Thứ Hai, ngày 04 tháng 5 năm 2015

DO ĐÂU XÃ HỘI BĂNG HOẠI (*)



       Không ít người đã nhận ra xã hội Việt Nam băng hoại đến mức báo động . Hằng ngày báo , đài đưa tin cướp , giết , hiếp xảy ra nhan nhản - ngày ngày bạo lực diễn ra đây đó . Quan hệ giữa người và người càng ngày càng xấu đi . Tình người riết róng , cạn kiệt đến vô cảm . Tình yêu đôi lứa không còn thơ mộng , lãng mạn mà chỉ còn là  tình dục . Đời sống tâm linh nghèo nàn , vật dục lên ngôi . Tâm tính số đông nóng nảy , sân si ...lúc nào cũng sẵn sàng cự cãi , ẩu đã . Tình đồng bào , đồng loại nhường chỗ cho đồng tiền vạn năng .  Có người cho rằng quan hệ giữa người và người chỉ còn là tồn tại thú vật . Tệ hại nhất là nói láo trở nên mốt thời thượng và được xã hội hóa . Sự dối trá , lừa mị , tráo trở len lỏi đến mọi ngỏ ngách của cuộc sống . Do đâu và vì sao xã hội băng hoại đến vậy ? Phải chăng đó là do tôn giáo đã bị thế quyền tục hóa nhằm phục vụ chính trị .

   Việt Nam có nhiều tôn giáo và các tôn giáo đó có cùng mẫu số chung :đề cao lòng yêu thương , xóa bỏ hận thù , đối xử bình đẳng , nhân bản .Chiến tranh là môi trường xông ướp , huân tập lòng hận thù giữa hai phe tham chiến . Tệ hơn nữa là khai thác hận thù để xúc tiến chiến tranh .Sau chiến tranh chỉ có tôn giáo là có khả năng hóa giải hận thù . Thế nhưng các tôn giáo này càng đánh mất bản chất và thiên chức vốn có của mình do thế quyền lấn áp giáo quyền .
 Sách Hiến pháp và quy luật của dòng Chúa Cứu thế trang 30 chương 1 ghi rõ : " Chúng ta đặc biệt phải chăm sóc người nghèo , người thấp hèn và đặc biệt là người bị áp bức . Việc rao giảng cho những người nầy là dấu chỉ của sự việc thiên sai " Phục vụ cho những người nầy là phục vụ cho Chúa . Nhà thờ và các Thiên sứ đã thực hiện đúng hiến pháp và quy luật do tòa thánh Vatican duyệt y . Các vị linh mục , các bà soeur ..luôn có mặt ở các bệnh viện , các nơi xảy ra đại dịch , ...để giúp đở những người nghèo hèn , khốn khó , cơ nhở ...
 Sau ngày 30/4/75 những anh em thương phế binh của chế độ cũ bị gạt ra khỏi đời sống xã hội . Nhà thờ Chúa Cứu Thế ở đường Kỳ Đồng Saigon đã tổ chức một chương trình khám bệnh cho 150 thương phế binh định kỳ mỗi tháng 2 lần . . Nhà thờ Chúa Cứu Thế Kỳ Đồng ( SG ) đúng là nhà của Chúa lòng lành , là điểm đến duy nhất , quen thuộc , ấm áp của các thương phế binh bên thua cuộc . Đùng một cái , chẳng biết tại sao vào ngày 14/4 /2015 chương trình trên bị hủy bỏ . Ngôi nhà thờ của Chúa Cứu Thế bỗng đóng sập cửa , quay lưng , xua đuổi với những anh em thương phế binh kia . Sự vụ nầy gây ngỡ ngàng , sửng sốt không những cho thương phế binh mà kể cả các bác sĩ , nhân viên phục vụ cũng sững sờ , đau xót ...
  Người chủ trương hoạch định chương trình trên là linh mục Giuse Nguyễn Ngọc Bích . Lệnh hủy bỏ chương trình trên cũng do linh mục nầy ban ra . Linh mục Nguyễn Ngọc Bích cũng chỉ thừa lệnh bề trên là Tòa Giám Mục . Nhưng chắc chắn trên tòa Tổng Giám mục ắt phải có ý kiến của nhà nước . Được biết linh mục Nguyễn Ngọc Bích có nhiều cơ hội thăng tiến lên chức giám mục nên có thể vì thế không muốn làm mất lòng tổ chức . Linh mục thà mất lòng Chúa đành quay lưng lại với những người khốn khó chứ không dám làm mất lòng ban tôn giáo .Bản chất và thiên chức của tôn giáo đã bị vô hiệu hóa , thế tục hóa .
   Đạo Phật còn có tên là đạo Bồ Đề . Trong chữ Bồ Đề ( Bodhi ) gồm có Từ Bi Và Trí Tuệ . Tận cùng của Từ Bi là Trí Tuệ . Nói về hận thù , đạo Phật có câu : " Lấy oán báo oán , oán ấy chất chồng , lấy ân báo oán,  oán ấy tiêu tan " . Phật giáo chủ trương xóa bỏ hận thù , xả bỏ mọi hiềm khích , chấp tranh , phân biệt . Nếu Thiên Chúa Giáo chủ trương phục vụ cho những người nghèo khổ khốn khó là phục vụ Chúa , thì Phật dạy :" Cúng dường chúng sanh là cúng dường Chư Phật " . Chính vì vậy trên bước đường hành đạo , thiền sư Thích Nhất Hạnh đã hướng dẫn một phái đoàn hải ngoại gồm các tăng ni Phật tử về nước tổ chức lễ cầu siêu cho những người bị chết trong và sau  chiến tranh gồm những tử sĩ của hai bên , dân lành chết oan , tù cải tạo và các thuyền nhân vượt biển . Một trong các yếu chỉ của thiền là " Tâm vô phân biệt " . Thiền sư Nhất Hạnh với tâm ấy , hạnh ấy đã không phân biệt phe phái ...,thế mà sau khi hoàn tất lễ cầu siêu , hòa thượng Thích Trí Quảng ( một sư quốc doanh )  đứng lên dõng dạc tuyên bố : " Lễ cầu siêu nầy chỉ dành riêng cho liệt sĩ của chế độ ta mà thôi " . Sự dối trá , trơ trẻn tráo trở đã thâm nhập vào cả trong giới tu hành  rồi chăng ?!

  Sự can thiệp , chi phối quá sâu vào hoạt động tôn giáo của chính quyền đã vô hiệu quá bản chất nhân văn , khai phóng của tôn giáo . Điều đó khiến cho các tôn giáo không độc lập thực hành hạnh nguyện của mình mà bị o ép , định hướng theo mục tiêu chính trị ; càng ngày càng xao lãng thiên chức cố hữu của mình . Và  hệ quả khôn lường đó là sự băng hoại của toàn xã hội


  (*) Cảm ơn nhạc sĩ Tuấn Khanh với bài viết " Vòng vây thế tục " đã gợi ý cho Phạm Đạt Nhân viết entry nầy 

Thứ Sáu, ngày 27 tháng 2 năm 2015

Tấc lòng của Chu Thần Cao Bá Quát


Cao Bá Quát  ( 1808?- 1855)

         Có một bài thơ chữ Hán của Chu Thần  Cao Bá Quát  không được phổ biến , không được giảng dạy trong sách giáo khoa và cũng không thấy đăng tải trong thơ văn hợp tuyển của nhiều tác giả . Đó là bài văn tế vua Lê Thái Tổ . Bài thơ được sáng tác trong một hoàn cảnh hết sức đặc biệt và là tài liệu giúp hậu thế hiểu đúng về tấc lòng ưu ái của nhà thơ đối với đất nước . Rất may là vào năm 1939 cụ Ứng Hòe Nguyễn văn Tố đã phát hiện và cho đăng trong Văn Học tạp chí bài thơ hy hữu nầy . Theo cụ Ứng Hòe thì sau vụ khởi nghĩa Mỹ Lương thất bại cả dòng họ của Cao Bá Quát bị tru di tam tộc ; riêng họ Cao bị bắt bỏ củi đem về kinh để hành hình . Khi đòan người giải tù đi ngang qua làng Bố Vệ , tỉnh Thanh Hóa , Cao Bá Quát chợt thấy đền vua Lê Thái Tổ ông xin vào miếu để tế tam sinh .. Bài thơ nầy được ứng khẩu đọc trước linh vị của vua Lê Thái Tổ .


Ngô sinh bất phụ thử sơn hà
 Thiên địa vô tình khả nại hà 
Vĩnh biệt sầu văn nam phố khúc 
Hoàn hương tu tụng đại phong ca 
Thiên niên cố quốc tinh linh tại 
Nhất khứ anh hùng ẩm hận đa 
Điếu bái miếu đường chung nhật cảm 
Y nhiên tích tụ phát kim hoa 
                           ( Văn học tạp chí năm 1939 )

Ta sinh ra vốn không phụ với nước non nầy 
Trời đất vô tình với ta không biết bao nhiêu nữa 
Vĩnh biệt buồn nghe khúc ca Nam phố 
Về làng nên đọc bài ca khải hoàn 
Nước cũ ngàn năm còn lại tinh túy thiêng liêng 
Một bước ra đi khách anh hùng uống nhiều hận
 Lạy tạ miếu đường suốt ngày cảm động 
Cây lá xưa vẫn như cũ nở cành hoa ngày nay .

 Cuộc khởi nghĩa Mỹ Lương do Lê Duy Cự , một cựu thần nhà Lê khởi xướng và Cao bá  Quát làm quân sư . Cuộc khởi nghĩa chẳng may bị bại lộ , nghĩa quân đốt cháy giai đoạn nên dẫn đến thất bại ; triều đình Tự Đức kết án phản loạn . Tất nhiên các sử thần của vua đều ghi chép như vậy . Nhưng rất tiếc một vài trí thức sau nầy cứ dựa y vào sử ghi để kết tội họ Cao . Điển hình là Trúc Khê Lê văn
 Triện . Ông viết :
"Theo nhận xét của tôi bằng những tài liệu chứng cớ còn lại thì việc biến Mỹ Lương là việc có thật mà việc ấy là việc cuồng vọng của nhà văn sĩ họ Cao bất đắc chí chứ không phải là việc do một cái tư tưởng cách mạng sản sinh ra "
   Trúc Khê Lê văn Triện làm ở viện bác cổ nên " những tài liệu và chứng cớ " mà ông có là sử liệu được ghi chép bởi các sử thần . Sử quan ăn lộc vua tất nhiên phải viết tốt cho triều đình . Nếu Trúc Khê có đọc kỷ toàn bộ thơ văn của Chu Thần , đặc biệt là bài thơ tế Lê Thái Tổ trên đây thì sẽ không có nhận xét bất công và nông nổi như thế .
 Bất cứ một sự kiện lịch sử nào đã xảy ra đều đã xảy ra trong một bối cảnh thời đại và một môi trường xã hội , với nhiều nguyên nhân xa, gần khác nhau .
  Xét về khởi nghĩa Mỹ Lương không thể không xét đến triều Tự Đức , đến sự nhiễu nhương của thời đại , đến sự bất ổn của chính trị xã hội ; và đặc biệt là hoài bảo chí hướng và lý tưởng của Cao Bá Quát .. Không thể hồ đồ phiến diện chỉ xét đến khía cạnh " cuồng vọng " , " bất đắc chí " của họ Cao . Vả lại theo quan niệm nho gia thì kẻ sĩ , hiền nhân chỉ thờ hiền vương minh chủ . Dù rằng ( theo Nguyễn công Trứ ) : " Đã mang tiếng ở trong trời đất , phải có danh gì với núi sông " song cũng  không phải vì công danh sự nghiệp mà phải cam lòng làm một ngu trung .

 " Ta sinh ra không phụ với nước non nầy 
  Trời đất vô tình với ta không biết bao nhiêu nữa ..."

 Đọc hai câu nầy làm sao mà chúng ta  không thấy được Cao Chu Thần đã nặng lòng với đất nước biết dường nào !?
Hành động của Cao bá Quát xuất phát từ nguyên động lực vì nước vì dân . Hoài bảo chí hướng vì dân vì nước đã nung nấu trong lòng của tiên sinh ngay từ còn nhỏ tuổi .- những muốn kề vai "gánh vác giang sơn cẩm tú ", đã muốn làm con dân của vua Nghiêu , vu a Thuấn , đã say mê sự nghiệp Trình ,Chu , quyết " xây bạch ốc lại lâu đài "vv...
Quan đốc học thấy Cao bá Quát còn nhỏ mà hóng chuyện người lớn , bèn ra câu đối :
  Nhữ hiếu sinh hà xứ đắc lai , cảm thuyết Trình Chu sự nghiệp ?
( Mày là học trò nhỏ ở đâu tới đây dám nghe sự nghiệp Trình Chu ? )
Cao Bá quát đáp ngay : 
 Ngã quân tử kiến cơ nhi tác dục vi Nghiêu Thuấn quân dân 
( Tôi là người quân tử gặp thời cơ sẽ hành động , lòng những muốn vua và dân trở thành vua và dân  thời Vua Nghiêu Vua Thuấn  )
 Ngay từ rất bé , Cao bá Quát đã có khát vọng tự do , căm ghét quân quyền chuyên chế áp bức . Một hôm vua và tùy tùng tuần du qua sông thấy cậu bé  Cao bá Quát đang  trần truồng bơi lội , quan quân bắt tội cậu , trói dẫn đến vua . Vua ra câu đối  (và bảo nếu đối chỉnh thì tha cho ):
 Nước trong leo lẻo cá đớp cá 
Cậu bé Cao đối ngay :
Trời nắng chang chang người trói người 

Cao bá Quát thuộc loại cá thể đột biến . Những cá thể đột biến thường không theo lẽ phải thông thường , không rập khuôn vào thông lệ ,không ép mình theo công thức để thích nghi với một tình trạng tệ hại kéo dài .. Những nhân tố tiên phong của phong trào cách mạng đều thuộc loại cá thể đột biến . Có một câu nói : " Lịch sử thường được làm nên bởi những phần tử không theo lẽ phải ."Cao Bá quát tha thiết với sự đổi mới và canh tân đất nước .. Ông cực lực phản đối cái học tầm chương trích cú , nhai văn nhá chữ của bọn hủ nho . Cái học đó sản sinh ra hư văn mà không có thực tài , thực lực .Chính vì vậy mà ông dám chê bai , khinh thị mỉa mai hội tao Đàn do vua Tự Đức làm chủ soái :
Ngán thay cái mũi vô duyên 
Câu thơ thi xã con thuền Nghệ An 
Trong khi đó Vua Tự Đức lại thành thực ca ngợi văn tài của Cao bá Quát :
Văn như Siêu Quát vô tiền Hán 
Thi đáo Tùng , Tuy thất thịnh Đường 

Cao bá Quát có tư tưởng tiến bộ , có tầm nhìn chiến lược về tương lai đất nước , có tâm huyết canh tân , đổi mới . Nhân chuyến đi sứ Tân Gia Ba ( Singapore), ông được chứng kiến nền văn minh tiến bộ của xứ người và không khỏi đau lòng trước sự lạc hậu của nước nhà do cái học hư văn :
Nhai văn nhá chữ buồn ta 
Con giun còn biết đâu là nông sâu 
Tân Gia Ba vượt con tàu 
Mới hay vũ trụ một màu bao la 
Giật mình khi ở xó nhà 
Văn chương chữ nghĩa khéo là trò chơi "
 Cao Bá Quát xiển dương phong trào canh tân đất nước , giao thương với các nước phương tây , học hỏi văn minh của các quốc gia tiên tiến trên thế giới để theo kịp thời đại .
  " Không đi khắp bốn phương trời 
 Vùi đầu án sách uổng đời làm trai 
Ông mỉa mai khinh thường đám kẻ sĩ háo danh , khom lưng , cúi đầu , cúc cung phụng sự cho một triều đình thối nát :
"Mũ cánh chuồn đội trên mái tóc , nghiêng mình đứng chực cửa hầu môn " 
Thương ai bó gối nằm tròn 
người trong bốn mặt danh sơn rỡ ràng 
Cao nhân dấu cũ mơ màng 
Chữ danh chi để buộc ràng thân nhau ?! "
Cao bá Quát dùng văn chương như một vũ khí công kích bọn quân quyền cầu an , nhu nhược ; những mong triều đại lung lay rồi thay đổi chính sách . nhưng bọn tôi tớ ký sinh , hoàng thân quốc thích cố bám lấy sự duy trì đế chế để vinh thân phì da . Thế là khởi nghĩa Mỹ Lương nổ ra . Cao bá Quát bị xử trảm . Cả ba họ cũng bị tru di .
 Nhưng trước khi chết , tiên sinh đã có một niềm lạc quan tin tưởng " Cây đời mãi mãi xanh tươi "
" Ngàn năm sau vẫn còn lại tinh túy thiêng liêng '

 Cho dù
 "Một bước ra đi khách anh hùng uống nhiều hận "

 Cao tiên sinh lạy tạ miếu lê Thái Tổ và cảm thấy mình xứng đáng với khí thiêng của trời đất với hồn thiêng của người anh hùng áo vải Lam sơn : "Cây lá xưa vẫn như cũ nở cành hoa ngày nay " 

Cũng có người cho rằng sự phản kháng của Cao là do kiêu ngạo và phẩn uất . Nhận định nầy có phần đúng nhưng chưa đủ .
* Kiêu ngạo là hiện tượng ý thức tự ý thức biết mình tài giỏi hơn người , biết mình thông minh trác việt , lỗi lạc vượt trội .. Cao bá Quát đã khiến cho nhiều người khó chịu vì câu nói " Cả thiên hạ có bốn bồ chữ , một mình tôi chiếm hai bồ , anh tôi Bá Đạt và bạn tôi Nguyễn Siêu  một bồ , còn một bồ phân phát cho thiên hạ " . Thật vậy,  Cao Bá Quát luôn đỗ đầu trong các kỳ thi ; văn tài đến nhà vua cũng phải nể trọng . Có điều ông chỉ tỏ ra cao ngạo với bọn quân quyền sĩ phiệt còn đối với hàn nho , bần dân và các môn đồ ông rất khiêm hạ , thân thiện , gần gủi .
*Phẩn uất là phản ứng tự nhiên của một con người luôn bị chèn ép , hảm hại . Từ bất bình sinh ra phản ứng là quy luật tự nhiên ( vật bất bình tắc minh ) . Sự phản kháng của Cao Bá Quát đi từ ôn hòa đến bạo động là do tình hình đất nước ngày càng đen tối , chế độ phong kiến ngày càng đánh mất vai trò lịch sử ; Vua quan triều Tự Đức ngày càng nhu nhược , đớn hèn khi liên tục phải ký các hiệp ước bất bình đẳng với thực dân Pháp .
  Cao bá Quát ra đời khi Gia Long đã vững vàng đế nghiệp . Ông Vua nầy có công đưa giang sơn quy về một mối . Thống nhật được lãnh thổ nhưng lòng dân không nhất thống . Đất nước có hòa bình nhưng chưa được thái bình . Ấy là do chính sách phân biệt Nam - Bắc , sự trả thù hèn hạ , tàn nhẫn đối với nhà Tây Sơn . Đến đời Minh Mạng , Thiệu Trị nhờ có văn học , biết vận dụng chính trị Tống Nho nên đất nước có ổn định về nội trị song vấn đề đối ngoại có những sai lầm vụng về nghiêm trọng . Đó là chính sách " bế quan tỏa cảng" và giết hại giáo dân . Đến thời Tự Đức không cải cách canh tân được gì mà còn thêm bảo thủ , lạc hậu . Ngay việc lên ngôi của Tự Đức cũng là mầm mống của huynh đệ tương tàn , nồi da xáo thịt . Theo di chiếu của Thiệu Trị thì Hồng Bảo là Hoàng trưởng tử lên làm vua . Hồng Bảo là người có tư tưởng tiến bộ , có óc duy tân , có chí hướng mở cửa giao thương với các nước láng giềng , bang giao với phương Tây , gây thanh thế trên vũ đài quốc tế .. Hồng Nhậm  là em Hồng bảo cải di chiếu , bắt nhốt anh mình vào ngục tối , bỏ đói cho đến chết rồi lên ngôi lấy hiệu là Tự Đức . Trong suột 36 năm trị vì ( 1847- 1883) Tự Đức không làm được gì cho đất nước ngoài việc xướng họa văn thơ với các triều thần dua nịnh ; ngoài việc xây lăng Vạn Niên hao tốn biết bao nhân mạng , biết bao của cải của dân lành . Chính sách cấm đạo , bế môn tỏa cảng .. tạo ra cái cớ cho thực dân Pháp xâm lược nước ta . Tự Đức là một ông vua nhu nhược , đớn hèn , Khi  tướng Hoàng Kế Viêm dâng sớ lên vua xin xuất quân , Tự Đức phê vào sớ : " Kim nhật thỉnh chiến , hựu nhật thỉnh chiến , chiến nhi bất thắng , ngô gia mẫu tử tri vô hà địa ? " ( nay chiến tranh , mai lại chiến tanh chiến mà không thắng thì còn đất đai mô cho mẹ con trẩm ở ? "Thì ra Vua chỉ lo toan cho lợi ích cá nhân mà không đếm xỉa gì đến vận mạng nước nhà , đến sự tồn vong của quốc gia và sự an nguy của xã tắc .
 Do chính sách chuyên chế của nhà vua , sự tham nhũng của quan lại , sự đục khoét của hoàng tộc khiến  cho đời sống của dân lành càng trở nên bức bách , bần cùng , đói khỏ . Giặc cướp nổi lên tứ tung ( giặc Nông văn Vân , giặc Phan bá Vành , giặc Lê Duy Lương ...)
 Buồn thay , trong hoàn cảnh quốc gia suy vong mà một số kẻ sĩ vẫn xuất chính làm quan , cúc cung phụng sự triều đình để có được cái bả vinh hoa . họ là những phần tử thích nghi với hoàn cảnh và thực hiện trung hiếu của nho gia một cách cứng ngắc . Điển hình là ông Nguyễn công Trứ với quan niệm " ra khỏi bụng mẹ là đã có vua để thờ "( xuất mẫu hoài tiện thị hữu quân thân ". Nguyễn công Trứ lúc nào cũng " Sắp hai chữ quân thân mà gánh vác " và luôn nghĩ rằng " Đạo vi tử , vi thần đâu có nhẹ ". Nguyễn công Trứ quên rằng lẽ xuất xử của Nho gia có hai lối : Nếu gặp minh quân , chân chúa thì ra làm quan còn nếu gặp hôn quân , bạo chúa thì ẩn dật chờ thời . Vậy nên Nguyễn Trãi mười năm sống ở Đông quan ,nghèo khổ ẩn nhẫn vẫn không chịu hợp tác với nhà Minh ; đợi khì có hội thề Lũng Nhai mới ra đầu quân với Lê Lợi dâng Bình Ngô sách .
 Cao Bá Quát và Nguyễn công Trứ là hai danh sĩ đồng thời , đồng thế hệ ,đều là môn đồ của Nho gia nhưng hoài bảo và chí hướng của  hai con người nầy thật quá khác nhau

  Cao bá Quát là một thiên tài lỗi lạc  ôm ấp chí cao mộng lớn ; từ thuở nhỏ đã tôn thờ lý tưởng  vì dân vì nước . Năm 40 tuổi Cao bá Quát mới thực hiện hoài bảo của mình trong khởi nghĩa Mỹ Lương
     . Tuy giấc mộng không thành , dòng họ lại bị tru di nhưng cái anh linh của tiên sinh không hề mất  bởi " thác là thể phách còn là tinh anh "( Nguyễn Du ) .

  Câu thơ cuối như một lời trăng trối với hậu thế :
 Y nhiên tích tụ phát kim hoa ( cây lá xưa vẫn như cũ nở cành hoa ngày nay ) 

" Thật đáng trách cái chế độ hà khắc , trong giai đoạn suy vong lại càng ác liệt đến không dung dưỡng nổi một tâm hồn mẫn tiệp , ham sống . Đó cũng chính là cái sống bền bĩ , muôn đời mà cũng là những gì tiêu biểu cho quyền sống con người nghìn thuở hướng vươn lên " ( Phạm văn Diêu )

Thứ Ba, ngày 30 tháng 12 năm 2014

"..TỘI TỪ DUY NHẤT VÔ MINH ... "*

hình : internet
   
        Chúa Jésu giáng sinh nhập thế để cứu chuộc tội lỗi của con người . Nhờ có tài diễn thuyết  lại có nhiều phép lạ và có lòng nhân ái nên ngài có tầm ảnh hưởng rất lớn đối với dân chúng .Chính quyền Do Thái lo sợ ảnh hưởng của Chúa nên đã đóng đinh ngài bằng một bản án ngớ ngẩn phi lý .

        Vào dịp " lễ vượt qua " ( Passover )ngài đi đến đền thờ Jésusalem thấy trong đền dân chúng họp chợ , biến nơi cầu nguyện thiêng liêng thành nơi tụ tập mua bán xô bồ .Ngài xua đuổi những con gia súc gia cầm , dọn dẹp  bàn ghế của những người buôn bán và trách quở rằng : " Nhà ta được gọi là nhà cầu nguyện nhưng các người đã biến nó thành một nơi hỗn tạp "! Chính quyền Do Thái mà đại diện là Tòa Công luận (Shanhedrin) đã tức thời bắt giữ Chúa Jésu.Họ gán ghép cho ngài tội danh : PHẠM THƯỢNG  và  XÚI GIỤC NỔI LOẠN . Với tội danh nầy nếu quy chiếu vào các khung hình phạt thì chưa đáng phải phạm tội chết . Nhưng không hiểu sao giới lãnh đạo tôn giáo Do Thái lại gây áp lực cho Tổng Đốc ra lệnh đóng đinh Chúa Jésu cùng với hai người phạm tội trộm cắp !
Chúa Jésu bị nhà cầm quyền bắt giữ vì một tội danh không được minh thị rõ ràng .Rõ ràng ai cũng biết rằng nơi đền thờ miếu mạo là nơi thờ phượng thiêng liêng không ai có quyền chiếm dụng để làm nơi mua bán của thế tục .Cho  nên Chúa Jésu giải tán cuộc đông chợ là hợp tình hợp lẽ - không thể gọi là phạm thượng . Cũng không thể gọi tội danh xúi giục - vì thật ra những hành động đó của ngài chẳng hề xúi giục một đối tượng nào . Đúng lẽ thì nhà chức trách phải làm chuyện nầy để thể hiện sự tôn trọng tín ngưỡng cũng như bảo vệ sự thiêng liêng nơi đất Thánh .
  Mặt khác , tội danh không rơi vào khung hình xử tử nhưng giới lãnh đạo tôn giáo lại gây áp lực buộc tổng đốc Pontus Pilate ra lệnh đóng đinh Chúa Jésu ! Sự hồ đồ của chính quyền Do Thái đã tạo cơ hội cho sự lộng hành khuynh loát của giáo quyền ! Thế quyền và giáo quyền đều sợ hãi tầm ảnh hưởng của Chúa Jésu . Cho nên tôn giáo hóa quyền lực thế tục là ý đồ của nhà cầm quyền .Đóng đinh Chúa cùng với hai tên tội phạm trộm cắp chính là hình thức báng bổ , sỉ nhục Chúa . Chúa có thể dùng phép lạ để thoát chết nhưng Chúa vẫn chấp nhận cái chết với thái độ từ bi hỷ xã .
Chúa đã ngửa mặt lên trời cầu xin Đức Chúa Cha : "Lạy Chúa hãy tha tội cho họ vì họ không biết họ đang làm gì !"
 
         Bản án vô lý của chính quyền Do Thái và sự lộng hành của giới lãnh đạo tôn giáo của nước nầy đã chứng tỏ một sự cai trị yếu kém cũng như  một nền chính trị hồ đồ và bất minh !
                 Phải chăng tội lỗi duy nhất của con người là vô minh

* Thơ Trung Vũ

Thứ Tư, ngày 10 tháng 12 năm 2014

VUA LÝ THÁNH TÔNG

     
   Platon quan  niệm một người lãnh đạo quốc gia phải  là một hiền triết .Hơn thế nữa , Platon đòi hỏi triết gia phải tham gia lãnh đạo các tổ chức chính trị xã hội . Quan niệm của Platon không xa lạ với quan niệm cổ thời đông phương : người chăn dắt trăm họ , đứng đầu một nước phải là người hiền đức , các quan chức tham gia bộ máy chính quyền phải là các bậc hiền tài . Đã là hiền tài thì phải xuất chính để giúp  dân giúp nước . Dưới các triều đại Lý , Trần hầu hết vua chúa , quan lại đều là những bậc hiền đức , hiền tài . . Điển hình nhất là vua Lý Thánh Tông.

      Platon , Pythagore , ...là những triết gia bậc thầy của triết học Hy lạp cổ thời .
 Triết - theo từ điển Hán Việt của Đào Duy Anh là sự khôn ngoan , là trí đức . Triết học là học vấn nghiên cứu về nguyên lý của vũ trụ và nhân sinh .
 Triết gia là người nghiên cứu triết học
Còn theo tự điển triết học thì triết là khoa học về các nguyên tắc phổ quát chi phối , điều động hữu thể ( L'être). Triết cũng là tư tưởng con người , là quá trình nhận thức . Riêng đối với Platon thì cho rằng triết gia là con người tốt nhất , được tẩy sạch mọi nhơ  nhớp , quen sống với thực tại và nhữn giá trị tinh thần  , một người không sợ hãi trước cái  chết . Cũng theo quan niệm của Platon triết gia nhiều khi vụng về trong đời sống xã hội nhưng lại là người có đủ uy tín làm gương mẫu cho mọi người . Triết  gia còn là một nghệ sĩ , một nhà thần bí , một con người quen sống với thực tại mà nhà chính trị ngụy biện không hề biết đến . triết gia là người biết chiêm ngưỡng , làm quen với thực tại đồng thời có hoài bảo xây dựng một cộng đồng xã hội tốt đẹp phù hợp với những gì mà họ chiêm ngưỡng thấy . Tư tưởng , lời nói và việc làm của triết gia bao giờ cũng  nhất quán ( tri hành hợp nhất ). Ngoài ra Platon cũng nhấn mạnh đến điều kiện cần và đủ của nhà lãnh đạo hiền triết : mẫu mực cho sự điều hòa và quân bình . Sự điều hòa trong một cơ cấu xã hội cũng thiết yếu như sự quân bình giữa các  cơ năng trong một cơ thể . Chính sự điều hòa quân bình dẫn đến sự chừng mực tiết độ , điềm đạm khoan hòa , không bất cập , không thái quá .

    Trong cuốn Việt sử lược có chép lại sự ra đời của vua Lý Thánh Tông ( LTT ) như sau :" Mai Thị Hoàng hậu mộng thấy mặt trăng vào bụng , nhân đó có mang . Ngày 15 tháng 02 năm 14 hiệu Thuận Thiên ( 1023) sinh ra vua ở cung Long Đức  (1) . Năm đầu tiên Thiên Thánh ( 1028) được lập làm Thái tử ; khi lớn lên vua thông kinh truyện , sành âm luật , nhất là sở trường về vũ lược .  Thái Tông mất, vua vâng di chiếu lên ngôi trước linh cửu của cha " .Và trong cuốn Lý Thường kiệt , nhà bác học Hoàng Xuân Hãn đã có lời nhận định : " Lý Thánh Tông là vua ta đầu tiên có óc lập một đế quốc có danh hiệu ngang với một nước Thiên tử . đặt quốc hiệu là Đại Việt , tôn các vua trước là Thái Tổ , Thái Tông ..., coi các nước nhỏ  chư hầu và muốn ngăn Chiêm Thành thần phục nhà Tống ".
  Con người của Lý Thánh Tông có đầy đủ thuộc tính của một triết gia , theo quan niệm của Platon:
   - Sự khôn ngoan ( sagesse )
   - Lòng nhân đức công chính ( justice )
   - Lòng can trường , dũng lược ( courage )
 và đặc biệt là sự hài hòa tiết độ ( température )
 Theo quan niệm phương đông thì một con người hoàn hảo , một hiền nhân quân tử phải có đầy đủ ba tác dụng tinh thần :
   - Lý trí  ( sự hiểu biết)
   - Tình cảm ( yêu con người , yêu nghệ thuật , yêu thiên nhiên )
   - Ý chí ( hành động )
Để thực hiện được hoài bảo lập một đế quốc có danh ngang với một nước thiên tử " , LTT đã hội đủ những những yếu tố , những điều kiện sau đây :
  1/ Sự khôn ngoan của một hiền triết :Platon cho rằng triết gia là người quen sống với những giá trị tinh thần , là người biết chiêm ngưỡng , làm quen với thực tại đồng thời có hoài bảo xây dựng một xã hội phù hợp với những gì mà mình đã sống và chiêm ngưỡng thấy !. LTT quả đúng là con người như vậy . Vốn sẵn tư chất thông minh , lại mẫn cảm với thời thế , LTT biết chọn một mô thức xã hội , một định chế chính trị đáp ứng được nhu cầu về cái  toàn diện  và hợp với nguyện vọng của quần chúng nhân dân .Trong môi trường văn hóa lúc bấy giờ có nhiều luồng tư tưởng như Nho - Phật - Lão. Tâm lý dân tộc do vậy cũng có nhiều khuynh hướng khác nhau . người theo Nho có khuynh hướng nhập cuộc dấn thân ; người theo Lão có khuynh hướng đi ra thiên nhiên , trường sinh tịch cốc  . Còn người theo đạo Phật đa số lạc lối trong cảnh giới thiền bác học của Vô Ngôn thông . Trong khi đó nhu cầu thiết yếu của dân tộc là  THỐNG NHẤT Ý CHÍ ĐỂ HÀNH ĐỘNG : một mặt đấu tranh với hoàn cảnh khắc nghiệt  của thiên nhiên , một mặt đấu tranh chống lại âm mưu xâm lược của giặc phương Bắc ; mặt khác  chinh phạt mở rộng bờ cõi về phương Nam . Làm thế nào thiết lập một toàn thể nhất quán để thỏa mãn nhu cầu về cái toàn diện . Nhà lãnh đạo thời ấy vừa phải tích cực hành động , vừa thiết lập cái toàn thể nhất quán để hướng dẫn hành động. Muốn có được toàn thể nhất quán không thể chọn một bỏ một mà phải dung thông dung hóa nhiều khuynh hướng khác nhau .TINH THẦN TAM GIÁO ĐỒNG NGUYÊN  là giải pháp tối ưu cho tồn vong và phát triển của đất nước . Các khoa thi tam giáo đã tuyển trạch được nhiều hiền tài cho đất nước làm phong nhiêu hưng thịnh nguyên khí quốc gia .
  Vua Lý Thánh Tông vừa làu thông kinh truyện của Nho gia vừa am hiểu tư tưởng uyên áo của Lão giáo lại vừa thấm nhuần giáo pháp của Phật học đại thừa .. Nhà vua không độc tôn một tư tưởng nào mà chủ trương " đồng qui nhi thù đồ , nhất trí nhi bách lự  (nhiều đường khác nhau qui về một chỗ , thống nhất cùng nhau dù trăm cách nghĩ khác nhau ) . Đó là tư tưởng đa nguyên sớm sủa nhất trong lịch sử nước ta .. Tư duy và  hành động của LTT bao giờ cũng nhất quán ( tri hành hợp nhất ) . LTT tuy là phật tử thuần thành song vẫn chuộng nho học với lý tưởng  TU- TỀ - TRỊ - BÌNH  ; bởi vì đây là cái học thực tế , nhân sinh có liên hệ mật thiết đến nhân quần xã tắc . Ngoài việc xây dựng chùa , tháp nhà vua còn cho xây văn miếu thờ Thánh Nho ; đúc tượng Khổng Tử , Chu Công , Thất thập nhị hiền . Thái tử , Hoàng tử đều học Nho ở cửa Khổng sân Trình . Nhà vua không những tin Phật , thờ Nho mà còn tôn sùng Bà La Môn giáo - một tôn giáo có tư tưởng uyên áo ở xứ Ấn độ du nhập vào nước ta qua cửa ngõ Chiêm Thành .Hành động cụ thể là cho xây chùa Nhị Thiên Vương để thờ thần Deva và thần Civa .
  Tam giáo đồng nguyên , vạn pháp nhất lý vốn là căn nguyên ý thức hệ dân tộc thời Lý .Tư tưởng " vạn pháp nhất lý bén rễ từ thiền hành động của thiền sư Vạn Hạnh , Pháp Thuận , Khuông Việt . Thành tựu và biểu hiện minh nhiên nhất là Vạn Hạnh thiền sư - một nhà sư nhập cuộc tích cực :vừa lo đạo vừa lo đời , vừa nhập định theo thiền tông , vừa tụng chân ngôn theo lối mật tông vừa hoạt động vừa thiết lập cái toàn thể nhất quán để hướng dẫn hành động , vừa xuất vừa xử ,vừa đi ra thiên nhiên lại vừa đi vào sinh hoạt của quần chúng , vừa dấn thân giúp đời lại vừa giữ được không lý .
  Về sau , Vô Ngôn Thông họ Trịnh người Quảng Châu mang dòng thiền của Tổ Bách Trượng vào Việt Nam . Rồi từ đó văn minh Trung Hoa càng ngày càng xâm nhập vào Việt Nam khiến cho thiền VN dần dần có khuynh hướng bác học xa rời quần chúng - nhu cầu về cái tòan diện không còn được thỏa  mãn thích đáng.Đó là lý do vua LTT sáng lập ra một thiền phái mới : Thiền phái Thảo Đường .Triết lý Thảo Đường có đặc điểm phối hợp giữa Thiền và Tịnh . Điều nầy phù hợp với nhu cầu thống nhất ý chí quần chúng và đoàn kết mọi tầng lớp nhân dân .Bởi lẽ đại chúng bình dân luôn tha thiết với con đường tình yêu mà sự biểu hiện là tín ngưỡng sùng bái và đề cao nguyên lý mẫu  .Bất cứ nhà lãnh đạo quốc gia nào cũng muốn xác lập một định chế chính trị và hoàn thiện một cơ cấu xã hội . Nhưng một nền chính trị có định chế , một xã hội có cơ cấu tổ chức không tránh khỏi một chế độ pháp quyền thuần lý cứng nhắc . Điều nầy không tương thích với tâm lý dân tộc và tín ngưỡng sùng bái của người Việt đã ăn sâu vào mạch sống của dân tộc .( Ngoài thì là lý nhưng trong là tình - ND) .Với sự khôn ngoan của một nhà lãnh đạo hiền triết ,vua LTT xây dựng một xã hội VN đầy đủ  NHÂN , TRÍ , DŨNG .
   2/Lòng nhân đức , sự công chính là đặc tính của chế độ nhân trị . Chính sách ái dân , huệ dân , thân dân  được xem là quốc sách . Thay vì dùng luật pháp để răn đe , trừng trị , LTT dùng lòng yêu thương dân như con đẻ để giáo hóa trăm họ
Trang Wikipedia đã viết về vị vua nhân từ nầy như sau:
   "Nhân một năm trời rét đậm, Thánh Tông bảo các quan hầu cận rằng:

Trẫm ở trong cung ngự sưởi than thú, mặc áo hồ cừu mà còn rét thế này. Huống chi những tù phạm giam trong ngục, phải trói buộc, cơm không có mà ăn, áo không có mà mặc; vả lại có người xét hỏi chưa xong, gian ngay chưa rõ, nhỡ rét quá mà chết thì thật là thương lắm.
Nói rồi vua truyền lấy chăn chiếu cho tù nằm, và mỗi ngày cho hai bữa ăn.
Lại có một hôm, Thánh Tông ra ngự ở điện Thiên Khánh xét án, có Động Thiên công chúa đứng hầu bên cạnh. Thánh Tông chỉ vào công chúa mà bảo các quan rằng:
Lòng trẫm yêu dân cũng như yêu con trẫm vậy, hiềm vì trăm họ ngu dại, làm càn phải tội, trẫm lấy làm thương lắm. Từ rày về sau tội gì cũng giảm nhẹ bớt đi " ( hết trích )
 Ngay đến việc vua đưa một thôn nữ hái dâu về cung và phong là Thần phi , giao cho việc nội trị đủ chứng tỏ vua LTT không  phân biệt giai cấp và rất bình đẳng giới tính . Bình đẳng tánh trí cũng như tâm vô phân biệt là lý tưởng của người tu Phật . Con đường tình yêu của nhà vua còn được thể hiện ở nhiều bộ môn nghệ thuật . Ngay từ nhỏ ngài đã rành âm luật , lớn lên ngài đã từng phiên dịch nhạc khúc Chiêm Thành rồi sai nhạc công , vũ nữ đàn hát . Trong một buổi tiệc khao quân , chính nhà vua biểu diễn múa khiên , đánh cầu theo những nhạc khúc do chính mình biên soạn giữa lòng đất Chiêm .Ngoài ra LTT còn là một kiến trúc sư tàì hoa lỗi lạc . Chùa , tháp  và các cung điện nguy nga đều đã được xây cất theo thiết kế bản vẽ của vua . Âm nhạc và kiến trúc phải chăng là những bộ môn giúp cho tâm hồn con người có sự quân bình hòa hợp .Kinh nhạc có câu : "Đức giả , tính chi đoan dã . Nhạc giả , đức chi hòa dã " có nghĩa là đức ấy là sự đoan chính của tính tình , nhạc là sự hòa hợp của đức vậy . Sự hòa hợp, quân bình , tiết độ đều là thuộc tính của ĐỨC  lý . Thái quá hay bất cập đều tệ hại như nhau cả .
 3/Sau cùng là Dũng :  Theo quan niệm của Platon một hiền triết lãnh đạo quốc gia phải có lòng can trường , dũng lược của một chiến sĩ , một người coi cái chết nhẹ tựa lông hồng . LTT trong cuộc chinh phạt Chiêm Thành , mở rộng bờ cõi về phương Nam ngay từ khi còn là Thái tử - đánh đâu thắng đó , mở rộng bờ cõi ra đến ba tỉnh : Địa Lý , Ma Linh , Bố Chánh . Năm 1069 , vua giao việc nội chính lại cho Thần Phi Ỷ Lan , thân chinh đi đánh Chiêm Thành . Sau khi cùng các quan quân làm lễ tuyên thệ ở điện Long Trì , vua xuống thuyền xuất quân . Sử chép vua đánh Chiêm Thành đã lâu không thắng , lại lo cho việc nội trị ở nhà ,bèn quay về . Đến Châu Cư Liêm vua nghe nói Ỷ Lan coi sóc nội trị dân tâm hòa hợp , trong nước yên ổn . Nghe vậy , vua nói " Kẻ kia là phụ nhân còn được như thế , ta đây nam nhân há lại tầm thường ư ? " . Vua bèn quay lại và đánh thắng giặc Chiêm .
     
          Tóm lại , theo quan niệm của triết gia Platon một người lãnh đạo quốc gia phải là một hiền triết ( Sophos King ).  Đã là một hiền triết phải hội đủ ba đức tính căn bản : Sự khôn ngoan , lòng nhân đức công chính và lòng can trường dũng lược . Vua Lý Thánh Tông đúng là một hiền triết lãnh đạo đất nước , là nguyên khí của quốc gia . Lý Thánh Tông kế thừa sự nghiệp của các tiên đế đã mở ra một kỷ nguyên mới - kỷ nguyên độc lập tự chủ của nước Đại Việt - một nước đại Việt mà trong cáo Bình Ngô , Nguyễn Trải lấy làm tự hào : " Như nước Đại Việt ta từ trước , vốn xưng nền văn hiến đã lâu ; núi sông bờ cõi đã chia , phong tục Bắc Nam cũng khác " Nếu đem so với quan niệm của Platon thì vua LTT đúng là mẫu hình lý tưởng của một nguyên thủ quốc gia trong mọi thời đại !


Chú thích :
( 1) :Cung Long Đức được vua Lý Thái Tông xây ngoài thành dành cho Thái tử ở . Nhà vua muốn cho Thái tử sống gần gủi dân chúng để hiểu rõ dân tình 



.

Chủ Nhật, ngày 23 tháng 11 năm 2014

TỪ TRIẾT HỌC PHẠM TRÙ ĐẾN CHỦ NGHĨA, Ý HỆ



       Ngày nay nhân loại sản sinh ra quá nhiều thứ chủ nghĩa và ý thức hệ : Chủ nghĩa duy tâm giáo điều , chủ nghĩa duy vật thực dụng , chủ nghĩa hiện sinh , chủ nghĩa khủng bố ,…. Trong tiếng Việt hai tiếng chủ nghĩa có tiếp đầu ngữ là DUY ; trong tiếng Pháp có tiếp vỉ ngữ là ISM. Chủ nghĩa , ý hệ là di căn của triết học  PHAM TRÙ ( catégories philosophiques )

     Triết học phạm trù  hay triết lý nhị nguyên là loại triết học nhận thức , nắm bắt THỰC TẠI  ( Le réel) bằng khái niệm ( Concept). Khái niệm , phạm trù ( catégories) là cái khung đóng nhốt thực tại bằng cái lưới của trí óc tính toán,biện biệt , tư lương . Thực tại luôn luôn biến dịch , thường xuyên chuyển hóa , liên tục thay đổi , còn khái niệm về thực tại thì khô cứng , chai lỳ , biến trễ .. Triết gia Shopenhauer ví khái niệm như cái kén còn thực tại như con ngài cất cánh bay xa .
Triết học phạm trù khởi nguồn từ Aristote, Platon. Hai triết gia nầy có công  khai sinh ra triết học duy lý giúp cho khoa học , kỹ thuật phát triển . Bản chất của khoa học là nhị nguyên đối đãi . Người quan sát và đối tượng được quan sát phân định rạch ròi . Trí năng của con người , mạng lưới của trí óc tha hồ phân tích  , bình luận , biện biệt , so sánh ...Khoa học ngày càng tiến bộ thì ĐẠO HỌC  ngày một suy tàn .Bởi vì đạo học là quy bản ( vạn pháp quy nhất ) còn khoa học là phân chi tách nhánh . Một gốc tách ra nhiều nhánh khác nhưng nhiều nhánh khác quy về một gốc ( nhất bản tán vạn thù , vạn thù quy nhất bản ). Đời vốn không ly mà cứ biệt . Ấy là do tập quán thâm căn cố đế của con người là phân biệt .Sự phân biệt ( disférence ) là loại virus gây ra hội chứng TÂM THẦN PHÂN LẬP mà cụ thể là DUY nầy DUY nọ , chủ nghĩa nầy , chủ nghĩa kia ...Những học thuyết , chủ thuyết , triết thuyết của các triết gia bị các chính trị gia lợi dụng , xuyên tạc biến thành các ý thức hệ - làm kim chỉ nam cho hành động cải tạo thế giới . Ví dụ như Hitler mượn học thuyết siêu nhân , ý chí quyền lực của Nietzche để dựng lên chủ nghĩa phat -xit ; Karl Marx - học trò  của Hégel dộng ngược đầu hệ thống triết học duy tâm ( L' idée absolue ) thành triết học duy vật . Rồi Lénin dựa vào Karl Marx để làm cuộc cách mạng chuyên chính vô sản . Nhờ học được phương pháp biện chứng sắc sảo , hùng biện của Hégel mà Marx có sức thuyết phục trong biện chứng pháp duy vật sử quan của mình .Trong bối cảnh khoa học , kỹ nghệ ở các nước tư bản mới phát triển còn trong hình thái sơ khai , hoang dã , giai cấp thợ thuyền bị bóc lột - ý thức hệ vô sản là cái phao cứu sinh của giai cấp công nhân và nông dân. Hệ thống triết học duy vật lúc bấy giờ được những nhà Mat-xit coi là khoa học tiên tiến nhất . 
     Đại để ,triết học duy vật lập cước trên cặp phạm trù  VẬT CHẤT và  Ý THỨC ( VC và YT). Hai phạm trù nầy là vũ khí lợi hại nhất để đánh đổ triết học duy tâm . Bằng khái niệm triết gia duy vật định nghĩa : VC là cái có trước YT là cái có sau . Cắt nghĩa  VC là gì YT là gì rồi triết gia Mat- xit khẳng định : VC quyết định YT , VC phản ảnh vào YT, sau đó YT tác động lại " thế giới vật chất "Như vậy y thức là cái vật chất đã được phản ảnh vào đầu óc con người , còn vật chất là cái tồn tại bên ngoài . Từ đó tạo ra hai thế giới sai biệt ( do sự phản ảnh vào nhau , tác động lẫn nhau giũa VC và YT). Như vậy cái thế giới có trước ( VC ) quyết định cái thế giới có sau ( YT ). 
 VC và YT là cặp phạm trù căn để làm trụ cột cho cả hệ thống Mat - xít 
       Như trên đã nói phạm trù là cái khung nhốt thực tại trong một kích cở định sẵn như chiếc giường của tướng cướp Procuste. Tướng ướp Procuste , mỗi khi bắt được một người đem về nhà , y cho đặt người bị bắt lên chiếc giường ấy . Nếu nạn nhân mà dài hơn kích cỡ của giường thì bị y chặt chân bớt ; còn nếu nạn nhân mà ngắn hơn chiếc giường thì bị y kéo chân ra cho vừa với chiều dài giường . 
 Thật ra VC và YT không phải hai mà là một ( bất nhị ); cũng không trước không sau , không trong không ngoài . Phân biệt VC và YT ra làm hai phạm trù là thói quen phân biệt theo lối nhận thức bằng khái niệm ; không có cái nào làm chỗ dựa cho cái kia ; cũng không có cái nào ở trong hoặc ở ngoài cái kia .( nhỏ không trong mà lớn cũng không ngoài - Nguyễn công Trứ )
 Tất cả vạn hữu đều tồn tại theo quy luật ; TƯƠNG TỨC, TƯƠNG NHẬP. Tương nhập là cái nầy ở trong cái kia và ngược lại . Tương tức là cái nầy có vì cái kia có , cái nầy sinh vì cái kia sinh .Theo lập luận của Mat-xit thì YT con người là cái tồn tại  được ý thức ; còn cái VC - cái tồn tại bên ngoài kia chính là cái THỰC TẠI KHÁCH QUAN  được cảm giác con người chép lại , chụp lại , phản ảnh lại . Toàn bộ những  người Mat-xit đều coi đây là khoa học tiên tiến nhất , là đỉnh cao trí tuệ . Đặc điểm khoa học là tiệm cận với chân lý chứ không bao giờ trùng khít với chân lý . Thế mới là khoa học 
 Phân biệt trước / sau , trong / ngoài , xấu /tốt ; vật chất / tinh thần là sản phẩm của triết lý nhị nguyên đối đãi .Thật ra ranh giới của sự sai biệt chỉ là ranh giới ảo , do cái nhìn sai lầm .Hơn nữa không chỉ con người ý thức mới có tính phản ảnh . Phản ảnh không phải thuộc tính độc quyền của con người  Vạn hữu đều có thuộc tính ấy : Nam châm / từ trường , oxy / hydro , vv .Không thể nào có cái gọi là THỰC TẠI KHÁCH QUAN  khi thực tại ấy nhận thức bằng phạm trù , khái niệm .. Khi ta dùng khái niệm để quan sát , định nghĩa một thực tại đương nhiên ta phải chận hai đầu của thực tại , để nhốt thực tại trong một thời điểm , địa điểm nhất định . Trong khi thực tại thay đổi thường xuyên, tự diễn biến thường xuyên ...
Khoa học định nghĩa A = A để tiện quan sát nhưng đạo gia nhìn  thấy A vừa là A vừa là không A. A trong thời khắc nầy khác với A trong thời khắc tiếp nối . Héraclite, triết gia Hy Lạp cho rằng "Không ai xuống tắm hai lần trong một dòng sông " là vậy .

    Trên đây là tính hằng chuyển của thực tại , còn chủ thể nhận thức thực tại cũng tự diễn biến liên tục , chuyển hóa liên tục tùy hoàn cảnh , tùy môi trường . Tỷ như cô Tấm trong cổ tích khi còn là trẻ mồ côi bất hạnh thì cô rất hiền lành , nhẫn nhục trước sự hiểm ác của bà dì ghẻ . Nhưng khi Tấm đã trở thành hoàng hậu thì cũng hiểm ác - còn hơn cả dì ghẻ nữa .Trong truyện " ông lão đánh cá và con cá vàng " bà vợ ông lão vốn là một bần nông vô sản nhưng nhờ con cá vàng trả ơn mà trở nên giàu sang ...; rồi phát triển tham vọng quyền lực có ý muốn thống trị tối thượng  !
Những triết gia Mat- xit chỉ dựng lại phạm trù Ý THỨC mà quên rằng cao hơn Ý THỨC là LƯƠNG THỨC ( ý thức tự ý thức , ý thức phản tỉnh  -LE BONSEN).Chính lương thức là nguyên động lưc giúp con người chuyển hóa , thanh lọc để ngày càng trong sạch , không bị sai sử , ô nhiểm bởi thế giới vật chất . Thuật ngữ LƯƠNG TRI ĐỀ KHÁNG  từng có trong minh triết .

     Tóm lại triết học phạm trù của truyền thống duy  lý Tây Phương đã sản sinh ra nhiều thứ DUY , nhiều CHỦ NGHIÃ , nhiều Ý HỆ,...xung đột đối kháng nhau , gây ra chiến tranh , khủng bố , chết chóc cho cả nhân loại . Tình người cũng càng ngày càng cạn kiệt vì những sai biệt trầm kha , dai dẳng 

Chủ Nhật, ngày 26 tháng 10 năm 2014

Bi kịch chữ nghĩa buổi đổi đời

Từ sau năm 1975 bỗng xuất hiện những từ ngữ "lạ " - dùng miết thành quen .Tính chất của các từ lạ nầy có ý đồ đánh tráo khái niệm - bằng cách dùng từ nầy thay thế từ kia để gọi tên  sự vật sự việc .Từ đó nẩy sinh ra nhiều bi kịch trong giao tiếp !
    Tôi được nghe kể một câu chuyện của hai người bạn chỉ vì một từ " nhất trí " mà mối quan hệ của hai người đang tốt đẹp bỗng trở thành lạnh nhạt
    Không ít những nhà văn từng viết lách trước 75,  vẫn không tránh được những từ lạ mà mình chưa từng dùng mà nghe miết rồi thành quen : Sự cố , giản đơn , đảm bảo , thi thoảng , nhất trí, nhà đẻ , động não , máy bay  lên thẳng , lính thủy đánh bộ ,...
Những từ ngữ mới nghe lần đầu thật chói tai - nhưng ngày nầy qua tháng nọ cứ nghe miết rồi thành ...quen rồi lại sử dụng trong văn nói rồi tới trong văn viết một cách vô thức .
 Tôi có nghe kể một câu chuyện cũng khá xót lòng . Có người hỏi một cô bé :
- Ba con làm gì ?
- Ba con là lính ngụy  ...!
Thì ra cô bé - một cách vô thức - đã dùng từ " ngụy " để gọi cha mình rất vô tư vì đã nghe người ta gọi như vậy !
 Có những từ đúng ra có nghĩa xấu nhưng sau 75 lại được dùng theo nghĩa tích cực . Chẳng hạn như từ " ý đồ ". Trước 75 chữ ý đồ nói lên một toan tính hắc ám ; nhưng sau 75 chữ ý đồ có nghĩa như một dụng ý tốt . Ví dụ Thầy giảng Văn :"...Những câu thơ trên có ý đồ lập ra  một bệ phóng cho câu thơ cuối bay lên ..."

   Trở lại hai chữ " nhất trí " đã nói ở trên tự thân nó có nghĩa là mọi ý kiến trái chiều đều được thống nhất sau khi đã trao đổi , thương thảo hoặc tranh luận . Tỷ như câu "Đồng qui nhi thù đồ , Nhất trí tri bách lự ( Qui về một chỗ bằng nhiều đường khác nhau , cả trăm cách nghĩ khác nhau mà vẫn thống nhất một ý ) . Đó là tư tưởng đa nguyên đa chiều . Thế mà từ nhất trí hiện nay chỉ được dùng trong ngữ cảnh đồng ý một các đơn thuần . Đồng ý và nhất trí có một khoảng cách nhất định . Trong lễ cưới tại nhà thờ , linh mục sẽ hỏi cô dâu ( hoặc chú rể ) :
- Con có đồng ý  lấy X làm chồng ( hoặc làm vợ ) không ?
Thử nghĩ xem nếu linh mục hỏi
- Con có nhất trí lấy X làm chồng ( hoặc ) làm vợ không ?
thì khó tránh gieo vào trong đầu mọi người  một sự hoang mang lạ lẫm và buồn cười !
Gần đây xuất hiện một từ lạ đồng thuận . Và từ nầy nhanh chóng phổ cập trong quần chúng nhân dân . Hai chữ đồng thuận mang sắc thái mặc nhiên , mặc định , ...nghĩa là không thể làm khác được . Khi một cá nhân hay một tổ chức đưa ra một quyết định nào đó mà mọi người đều răm rắp " nhất trí cao " ấy là đồng thuận !( không qua tranh luận , phản biện , đối thoại ). Tuy nhiên có một sự mập mờ về nghĩa của từ nầy trong các hiệp ước hiệp định ,...giữa hai đối tác không cân bằng lực lượng
  Rồi để đánh tráo khái niệm bói toán người ta dùng từ ngoại cảm , ...Những nhà ngoại cảm nghe vinh dự hơn những  thầy bói ..
 Ác thay , những từ ngữ đại loại như đã nói ở trên có khả năng huân tập vào não trạng của đám đông và nhanh chóng được xã hội mặc nhiên chấp nhận ( không cần suy xét ) !

Nếu bỏ bánh xà phòng thơm vào ngăn đựng áo quần thì áo quần sẽ có mùi xà phòng thơm !
 Còn nếu đựng trà trong bình đã từng đựng mắm thì nước trà khi uống tất nhiên sẽ nghe  mùi mắm .
 Sự huân tập là như thế - không thể tránh khỏi  .

  Ngôn ngữ , chữ nghĩa là phương tiện truyền thông giao tiếp- từng là công cụ lợi hại để củng cố quyền lực mềm  .
 Đổi đời - đổi thay  -  cả chữ cả nghĩa , cả vân mệnh ...
Cho nên :
  " Buổi đổi đời danh sĩ cũng lêu bêu ...
   Hà huống chi ta một thằng say rượu " ( Hoàng Lộc )

Thứ Hai, ngày 06 tháng 10 năm 2014

NGHĨ BÀN  về  ĐẠO ĐỨC  và   PHÁP LUẬT



Sống không tuân thủ pháp luật sẽ bị truy tố dẫn đến tù tội . Pháp luật đương nhiên không bỏ tù người thiếu đạo đức mà chỉ bỏ tù người vi phạm pháp luật . Luật pháp cũng khônghề truy tố người có lối sống vô tâm vô cảm , vô lễ , …, bất hiếu ,bất nhân ,thất đức …!Xét về một phương diện nào đó , sống và làm việc theo pháp luật đã là đạo đức rồi . Nhưng xét vấn đề một cách toàn diện thì đôi khi phạm pháp chưa hẳn là mất đạo đức ; mà không phạm pháp cũng chưa hẳn đã là trong sạch thánh thiện .
 Vậy giữa pháp luật và đạo đức có một ranh giới nhập nhằng khó phân định : tiểu đồng mà đa dị .
 Trước hết thử bàn đến điểm tương đồng  của hai lãnh vực nầy :
Đạo đức và pháp luật đều hướng thiện , đều nhắm đến mục tiêu lành mạnh hóa con người , xã hội . Nếu đạo đức tôn giáo , tín ngưỡng dẫn dắt con người trên đường hướng thiện thì hiến pháp , pháp luật có nhiệm vụ giữ gìn , trị an phép nước .mang lại công bằng , tự do , dân chủ và hạnh phúc cho công dân .
 Đạo đức và pháp luật còn giống nhau ở chỗ nguyên tắc pháp lý ; các điều khoản trong luật không xa rời quy  tắc đạo đức . Hệ thống pháp luật không tách rời truyền thống dân tộc . Bởi “ sẽ không có hạnh phúc nếu tự mình nhổ ra khỏi gốc rễ của truyền thống “ ( Thiền sư Nhất Hạnh ) .
 Bên cạnh những tương đồng ít ỏi và mong manh trên , giữa đạo đức và pháp luật có những dị biệt căn bản :
-         Điểm khác biệt lớn nhất là luật pháp chỉ mang tính chất  chuẩn xác chứ không    chân xác .Chỉ có đạo đức mới mang tính chân xác . Tính chuẩn xác đo bằng thước đo quy ước xã hội ( hợp với quy ước là chuẫn ). Tính chân xác đo bằng thước đo của thực tạị như có nó ( le réel ).  Trên thực tế có nhiều trường hợp chuẩn mà không chân  . Điển hình có một phiên tòa mở ra với hình thức chỉn chu , theo một trình tự hợp lý ( có quan tòa , có công tố , bồi thẩm , luật sư , nhân chứng , vật chứng , …) nhưng sau 10 năm thì lại phát hiện là xử oan vì hung thủ chợt ra đầu thú . Đó là vụ án của ông Nguyễn Thanh Chấn ở Bắc Giang  . Rồi có một bản án chỉ kết án 18 năm tù đối với một hung thủ  Lê văn Luyện cướp tiệm vàng giết ba mạng người và chặt tay em bé chỉ vì phạm nhân còn thiếu mấy tháng nữa mới đủ tuổi trưởng thành ( ! ) .
-            Hệ thống pháp luật từ hiến pháp đến các đạo luật , nghị định , thông tư , chỉ thị ,…do ai làm ra ; làm ra để mang lại lợi ích cho ai , ..là vấn đề tối quan trọng  .  Ngay đến đạo đức cũng có chân đạo đức và ngụy đạo đức . Ngụy đức là thứ đạo đức giả danh , ngụy trang , hình thức . Lão Tử nói : “ Thượng đức bất đức “ . Còn Pascal cho rằng : “ Chân đạo đức chế giễu đạo đức “( Le vrai moral moque le moral )
-         Điểm dị biệt thứ hai là hiến pháp và luật pháp có thể thay đổi theo từng thể chế chính trị , qua từng thời – do thời đổi pháp phải đổi . Nhưng đạo đức và giá trị của đạo đức là trường tồn bất di bất dịch .
-          Ngoài ra đạo đức và pháp luật còn khác nhau ở chỗ : Sống và làm việc theo pháp luật thì cao lắm chỉ  là một công dân bình thường ; còn sống trong đạo đức thì người ta sẽ vượt lên cả giới hạn đó để là một con người trong sạch thanh cao làm tốt cho cả mọi người xung quanh -ảnh hưởng tốt cho cả nhân quần xã hội .
        Quản lý xã hội bằng pháp luật là cách quản lý khoa học và tiên tiến của nhiều nước trên thế giới . Tinh thần thượng tôn pháp luật phù hợp và thích ứng cho phương pháp quản lý đó  . Tuy nhiên tuyệt đối hóa duy nhất hóa pháp luật mà xao lãng việc di dưỡng đạo đức thì chính là chỉ lo nuôi dưỡng phần xác mà khinh suất phần hồn . – Bởi bản thân luật pháp là bất toàn và còn nhiều khiếm khuyết .
-         Những kẻ hở trong hệ thống pháp luật khó tránh được , có thể tạo cơ hội cho kẻ xấu lách luật , thủ lợi . Ngay như bộ luật La Mã ( Loi Louvain ) nổi tiếng mẫu mực , kinh điển mà ở trang cuối của bộ luật này còn ghi rõ hàng chữ cảnh báo : “ Hãy coi chừng ! Quá công bình quá bất công “

-         Đề cao pháp luật một cách tuyệt đối sẽ biến con người thành vô cảm , lạnh lùng khắc bạc . Vừa rồi trên báo có đăng  một hình ảnh bốn , năm người công an giao thông bận làm biên bản , bảo vệ hiện trường tai nạn giao thông mà bỏ mặc   nạn nhân đang bị thương nặng cần vào bệnh viện để cấp cứu . Ta thấy họ không hề vi phạm pháp luật mà chỉ có thể nói họ đã vi phạm đạo đức . Con người vốn dĩ là giống hữu tình nên không thể làm ngơ , không thể không đoái hoài đến những mảnh đời cơ nhở , những kẻ sa cơ gặp nạn …Nguyễn Du trong truyện Kiều từng nói : “ Ngoài thì là lý nhưng trong là tình “.

-          Thiết nghĩ ngoài việc thượng tôn pháp luật , nhà nước cần tạo điều kiện cho các tôn giáo phát triển đúng bản chất tôn giáo ; nhà nước nên tạo điều kiện cho tôn giáo phát triển thuần túy tín ngưỡng .Như vậy thì môi trường đạo đức mới thẩm thấu vào môi trường pháp luật . Lẽ ra phải nói : “ Tốt đạo đẹp đời “ chứ không nói “ tốt đời đẹp đạo “. Nói đến đạo là nói đến chí  thiện , chí tâm , chí thành . Đạo nào cũng khuyên ta tránh dữ làm lành . Trong kinh Pháp cú , Đức Phật Thích Ca đã thu gọn lời dạy của chư Phật trong 4 câu :

-            Chư ác mạc tác

-         Chúng thiện phụng hành

-         Tự tịnh kỳ ý

-         Thị chư Phật giáo

-         Hòa thượng Thích Minh Châu dịch như sau :

-         Không làm mọi điều ác

-         Thành tựu các hạnh lành

-         Tâm ý giữ trong sạch

-         Chính lời chư Phật dạy

-         Luật pháp chỉ là biện pháp quan phòng , răn đe , chế tài tội phạm . Đạo đức tôn giáo mới là nguồn đức lý vô tận , bền vững giúp con người trở nên trong sạch thánh thiện .


-          Tóm lại ,  những suy nghĩ lan man trong bài viết này xuất phát từ những sự kiện thực tế có mối quan hệ nhập nhằng giữa hai phạm trù đạo đức và pháp luật , giữa chân và chuẩn . Trong xã hội ,  luật pháp được đưa lên ngôi vị cao nhất và việc chuẩn hóa luật pháp cũng được toàn xã hôi quan tâm . Để  được chuẩn cần dùng thước đo quy ước xã hội đặt ra , có khi chỉ  là nghe một phía , nghĩ một chiều , nhìn một hướng ...- đang khi chân xác phải có cái nhìn toàn cục , đa diện đa chiều ....

             Nội dung bài viết này không có tính phản biện , tranh luận mà chỉ có tính cách trầm tư , suy ngẫm về một vấn đề mà mình còn rất băn khoăn...