướng giáo hội đi theo con đường của mình . Cả ba loại trên đều được xem là giấy bạc giả của nhà chùa .Theo giáo  pháp của nhà Phật thì Phật pháp không lìa Thế gian pháp . Cả hai pháp giới nầy không lìa nhau như hai mặt của một đồng xu , như cùng một ly nước chanh -quấy lên thì đục để lắng thì trong . Vì vậy cũng không thiếu những nhà tu hành chân chính vì tâm nguyện " tự độ , độ tha" mà phải dấn thân nhấp thế như thiền sư Vạn Hạnh thời Lý . Sống trong hồng trần để thánh hóa cuộc đời mà không bị cuộc đời tục hóa . Thế nhưng môi trường văn hóa , tình trạng xã hội của Việt nam hiện tại đã tạo ra nhiều nghịch cảnh cho việc hoàng dương chánh pháp . Đó là tình trạng bất ổn trong xã hội : kinh tế khủng hoảng , tội phạm gia tăng .., đặc biệt quá nghèo nàn về văn hóa tâm linh . Bây giờ người ta tôn thờ chủ nghĩa kim tiền , chủ nghĩa thực dụng , coi đồng tiền có sức mạnh vạn năng . Thâm chí có người cho rằng  bây giờ người ta tôn thờ chủ nghĩa tồn tại thú vật . Những thắc mắc siêu hình , những băn khoăn khắc khoải về những vấn đề tâm linh , những trầm tư về lẽ sống chết  nhường chỗ cho những mưu cầu toan tính để thỏa mãn những nhu cầu sở hữu , nhu cầu quyền lực , nhu cầu lợi ích , nhu cầu trở thành người nổi tiếng ... Các bậc thang giá trị tinh thần bị đảo lộn . Sự băng hoại của xã hội đã xâm thực vào mảnh đất của nhà trường và len lõi cả vào chốn già lam tịnh xứ . Đó là một trong những nguyên nhân sâu xa gây ra tình trạng bát nháo , quái gỡ trong giới tu hành đã nói ở trên .
    Một nguyên nhân nữa không kém phần quan trọng là trong con mắt của nhà cầm quyền Phật giáo đơn thuần chỉ là một tôn giáo , một tín ngưỡng . Thật ra , ngoài hình thức tôn giáo , cốt tủy của đạo Phật là nguồn TUỆ GIÁC LỚN ( đại trí tuệ ) và một nguồn YÊU THƯƠNG LỚN ( đại từ bi ) . Tình yêu và trí tuệ của đạo Phật có khả năng giúp cho chính quyền chọn một con đường sáng , hóa giải mọi hận thù và sai biệt , mang lại hạnh phúc cho dân tộc . Vì coi đạo Phật chỉ đơn thuần là một tôn giáo nên nhà nước muốn chính trị hóa giáo quyền và thế tục hóa giáo hội . Từ đó nảy sinh ra cụm từ " SƯ QUỐC DOANH" , GIÁO HỘI QUÓC DOANH . Đúng ra giáo quyền và thế quyền là hai thực thể tách biệt , không cần can thiệp vào nhau nhưng có thể giúp nhau về phương diện tâm linh , đạo đức . Ngày xưa Lý Thái Tổ giúp Phật giáo xây dựng chùa tháp tự viện ; ngược lại sư Vạn Hạnh với tư cách là quốc sư chỉ bày cho vua về đường lối kinh tế , văn hóa , đạo đức và chính trị . Vua không kiểm soát giáo hội và thiền sư cũng không nhận một trách vụ gì trong guồng máy chính trị . Ngày nay các vị xuất gia lại bị mời làm đại biểu quốc hội , thành viên hội đồng nhân dân các cấp , vv,,Đây là nguyên nhân khiến cho các nhà sư đánh mất oai nghi tế hạnh của người xuất gia . ngày xưa cái lễ của quốc vương và cái lễ của pháp vương được phân định rạch ròi . Pháp vương không phải thi lễ đối với quốc vương . Có một câu truyện thú vị như sau :Vào đời Tống ,Vương Tử nước Cao Ly là Nghĩa Thân sang Trung Hoa tìm hiểu Phật giáo Hoa Nghiêm Tông . Vua Tống sắc chỉ cho người đi đón rước trọng thị . Nghĩa Thân đến đâu thì đoàn rước rầm rộ đến đó . Nhưng khi đến Kim Sơn , thiền sư Phật Ấn chỉ ngồi mà tiếp nhận cống nạp . Dương Kiệt ngạc nhiên hỏi Phật Ấn , Phật Ấn đáp : " Nghĩa Thân là Vương tử  nước ngoài , nhưng luật của người xứ ta không phân biệt biên vực quốc gia , do đó không vì Nghĩa Thân là vương tử được triều đình tiếp đãi như như khách mà sư phải theo cách tiếp đãi của triều đình . Triết Tông biết việc đó rất khâm phục thái độ của Phật Ấn . Về sau vua mang chiếc áo của Cao Ly tăng cho Phật Ấn . Sư Việt Nam ngày nay tham gia chính quyền nhận giấy khen , huân huy chương ...;thậm chí có sư đăng đàn thuyết pháp mà nói toàn chuyện chính trị . Những cụm từ " sư quốc doanh , giáo hội quốc doanh " rõ ràng cho ta thấy  Phật giáo chì còn là một thứ tôn giáo công cụ , một doanh nghiệp nhà nước . Ai cũng thấy  giáo quyền Vatican của Ki- tô giáo có một tổ chức giáo quyền nghiêm minh chặt chẻ . Các linh mục , cha xứ trên toàn thế giới phải tuân thủ theo luật lệ của giáo quyền Vatican .
      Phật giáo không có giáo quyền như nghiêm minh Ki- Tô giáo , vì bản chất của đạo Phật là nặng tính tự giác giác tha  . Ngay từ thời đức Phật còn tại thế , chỉ có tăng đoàn , giáo đoàn chứ không có giáo hội .
   Nếu nhìn đạo Phật như một đạo giáo , một triết lý nhân sinh , một cứu cánh giải thoát thì ta vẫn còn thấy có nhiều bậc chân tu đang âm thầm tu tập thiền định , trì chú tụng kinh niệm Phật , sống một cuộc đới phạm hạnh . Ngay cả những cư sĩ tại gia vẫn còn nhiều người chuyên tâm dịch kinh , trước tác làm giàu cho văn hóa Phật giáo . Đáng được ca ngợi tán thán nhất là đại đức Thích Tâm Mẫn đã làm một cuộc hành trình xuyên Việt nhất bộ nhất bái ròng rã bốn năm trời .
  Trong một xã hội vàng thau lẫn lộn khó phân biệt được đâu là chân tu đâu là giả tu . Những giấy bạc giả của nhà chùa là những con vi trùng đục khoét thân thể của con sư tử . Chúng đã , đang làm mất uy tín của giáo hội ; làm mất niềm tin  của phật tử . Mặc dù vậy đạo pháp vẫn muôn đời tồn tại trong mạch sống của dân tộc
 
 Trong thời mạt pháp khó mà tránh được pháp nạn . Phật giáo không chỉ là một tôn giáo mà còn là một đạo giáo . Đã là đạo thì không bao giờ mất . Mất chăng là lòng người mất đạo . Đức Khổng Tử nói : " Đạo không xa người , chỉ có người làm cho đạo xa người ấy chẳng phải là đạo . " .Những giấy bạc giả của nhà chùa đã làm cho người xa đạo nhưng không thể thủ tiêu được đạo , không thể làm tắt tiếng gầm của con sư tử chánh pháp .
                     Sư tử hống hề phương thảo lục 
                      Tượng vương hồi xứ duyệt hoa hồng 

Thứ Hai, ngày 04 tháng 11 năm 2013

Trầm tích





   Triều Đông Hải rền vang cơn sấm vọng 
   Thái Bình Dương dậy sóng buổi sơ khai 
   Nào ai biết giữa dòng sâu lắng đọng 
   Ngàn năm xưa trầm tích biết bao trai