Thứ Ba, ngày 25 tháng 10 năm 2016

LUẬT PHÁP VÀ SỰ TÔN TRỌNG PHÁP LUẬT

       Trong một cuộc tranh luận giữa hai ứng viên tổng thống Hoa Kỳ - Hillary Clinton và Donald Trump -khi trả lời về vấn đề trật tự xã hội , an ninh quốc gia , ứng viên Clinton có  một phát ngôn mang tính triết lý chính trị : " Luật pháp phải tôn trọng tất cả và tất cả phải tôn trọng luật pháp !"
     Câu nói trên mặc nhiên được cầu chứng vì được thốt ra từ cửa miệng của một người dày dạn trong chính trường . Bà Clinton đã từng là đệ nhất phu nhân của tổng thống Hoa kỳ , từng tranh cử chức vụ tổng thống với tổng thống đương nhiệm và từng là ngoại trưởng ngoại giao của chính phủ Hoa Kỳ .Câu nói vừa ngắn gọn vừa súc tích vừa quyết đoán xoáy vào tâm điểm của lãnh vực lập pháp , hành pháp và tư pháp . Thượng tôn luật pháp không chỉ dành riêng cho người dân , không nhất thiết phải nêu ra khẩu hiệu : " Sống và làm việc theo pháp luật " Bởi vì đó là điều hiển nhiên nếu không muốn phiền hà rắc rối cho bản thân . Vấn đề là quan chức trong bộ máy công quyền có tôn trọng luật pháp hay không ? Nói cách khác là cơ quan lập pháp , cơ quan hành pháp và cơ quan tư pháp phải tôn trọng sự công bằng , sự sòng phẳng giữa con người - xét như công dân - với luật pháp . Nói đến pháp luật là nói đến công chính , công bằng , công minh . Sự công chính , công bằng , công minh phải được bắt đầu từ việc soạn thảo ra hiến pháp ( văn bản trên luật ) đến việc ban hành các đạo luật và các văn bản dưới luật ( nghị định , thông tư ,..)và sau cùng là thi hành luật .
 Nước Mỹ là một quốc gia " hiệp chủng quốc " được hình thành bởi nhiều dân tộc , sắc tộc , cộng đồng dân cư , ...Cho nên quản lý xã hội bằng luật pháp là biện pháp tối ưu . Luật và trật tự xã hội do đó được đưa lên hàng đầu .
  Khi trọng tài nêu lên câu hỏi về vấn đề nầy thì ứng viên Trump trả lời rằng cần phải cải tổ hệ thống tư pháp vì thiếu công bằng trong hành xử giữa người Mỹ và người nhập cư , rằng trật tự không ổn định là do chính sách nhập cư quá dễ dãi ( với người Hồi Giáo và người Mễ Tây Cơ ) . Trong số người nhập cư có nhiều kẻ xấu và súng nằm trong tay họ . Ông nói nếu ông làm tổng thống ông sẽ cho xây một bức tường thành thật cao để ngăn người Mễ tây Cơ xâm nhập vào nước Mỹ ; ông cấm tuyệt người Hồi Giáo nhập cư . Theo Trump phải có thêm cảnh sát và cho phép cảnh sát khám nhà đột xuất để đoạt súng trong tay kẻ xấu .
    Trái lại quan điểm của bà Hillary thì vấn đề không ở chỗ cộng đồng nhập cư mà là LÒNG TIN TƯỞNG GIỮA CỘNG ĐỒNG VÀ CẢNH SÁT TRÊN CƠ SỞ  LUẬT PHÁP PHẢI TÔN TRỌNG TẤT CẢ VÀ TẤT CẢ PHẢI TÔN TRỌNG LUẬT PHÁP . Cảnh sát khám xét đột xuất nhà dân là thiếu tôn trọng pháp luật và đánh mất lòng tin của cộng đồng vào cảnh sát .
  Thế nào là luật pháp phải tôn trọng tất cả ? Tất cả ở đây gồm những ai ? Tất cả ở đây là cho mọi người , cho mỗi người không phân biệt chủng tộc , sắc tộc , nhân thân ...Luật pháp phải tôn trọng quyền con người , quyền làm người ( nhân quyền ) và quyền công dân ( dân quyền ) . Đó là giá trị phổ quát mà công ước quốc tế đã quy định và các quốc gia đã ký kết . Đáp lại , tất cả mọi người , dù là dân thường hay quan chức đều cũng phải tôn trọng pháp luật .Tất cả phải được bình đẳng trước pháp luật - công pháp bất vị thân - Cốt lõi của thể chế pháp trị là công chính ,công bằng , công minh . Nhân viên thi hành pháp luật phải làm đúng theo luật định đã được minh thị trong hiến pháp , trong đạo luật . Ngược lại , người dân có quyền giám sát việc làm của nhân viên an ninh xem có đúng với hiến định , luật định hay chưa .Theo quan điểm của bà Clinton thì trong ổn định trật tự xã hội , an ninh quốc gia ; vấn đề không ở chỗ tăng quyền cho cảnh sát mà là tăng lòng tin giữa cộng đồng và cảnh sát .
  Có sự khác biệt giữa hai khái niệm " nhà nước pháp quyền " và " thể chế pháp trị ". Nhà nước pháp quyền tuy có sự tách bạch hành pháp , lập pháp và tư pháp ; song từ hiến pháp cho đến các đạo luật và văn bản dưới luật đều theo một đường kẻ vạch sẵn của hình thái đơn nguyên tập quyền . Còn thể chế pháp trị là sử dụng những điều lệ , nguyên tắc của luật pháp để quản trị xã hội . Cái mà ứng viên Clinton muốn bảo vệ và phát huy chính là mô hình thể chế dân chủ pháp trị , sử dụng nguyên tắc luật định của pháp luật để quản trị một quốc gia đa chủng tộc , nhiều thành phần như Hoa Kỳ !. Đó là hình thái thể chế dân chủ pháp trị .
  Suy rộng ra , trật tự an ninh thế giới ổn định hay mất ổn định tuỳ thuộc vào sự tôn trọng của các quốc gia đối với công ước quốc tế với những phán quyết , án lệ của trọng tài . Toà trọng tài căn cứ vào công pháp quốc tế để đưa ra một phán quyết nào đó lập tức nó trở thành luật , thành án lệ mà các quốc gia liên quan có trách nhiệm thi hành . Trung Quốc bác bỏ phán quyết của toà trọng tài là không tôn trọng luật pháp quốc tế . Tống thống tiền nhiệm của Philippine đã đệ đơn khởi kiện Trung Quốc ra toà án quốc tế và đã thắng kiện . Nay tân tổng thống của Philippine , Duterte , đã không đếm xỉa gì đến phán quyết của toà trọng tài , lại bắt tay với bên thua kiện là thái độ không tôn trọng luật pháp quốc tế . Sự không tôn trọng và bất tuân luật pháp của cả bên bị cáo lẫn nguyên cáo là nguyên cớ gây mất ổn định an ninh cho khu vực và thế giới . Nếu chiến tranh nổ ra thì Philippine có một phần trách nhiệm rất lớn với thế giới .

    Tóm lại, triết lý chính trị của ứng viên tổng thống Hoa Kỳ , Hillary Clinton " luật pháp phải tôn trọng tất cả và tất cả phải tôn trọng luật pháp " nếu được ứng dụng đúng mức sẽ đem lại trật tự an ninh cho một quốc gia cà cho cả thế giới !

Thứ Năm, ngày 22 tháng 9 năm 2016

MẠN ĐÀM VỀ MẶC CẢM



       

               Sự kiện Trung Quốc tiếp đón tổng thống Hoa Kỳ Barack Obama ở sân bay Hàng Châu bằng mặc cảm thay vì theo bằng nghi thức ngoại giao thông thường là một hiện tượng lạ trong lịch sử ngoại giao thế giới . Mặc cảm ( complexe ) là một loại tâm lý phức tạp ( phức cảm ) . Nó hoàn toàn không thật , mặc định nhưng không cố định , quá khích và nguy hiểm . Trong đối nhân xử thế ta thường bị chi phối bởi mặc cảm mà ta không biết . Nếu mâu thuẫn xảy ra mặc cảm trong giao tiếp giữa quốc gia với quốc gia thì đó là nguy cơ xảy ra chiến tranh , khủng bố ...
   Mặc cảm hay phức cảm là loại tâm lý không nằm trên bình diện ý thức mà ẩn tàng trong vô thức nên rất khó kiểm soát .
   Có ba loại mặc cảm :
-Mặc cảm tự tôn ( complexe de supériorité)
-Mặc cảm tự ti ( complexe d'inphériorité)
- Mặc cảm đồng nhất ( complexe d'intentité)
   Mặc cảm tự tôn là tự cho mình hơn người
  Mặc cảm tự ti là tự cho mình thua người
  Mặc cảm đồng nhất là tự cho mình bằng người
   Trong ba loại mặc cảm trên thì mặc cảm tự tôn là hiện tượng tâm lý nguy hiểm nhất , phức tạp nhất và thường hay biến tướng . Thuật ngữ Phật học gọi nó là " cống cao ngã mạn " . Cái tôi của người mang mặc cảm nầy là không thật , là tha ngã ( sur moi) khác với chân ngã ( vrai moi ) . Nó chi phối toàn bộ suy nghĩ , hành động ...tạo nên tính cách tự cao tự đại- mục hạ vô nhân .Một khi cái tôi ấy đương cự , đối đầu với thực tế phũ phàng ( là mình không bằng ai ) , mặc cảm tự tôn sẽ biến tướng thành mặc cảm tự ti . Điển hình về sự biến tướng nầy là trường hợp " TRUNG HOA NƯỚC LỚN ". Chính người Bắc Kinh tiếp đón tổng thống Hoa Kỳ bằng cùng một lúc ba loại mặc cảm nói trên .

     Từ thời cổ đại , Trung Hoa rất tự hào về những ưu thế vốn có của dân tộc mình . Thực tế , Trung Hoa là nước có lãnh thổ rộng nhất Châu Á , dân số đông nhất thế giới , nền văn minh lâu đời nhất thế giới ...Có lẽ vì vậy mà họ đặt tên nước là TRUNG HOA ( trung tâm của mọi tinh hoa trên thế giới ). Não trạng của các vương triều  Trung Hoa bao giờ cũng thể hiện là " Trung Hoa nước lớn " . Và tất nhiên họ xem các nước lân bang chỉ là nước nhỏ , chỉ là chư hầu , có bổn phận triều cống  cho thiên tử nước lớn .
Do mặc cảm tự tôn , chính quyền Trung Hoa rất sính chữ " đại " như đại Hán tộc , đại cách mạng , đại lễ đường , đại mỹ nhân , đại tự điển , ...( Người Pháp thì cuốn tự điển dày cộm mà họ  lại gọi là petit la rousse !). Cũng may nhờ có triết học Nho giáo mà giới trí thức , nho gia , kẻ sĩ biết mềm mỏng , khiêm cung, khiêm hạ ( Chữ Nho trong đạo Nho hàm nghĩa là Nhu ).  Do não trạng nước lớn , do tâm lý tự kỷ trung tâm mà các vương triều Trung Hoa không chịu mở cửa để học hỏi những tiến bộ về khoa học , kỹ nghệ của phương Tây . Kịp đến khi 8 nước phương tây lập thành liên quân tấn công vào Trung Hoa thì gươm giáo không địch lại súng đạn ...Rồi trong thế chiến thứ 2 , dân tộc Trung Hoa lại bị quân phiệt Nhật đè đầu cởi cổ , bạt tai đá đít ...  Thực tế phũ phàng nầy đã biến mặc cảm tự tôn cố hữu thành mặc cảm tự ti kéo dài suốt mấy thập niên ...

Thế chiến thứ 2 kết thúc do 2 quả bom nguyên tử của Mỹ thả xuống đất Nhật ; Nhật đầu hàng đồng minh vô điều kiện và triệt thoái quân khỏi các nước chiếm đóng .Chế độ Cộng Hoà của Tưởng Giới Thạch lãnh trách nhiệm của đồng minh giao phó để giải giới quân Nhật . Lợi dụng cơ hội  nầy Mao Trạch Đông lãnh đạothành công  cuộc cách mạng vô sản ...Họ Mao biết khai  thác triệt để mặc cảm tự ti dân tộc, mặc cảm nghèo hèn thua kém của nông dân  - từng bị khinh khi rẻ rúng , từng bị áp bức bất công , từng bị thua kém ,từng bị chà đạp , ... rồi dẫn chứng thành quả " đại cách mạng " để kích hoạt  mặc cảm tự ti dần dần biến tướng thành mặc cảm tự tôn cố hữu !Mặc cảm tự tôn của nhà cầm quyền Trung Hoa ngày càng trở nên nguy hiểm khi nền kinh tế càng ngày càng lớn mạnh ... ( Nhờ thoả hiệp Thượng Hải đưa đến kinh tế thị trường giúp Trung quốc giàu lên nhanh chóng ). Thế là Trung Quốc lại trỗi dậy thành " Trung Hoa nước lớn "có điều không trổi dậy trong hoà bình mà trỗi dậy bằng chiến tranh , bằng xâm lược của  tâm lý " kẻ mạnh , bằng cách đánh chiếm các nước lân bang như Tây Tạng , Tân Cương ,...Và còn có cả tham vọng độc chiếm biển Đông ... Tự tôn mặc cảm khiến Trung Quốc càng ngày càng trở nên ngang ngược , hống hách  bắt nạt các nước nhỏ , xem thường cả luật pháp quốc tế . Não trạng nước lớn từ mặc cảm tự tôn đã ăn sâu trong tư tưởng từ lãnh đạo lây lan cả dân chúng ...Thái độ kẻ cả ,ngạo mạn của nhân viên an ninh to tiếng với bà cố vấn tổng thống Hoa kỳ ..; hình ảnh cư xử ngang tàng của người dân Trung Quốckhi đi du lịch ở các nước đã nói lên điều đó !

    Sự kiện đón tiếp tổng thống Hoa Kỳ ở sân bay Hàng Châu của nhà nước Trung Quốc đã không tuân thủ quy định về nghi thức ngoại giao mà cùng một lúc bộc lộ ba loại mặc cảm : vừa tự tôn  vừa tự ti  vừa đồng nhất .
 - Tự tôn vì nghĩ rằng ta đây cũng là cường quốc ...và rất có thể ta sẽ soán ngôi Hoa Kỳ lãnh đạo thế giới
- Tự ti vì xét lại nhiều mặt khác như trí thức , tự do ,dân chủ , an sinh phúc lợi , ...vẫn còn thua các cường quốc tư bản ..
- Mặc cảm đồng nhất vì tự cho mình ngang bằng với các nước văn minh . Bằng chứng là trước thềm hội nghị G20 nhà cầm quyền Trung Quốc muốn cho Hàng Châu , nơi diễn ra hội nghị phải được lột xác để chứng tỏ cho thế giới biết Trung Quốc là một quốc gia văn minh- bằng các việc làm sau đây : trang trí thành phố lộng lẫy ; đóng cửa các nhà máy để làm sạch môi trường ; lắp đặt bồn cầu miễn phí cho các hộ dân chưa có bốn cầu ; cơ cấu một đội an ninh nữ toàn là những người đẹp ,...
    Trung Quốc ngày xưa là một nước rất đề cao chữ lễ , nhưng ngày nay do bị chi phối bởi nhiều mặc cảm  nên việc đón tiếp một tổng thống lại không giống ai .Nước ta có thành ngữ " tiếng chào cao hơn mâm cỗ " đề cao chữ lễ trong đối nhân xử thế . Chữ lễ rất cần thiết trong giao tiếp hàng ngày . Ta có thể thiếu thốn tiện nghi vật chất trong thời gian dài nhưng không thể thiếu lễ dù trong một phút ! Sự thất lễ của nhà cầm quyền Trung Quốc đối với tổng thống Hoa Kỳ là một điều đáng tiếc của nước chủ nhà . Bởi vì dù cho khách không lấy đó làm điều song sự kiện đó đã làm cho thể diện quốc gia của cả hai đều bị tổn thương .Nguy hiểm hơn nữa là mầm mống mâu thuẫn giữa hai dân tộc có thể treo lơ lửng đâu đó ...

       Giá trị của ai là của người ấy . Tự cho mình là như thế nầy hoặc như thế kia là thuộc loại tâm lý phức tạp , không thật và nguy hiểm - nhất là mặc cảm tự tôn ."Cái tôi bao giờ cũng đáng ghét " và đáng xấu hổ và bị mọi người xa lánh . Trong cấu tự chữ Hán , chữ tự đại ( gồm chữ TỰ  và chữ ĐẠI ) họp thành chữ XÚ ( hôi thúi , bốc mùi )
. Tự cho mình lớn chưa chắc đã lớn , nhưng bốc mùi thì có thật . Tiếng Pháp phân biệt rạch ròi hai khái niệm : "Homme grand " ( người to lớn ) và " Grand homme" (vĩ nhân ). To con lớn xác chưa hẳn là vĩ nhân !

   
         
 

Thứ Hai, ngày 01 tháng 8 năm 2016

ĐÃ LÀM GÌ - ĐƯỢC LÀM GÌ - LÀM GÌ ĐƯỢC

        Sau khi tái đắc cử, nhậm chức lần thứ hai chủ tịch quốc hội Nguyễn Thị Kim Ngân trong cuộc gặp mặt báo chí đã phát ngôn như sau : " Bảo vệ hòa bình không phải là hô hào thật to , kích động thế nầy thế khác là được chủ quyền , không có đâu . Một số tổ chức , cá nhân lên tiếng hô hào thế nầy thế khác , những người đó , những tổ chức cá nhân đó đã làm gì cho đất nước ?  Chưa làm gì cả " . Lời tuyên bố của người đứng đầu cơ quan quyền lực cao nhất khiến cho nhiều người quan tâm đến vận mệnh đất nước cảm thấy bất bình  . Bởi vì nhiệm vụ của công dân là phải tự hỏi mình  đã làm gì cho đất nước chứ không phải đòi hỏi đất nước phải làm gì cho mình . Thế nhưng , các tổ chức cá nhân trong quần chúng lên tiếng hô hào bảo vệ chủ quyền biển đảo , bảo vệ môi trường biển , .. đã không được chính quyền hoan nghênh mà còn bị lên án , chỉ trích  . Thực tế họ đã làm gỉ ? Họ được làm gì ? Và họ làm gì được ?

       Nói " Những tổ chức cá nhân chưa làm gì cả " cho đất nước là không công bằng , không đúng và thiếu hiểu biết . Bởi lẽ , mỗi công dân trong nước làm tròn bổn phận , trách vụ của mình thì kể như " đã làm gì " cho đất nước rồi . Ví dụ như người nông dân cần mẫn trên ruộng đồng , học sinh sinh viên chăm chỉ học hành , cán bộ công chức tận tụy với công việc , ...tức nhiên là đã góp phần cống hiến cho đất nước rồi . Đóng thuế , nộp phí , thậm chí tiêu dùng , hưởng thụ cũng đã chịu một khoản thuế giá trị gia tăng làm giàu ngân sách quốc gia . Đáo cùng , một công dân lương thiện cũng đã góp phần rất nhiều vào sự lành mạnh hóa xã hội . Nói ai đó chưa làm gì cả cho đất nước là cách nói hồ đồ trịch thượng kẻ cả của người bề trên mắng kẻ dưới là đổ vô tích sự .
   Hơn nữa , không ai có thể độc quyền yêu nước . Độc quyền yêu nước dễ dẫn đến độc chiếm quyền lực , thiếu dân chủ và dễ đưa đất nước đến một con đường có` nhiều rủi ro . Mỗi công dân đều có quyền yêu nước và có những cách thế biểu lộ lòng yêu nước khác nhau - tùy vào hoàn cảnh , khả năng , cương vị . Đã có lần cụ Phan Bội Châu rủ cụ Trần Tế Xương đi làm cách mạng . Hai người vừa đi đến Bắc Giang thì trời vừa tối , lại không có đò qua sông nên hai cụ phải ngủ lại chờ trời sáng . Sáng hôm sau thức đậy cụ Phan không thấu Tú Xương đâu cả , chợt hiểu ra rằng người như Tú Xương chỉ có thể làm cách mạng bằng thơ trào phúng  .Thơ trào phúng của Tú Xương cũng đã đóng góp một phần không nhỏ trong công cuộc cải tạo xã hội cũng như chống ngoại xâm . Tú Xương đã tham gia ' làm cách mạng ' bằng thơ ! Được làm gì cho đất nước còn phụ thuộc vào những tiêu chí , cơ cấu nhân sự của chính quyền . Nếu hiền tài không được tham chính thì trong bộ máy cầm quyền , những kẻ vô tài bất tướng sẽ lộng hành khuynh loát ; hậu quả là chẳng những  uổng phí nguyên khí quốc gia mà còn đem lại di hại cho tương lai dân tộc . Quy luật của chính trị là trong một chế độ không tạo điều kiện cho bậc hiền tài tham chính thì bọn xôi thịt có nhiều cơ hội đầu cơ chính trị để vinh thân phì da .
  Nói ai đó chưa làm gì cho đất nước là hồ đồ  . Tất cả mọi công dân tốt đếu đã và đang phụng sự cho tổ quốc .
   Từ câu hỏi  đã làm gì , được làm gì khiến chúng ta phải đặt ra câu hỏi tiếp theo là  ta làm gì được ?! . Câu trả lời thích ứng đó là tham gia vào các cuộc biểu tình dù có hoặc chưa có luật biểu tình . Bởi vì trên đạo luật là văn bản hiến pháp . Và trên hiến pháp là công ước quốc tế . Quyền được biểu tình đã được công ước quốc tế công nhận và được hiến pháp Việt Nam minh thị . Biểu tình ( manifestation ) đơn giản có nghĩa là biểu lộ , phát lộ , phát biểu . Đại biểu Quốc Hội có nhiệm vụ thay mặt cử tri đề đạt lên chính phủ nguyện vọng của dân chúng . Bà chủ tịch Quốc hội đã chẳng những không  đưa tiếng nói của dân vào chương trình nghị sự trong những kỳ họp QH mà còn cao giọng phê phán , lên án là hành vi gây rối làm mất ổn định chính trị .


      Như vây , phát ngôn của bà chủ tịch Quốc hội vừa không chân xác lại mang giọng điệu trịch thượng cuả kẻ bề trên . Điều nầy trái với nguyên tắc lấy dân làm gốc mà Đức Khổng Tử từ xưa đã từng khuyên dạy các nhà lãnh đạo  dân vi quý , xã tắc thứ chi , quân vi khinh .


Chủ Nhật, ngày 24 tháng 7 năm 2016

CHÍNH TRỊ , CÔNG DÂN VÀ TỔ QUỐC

       
Quan tâm chính trị để làm gì ?
   Thuật ngữ triết học gọi tên những câu hỏi như thế  là loại câu hỏi trùng phức . Câu hỏi trùng phức là loại câu hỏi thừa , lẽ ra không cần phải hỏi . Một câu hỏi thường chứa một phần ba câu trả lời .; còn câu hỏi trùng phức tự nó đã có sẵn câu trả lời . Trừ những người sống trên hoang đảo , hoặc những đạo sĩ ẩn tu trong rừng sâu , không ai không quan tâm chính trị . Lý do là chính trị dính chặt vào sự tồn sinh của mỗi công dân và của toàn dân tộc .
      Không ít người có chủ kiến " không quan tâm không dính dấp đến chính trị "hoặc " chính trị là của chính khách , thường dân quan tâm làm gì ? " Những quan điểm trên chứa  mâu thuẫn nội tại . Bởi vì ai ai cũng muốn sống yên ổn ,  cũng muốn " ổn định chính trị " , nhưng lại thường thờ ơ tránh né những gì xảy ra chung
quanh mình . Chính trị đơn giản là những sự kiện , những biến động ,...xảy ra trong cuộc sống quanh ta . Những sự kiện biến động đó tuy chưa ảnh hưởng trực tiếp đến bản thân ta song có nguy cơ làm thay đổi cục diện của đất nước . Sự thịnh suy của đất nước chắc chắn có ảnh hưởng đến mọi công dân . Gần đây xảy ra nhiều sự kiện , những biến động mang yếu tố Trung Quốc làm chấn động dư luận như nguồn nước sông Mê Kông bị chặn ở đầu nguồn dẫn đến nước ở đồng bằng miền tây nam bộ  bị nhiểm mặn ; bùn đỏ ở Tây nguyên tràn ngập , mạch ngầm  bị nhiểm độc ; thuyền đánh cá của ngư dân bị tàu Trung Quốc đâm chìm ; cá chết hàng loạt ở biển miền Trung ,đài phát thanh ở một số tỉnh thành bị nhiễu sóng phát tiếng Trung Quốc ; phán quyết của toà án quốc tế về đường lưỡi bò , vv...Những sự kiện biến động trên đều có liên quan đến chính trị . Chính trị chi phối hoàn toàn cuộc sống của mỗi cá nhân . Nói đến chính trị là nói đến chính phủ chính quyền , chính thể , hành chính , định chế , đạo luật , thông tư nghị định , vv...Cuộc sinh tồn của mỗi công dân gắn liền với sự sinh tồn của dân tộc ; và sự sinh tồn của dân tộc bảo đảm cho sự sinh tồn của mỗi cá nhân trong cộng đồng dân tộc . Bởi thế cho nên hễ nước mạnh thì dân giàu , nước mất thì nhà tan . Làm một công dân dù quan tâm hay không quan tâm chính trị thì vẫn bị chính trị chi phối từng ngày từng giờ - trong hiện tại và cả trong tương lai con cháu chúng ta .
   Xét về nghĩa từ nguyên , chữ chính trị có nghĩa là làm cho ngay ngắn , đúng đắn , kỷ cương , minh bạch . Một nền chính trị hồ đồ sẽ gây ra chính sự phiền hà , dễ khiến lòng dân oán hận . Sứ mạng to lớn của chính trị gia là trị quốc an dân ; đem lại sự thái bình thịnh trị cho quốc gia dân tộc . Làm chính trị mà sai lầm thì giết chết cả thế hệ ,
   Ngày xưa trong chế độ phong kiến , bá tánh phải tận trung với vua vì quan niệm vua là " Thiên tử " ( con trời ) . Ngày nay khái niệm nầy được thay bằng " trung thành với tổ quốc " vì Tổ quốc là trên hết  .
  " Hãy trung thành với tổ quốc và chỉ trung thành với chính quyền , một khi nó xứng đáng với điều đó " ( Mark Twain ) 

       Là một công dân trong cộng đồng dân tộc mà  không quan tâm chính trị khác nào kẻ đứng bên lề , có khi còn tệ hơn một người nước ngoài ! Không lên tiếng , không đứng lên bảo vệ chân lý ,chính nghĩa , tổ quốc , ...thì cuộc sống sẽ trôi lăn theo dòng đời ngu mê u  tối !Cụ Phan Chu Trinh nhận xét rất đúng về dân tộc tính của người Việt như sau : " Bi kịch của dân tộc Việt Nam là người Việt chỉ yêu bản thân họ hơn là quan tâm đến những gì xảy ra chung quanh . Bản tính cuả  người Việt là sợ liên luỵ và ngại giúp đỡ ; từ đó dẫn đến vô cảm " 
   Trước những sự kiện , biến động xảy ra trong nước hiện giờ thì chỉ một số nhân sĩ trí thức đã dũng cảm có tiếng nói , buồn thay còn một số thì cầu an bởi " sĩ khí rụt rè gà phải cáo " ( Trần Tế Xương ) .

     Nếu làm từ thiện xuất phát từ lòng trắc ẩn và từ tâm một cách tự nhiên trong mối quan hệ giữa tình đồng loại thì quan tâm chính trị cũng là  nghĩa cử tự nhiên vốn dĩ như thế . Quan tâm chính trị chẳng khác nào quan tâm hơi thở , quan tâm đến môi sinh , đến sự biến đổi khí hậu, đến chính sách , định chế , đạo luật , nghị định , thông tư , thuế , phí , cách sử dụng tiền thuế của dân trong việc thực hành an sinh , phúc lợi ,vv...Tất cả những vấn đề đó gắn liền với sự tồn sinh của mỗi cá nhân và toàn dân tộc . Nếu không quan tâm đến chúng , ta sẽ thiếu trách nhiệm với bản thân và cả với cộng đồng . Quan tâm để tỉnh thức trong các lựa chọn , để hành xử thích ứng trong từng giai đoạn .( chẳng hạn như hiện nay mọi yếu tố có liên quan đến Trung Quốc đều đáng quan ngại và đề phòng cảnh giác !)




Thứ Năm, ngày 16 tháng 6 năm 2016

" LÀM TỪ THIỆN ĐỂ LÀM GÌ ?! "

                               " Từ đây người biết thương người ..." 
    Đó là niềm hân hoan và khát vọng của nhạc sĩ Văn Cao trong " Mùa xuân đầu tiên " sáng tác vào sau năm 1975 . Bốn mươi năm sau không chỉ trong Nam mà ngoài Bắc rộ lên phong trào làm từ thiện vì ngày càng có nhiều mảnh đời cơ nhở , cơ hàn . Nhưng những tấm lòng trắc ẩn , những nghĩa cử cứu giúp người nghèo khó nay bị đem ra phanh phui , mổ xẻ , ...bằng những câu hỏi lạnh lùng khắc bạc " Để làm gì ..., để làm gì ..., để làm gì ...? " Phong trào làm từ thiện rồi đây có nguy cơ bị bức tử . Người dù có " biết thương người " cũng đành bó tay thúc thủ . Do ai và vì sao ra nông nỗi nầy ? Vì sao người ta phải huy động nhiều thành phần tham gia chất vấn   chỉ để đánh sập một tấm lòng .

    Chương trình " 60 phút mở " bề ngoài có dáng vẻ như một cuộc hội thảo cởi mở bình đẳng giữa các thành phần tham gia nhưng thực chất bên trong được dàn dựng theo một kịch bản nhằm điều hướng dư luận theo ý của người biên tập . " 60 phút mở"  lần nầy bàn về chủ đề : " Làm từ thiện vì ai " . Duyên do thành lập chủ đề nầy có lẽ xuất phát  từ sự thất bại lớn của một chuyến đi từ thiện lớn ở vùng cao vào giáp tết Bính Thân . Vào thời điểm nầy nhóm từ thiện " Xây dựng trường vùng cao " tổ chức một chuyến đi từ thiện với chủ điểm " Tết ấm biên cương "   ở Mường Lạng ( sát biên giới Lào ) . Nhóm định tổ chức một bửa tiệc tất niên cho 3600 em bé vùng cao được ăn bánh chưng đươc5 mặc áo ấm . Một chiếc xe chở 3600 chiếc bánh chưng , 3600 cây  giò và 25 tấn quần áo chạy suốt 15 tiếng đồng hồ ! Xe chạy gần tới địa điểm Mường Lạng thì bị lực lượng biên phòng chận lại . Ông trưởng đồn từ chối nhận quà và không cho tổ chức tiệc tất niên . Thế là nhóm từ thiện chỉ còn biết khóc !

  Bà Tạ Bích Loan người chủ trì chương trình mời 2 anh trong nhóm từ thiện nói trên đến để trao đổi ,thực chất là để truy vấn . Hai người đó một người có tên Nguyễn hoài Anh , một người có tên là Nguyễn Như Quỳnh ( trưởng đòan ) . Ngoài ra khách mời có tiến sĩ Đặng Hoàng Giang và ca sĩ Thái Thùy Linh . Mở đầu chương trình bà Tạ mời 2 anh tường thuật lại chuyến đi từ thiện hôm giáp tết ở vùng cao . Khi thuật đến sự kiện bị ngăn cản bà hỏi cảm giác các anh khi đó thế nào . Anh Hoài Anh trả lời " chỉ biết khóc " . Ông tiến sĩ lên giọng an ủi : " Giờ này không nên ngồi mà than vãn chuyện đã xảy ra mà hãy rút kinh nghiệm " , Còn bà Tạ tuyên bố trọng tâm của chương trình : " Đây là câu hỏi rất là chủ yếu của ngày hôm nay , tôi muốn hỏi các bạn làm từ thiện là vì ai ? và để làm gì ? " Câu " để làm gì" được vặn đi vặn lại ba lần .
   Khán giả xem truyền hình thấy cử chỉ gần như trấn áp và những câu hỏi dồn dập của chủ tọa , nhiều người lấy làm khó chịu . Người xem có cảm giác đây là một cuộc hỏi cung . Sau câu trả lời của 2 anh , bà Tạ phán một câu quyết đoán : " Các bạn có nghĩ là làm từ thiện không có lợi mà còn dễ gây hại không ?" Nói theo ngôn ngữ của giáo sư Ngô Bảo Châu thì người hỏi câu nầy " hoặc là thần kinh , hoặc là khốn nạn " . Hoạt động từ thiện thuộc loại hoạt động phi lợi nhuận ( ngoại trừ một số làm kinh doanh từ thiện ) . Có ai sẵn lòng từ tâm đi cứu giúp người khốn khổ mà lại tính toán lợi hại ? . Câu hỏi làm từ thiện là vì ai là câu hỏi thừa mà người hỏi đủ thông minh để biết là thừa nhưng vẫn cứ hòi để lèo lái câu chuyện sang một hướng có dụng ý . Tất nhiên đi làm từ thiện là vì những người cần được giúp đỡ chứ vì ai nữa . Còn làm từ thiện vì mình thì cũng không sai : làm việc nhân nghia để tích đức , lưu phước thì cũng tốt chứ sao . Nhưng vấn đế là câu hỏi " vì ai " , để làm gì "

   Người xem chương trình còn khó chịu hơn nữa khi ông tiến sĩ Đặng Hoàng Giang phô diễn : " Việc làm từ thiện với một quy mô lớn như vừa rồi xuất phát từ TƯ DUY CHỨNG TỎ ( ? ) . Ông nói thêm : " làm đại tiệc hoành tráng , 3600 chiếc bánh chưng ...chứng tỏ như chưa có ai làm được vậy - kiểu như chiếc bánh tét dâng vua Hùng ..." Thật ngớ ngẩn , thật dốt nát ! . Mỗi em bé chỉ nhận một chiếc bánh chưng , ..thì có gì là hoành tráng . ( Hoành tráng chăng có lẽ là con số 3600 bé đang chịu cảnh cơ hàn ;  hay hoành tráng như chiếc bánh  , tô hủ tíu khổng lồ dâng vua Hùng mà không ai ăn được !) . Không biết ông tiến sĩ xuất thân từ đại học nào mà ăn nói hồ đồ như thế .
  Bà Tạ XƯỚNG ra vấn đề "gây hại " thì ông Đặng HỌA : " Làm từ thiện đã không có lợi mà gây ra 2 cái hại : một là các em bé vùng cao mặc áo có  " design"nước ngoài sẽ làm mất bản sắc văn hóa ; hai là gây ra tâm lý ỷ lại , trông chờ của người nhận " . Ông tiến sĩ nầy hiểu thế nào là bản sắc văn hoá?. Nếu y phục làm nên bản sắc văn hóa thì dân tộc Kinh mặc đồ Tây chắc là mất bản sắc văn hóa từ lâu rồi ! Cứu đói cứu lạnh như cứu hỏa mang tính cấp thời . Một em bé vùng cao trùng trục chịu rét dưới cái lạnh 0 độ mà chờ có được cái áo thổ cẩm chắc không còn kịp !Còn cái từ thiết kế sao ông tiến sĩ " bảo tồn bản sắc văn hóa " không dùng mà lại phải dùng tiếng design của nước ngoài ?   Vậy là chính ông ta đang làm mất bản sắc văn hóa Việt ! Còn chuyện ông ta lo sợ người nghèo có tâm thế ỷ lại , trông chờ từ thiện là không đáng . Giúp đỡ người qua cơn khốn khó là "giúp ngặt " chứ không thể " giúp nghèo " . Giúp nghèo đã có an sinh xã hội của nhà nước lo , người làm từ thiện không nhất thiết phải có trách nhiệm với cái nghèo thường trực của người nghèo . Bà Tạ rất vô lý khi nói những người nghèo không cần bánh chưng không cần quần áo mà chỉ cần việc làm , ...Việc làm , sinh kế của người dân là trách nhiệm của bộ Lao Động & Thương Binh xã hội . Trong khi người nghèo đói bị thất nghiệp chưa có cần câu cơm thì trước mắt nên cho cơm để họ sống đã !Còn ông tiến sĩ thì hăm dọa : " Bất cứ hành vi nào khi tác động vào xã hội cũng có hiệu ứng phụ . Làm từ thiện phải là từ thiện đúng , cứ sướng lên mà cho thì khi xảy ra hậu quả tai hại nhà nước phát hiện thì nguy " .Thật không thể tưởng tượng nổi một ông mang danh tiến sĩ mà phát ngôn cẩu thả như vậy ! " Sương lên mà cho " là thế nào ?! Cho , xuất phát từ lóng thương yêu lo lắng chứ không ai nói " sướng " bao giờ .  Nói đến CHO người ta nghĩ đến 5 loại sau đây :
- Ta cho những gì ta có
- Ta không có mà ta vẫn tìm cách để cho ( quyên góp )
- Ta có khi ta cho ( có niềm vui vì làm xong nghĩa cử đẹp )
- Ta có mà ta không biết cho
- Ta không cho mà ta còn dèm xiểm người đi cho

  Theo ông tiến sĩ Đặng Hoàng Giang thì khái niệm từ thiện đúng  là phải hướng dẫn người nghèo cách quản lý tài chánh ( ? ! ) , là tạo chất xám cho người nghèo ! Nói như ông Giang chẳng khác nào đem tranh tặng người khiếm thị , đem dĩa nhạc tặng người khiếm thính !. Chốt lại chương trình " 60 phút mở " bà Tạ quay sang hỏi tiến sĩ : " Vậy là chúng ta có nên đem bánh chưng , quần áo lên vùng cao nữa không ? "  Ông tiến sĩ trả lời dứt khoát : "Tôi thì tôi không làm như vậy " 

    Tóm lại , những nghi vấn về việc làm từ thiện như " vì ai " , " để làm gì " lẽ ra không nên đặt ra . Thấy đói thì cho ăn , thấy rét thì cho mặc , thấy cháy thì chửa lửa , ...đó là tính thiện tự nhiên của con người ,hà tất phải hỏi ! Sở dĩ nhà đài , nhà báo , nhà lý luận cố tình đặt ra những câu hỏi như thế để cố nhào nặn ra cho được câu trả lời : "Làm từ thiện là vì mình , làm lợi cho mình mà làm hại cho người được giúp đỡ " . Đó là một thứ tư duy tư lương , tính toán lợi hại thiệt hơn đã ăn sâu vào não trạng thực dụng tèrre à tèrre ! Tư duy như vậy sẽ làm mất đi cái bản sắc Việt về lòng tương thân tương ái tương tế tương trợ mà người  xưa đã đúc kết trong câu ca dao " Miếng khi đói bằng gói khi no , Của tuy tơ tóc nghĩa so nghìn trùng ". Hành vi từ thiện còn được gọi là nghĩa  cử xuất phát từ cái bụng , cái tâm , tấm lòng chứ không xuất phát từ cái đầu kê tính . Cái tâm đó nhà Phật gọi là Bồ Đề tâm . Phật dạy : " Đánh mất Bồ đề tâm đi làm việc thiện là hành vi của ma " ( vong thất Bồ Đề tâm hành chư thiện pháp thị danh ma nghiệp - Kinh Hoa Nghiêm ) . Bồ Đề tâm là tâm bình đẳng , tâm không phân biệt kẻ cho người nhận , không có gì để cầu , cũng không có gì để được . Những người lợi dụng từ thiện để làm nghề kinh doanh chính là ma nghiệp sẽ bị quả báo khôn lường !

   

Thứ Tư, ngày 08 tháng 6 năm 2016

KHÚC HẬU ĐÌNH HOA VÀ BÀI THƠ BẠC TẦN HOÀI

                                Thương nữ bất tri vong quốc hận 
                                Cách giang do xướng Hậu đình hoa 

Hai câu cuối của bài thơ " Bạc Tần Hoài "(  Tần Hoài Dạ Bạc ) đã từng gây hoang mang tranh cải cho hậu thế . " Không biết mối hận mất nước " thì đã rõ , nhưng khúc " Hậu Đình Hoa " là khúc gì mà ghê gớm lắm vậy ?  Xin thưa là vì bài ca nầy có liên quan đến việc mất nước , đến người sáng tác ra nó , đến thân phận ca nhi , đào hát , đến thái độ của thi hào Đỗ Mục  trong bài " Bạc Tần Hoài" và dư chấn của bài thơ .
 Có thể tóm lược xuất xứ của bài thơ nầy như sau : Hậu Đình Hoa là một trong ba tập thơ do Trần Thúc Bảo  thường được biết đến trong sử sách là Trần Hậu Chủ đời hậu Trần , thời Nam Bắc triều ( 420- 587) bên Tàu  - tập hợp các bài thơ sáng tác trong các buổi tiệc tùng , vui chơi giải trí cùng các quan học sĩ. Khúc " Hậu Đình Hoa " được phổ nhạc từ một bài thơ hay nhất trong tập thơ củng tên . Bài thơ có nội dung ca ngợi vẻ đẹp của Trương Lệ Hoa - người được Trần Hậu Chủ đặc biệt sủng ái . Bài hát có những ca từ tình tứ , du dương nhất .Trong các cuộc dạ tiệc thâu đêm , các ca nương , đào hát rất thích hát bài nầy .
 Trần Hậu Chủ (583- 587 ) là một vị vua cuối cùng của họ Trần - là một ông vua nổi tiếng phong tình , ham mê thi ca , nhạc tửu , nhất là gái đẹp . Ông bị mất nước trong một cơn say khước : Say rượu , say thơ , say nhạc , say tình bên cạnh người đẹp Trương Lệ Hoa đang hát khúc Hậu đình hoa. Rồi từ đó cái tên Trần Hậu Chủ gắn liền với tên Hậu đình hoa - trở thành điển tích của vết nhơ vong quốc .
    Mãi đến 200 năm sau , những ca nhi vẫn còn mê hát khúc hát nầy trong các cuộc vui chơi trác táng , yến tiệc linh đình . Dù trong hoàn cảnh nước mất nhà tan , các thương nữ vẫn bình nhiên hát khúc nhục ca nầy . Thi hào Đỗ Mục ( 803 - 852 ) một đêm đổ bến Tấn Hoài gần kề quán rượu bỗng nghe vẳng lại từ bên sông tiếng hát của một thương nữ đang hát khúc ca Hậu đình . Đỗ Mục đọng mối cảm hoài sáng tác bài thơ BẠC TẦN HOÀI  ( Tần Hoài Dạ Bạc ) .
                             Yên lung hàn thủy nguyệt lung sa 
                              Dạ bạc Tần Hoài cận tửu gia 
                              Thương nữ bất tri vong quốc hận 
                              Cách giang do xướng Hậu đình hoa 

    Dịch xuôi :   Khói lan tỏa trên mặt nước lạnh , ánh trăng lan tỏa trên cát . Đêm đến đậu thuyền trên bến sông Tần Hoài gần quán rượu . Ca nhi không biết mối hận mất nước . Ở bên kia sông còn hát khúc Hậu đình hoa .
 
    Trong thể thơ thất ngôn tứ tuyệt , thường câu thơ cuối chứa đựng nội dung biểu đạt mà tác giả muốn gởi gắm tâm tình của minh vào bài thơ . Về sau bài thơ nầy được nhiều người dịch ra thơ , mỗi người dịch đều trung thành với nguyên tác song thái độ đối với nhân vật "thương nữ " thì mỗi người mỗi khác . Có người vừa trách móc vừa thương hại , có người vừa trách móc vừa khinh miệt .

                    Nhóm thứ nhất gồm có những dịch giả sau đây :

     - Lâm Trung Phú : Cô gái vô tình quên mất nước 
                                     Hậu đình hoa hát vọng sang sông 

   - Trần Trọng San : Cô gái không hay buồn mất nước 
                                  Bên sông còn hát Hậu đình hoa 


   - Nguyễn Hàm Ninh : Thương nữ biết chi sầu mất nước 
                                       Cách sông hát khúc Hậu Đình hoa 

   - Khương Hữu Dụng :Cô gái biết chi hờn mất nước 
                                       Cách sông còn hát Hậu đình hoa 


 Nhóm trên có người để nguyên từ " thương nữ " có người dịch là " cô gái " . Điều đó chứng tỏ có sự nhẹ tay , châm chước và cảm thông . Thật ra thương nữ có nghĩa là con hát , đào hát .
           
       Nhóm thứ hai gồm có những dịch giả sau đây :
       - Mộng Sơn :   Gái đêm quen sóng khuynh thành 
                                Bên sông hát khúc Hậu đình hoa chơi 
       - Hoàng Giáp Tôn  : Gái còn hát Hậu đình hoa 
                                        Hờn mất nước chẳng xót  xa trong lòng 
      - Phi Minh Tâm : Cô ả biết đâu hờn mất nước
                                   Bên sông còn hát khúc Đình hoa 

Nhóm dịch giả trên dịch Thương nữ ra Gái đêm , Gái , Cô ả , thể hiện thái độ coi khinh người ca nữ . Nhất là Mộng Sơn dùng từ Gái đêm hơi nặng tay .
  Dù dịch kiểu gì hay là diễn theo cách nào thì cô gái hát khúc nhục ca vong quốc giũa hoàn cảnh nước nhà nghiêng ngã vẫn bị chê trách . Do đâu và vì sao cô gái phải chịu nỗi hàm oan nầy ? Phải chăng đây là định nghiệp của kiếp cầm ca . Vì nghệ thuật và vì kế mưu sinh - phải làm đẹp lòng khách mua vui . Chẳng qua là vì khúc hát đã biến thành vết nhơ của Trần Hậu Chủ . Trần Hậu Chủ vì ham tửu sắc , thi ca để xảy ra mất nước , bị người đời sau nguyền rủa . Trách hôn quân sao không trách nịnh thần - đám học sĩ bao quanh ông ta . Giữa lúc đất nước ngã nghiêng , dân tình điêu đứng , đám học sĩ không dùng tài học của mình để can gián vua mà lại bẻ cong ngòi bút , làm thơ xướng họa , vịnh nguyệt thưởng hoa hầu hưởng chút hương thừa rượu cặn . Thời nào cũng vậy , ngụy trí thức tuy có học hàm học vị nhưng cam chịu kiếp sống vong thân , làm con rối cho quân quyền giựt dây .

   " Quốc gia hưng vong , thất phu hữu trách " câu nói của người xưa vẫn còn tươi nguyên giá trị . Sự hưng thịnh hay tiêu vong của nước nhà thì kẻ thất học cũng phải có trách nhiệm huống chi người có học . Yêu nước là trách nhiệm của mỗi công dân . Không ai được quyền thoái thác trách nhiệm nầy cho người khác và cũng không ai được độc quyền yêu nước . Yêu nước không nhất thiết là phải cầm súng . Mỗi người thể hiện quyền yêu nước theo cách của họ và tùy vào khả năng điều kiện có thể . Thái độ trút hết trách nhiệm cho cô thương nữ là không công bằng .
   Bài thơ Bạc Tần Hoài cách chúng ta hơn một ngàn năm mà chừng như cái sầu mất nước vẫn còn âm ỉ : Mất biển đảo , mất những vị trí chiến lược trên đất liền , mất nguồn nước sông Mê- Kông , mất ngư trường đánh cá , mất nguồn hải sản , mất an toàn thực phẩm chẳng ngang bằng mất nước ư ?

    Hai câu thơ cuối trong bài thơ của Đỗ Mục như một lời chê trách , lời cảnh báo những ai quay lưng lại với mệnh nước ; những ai bằng lòng với những lợi quyền nhỏ mhoi , bình an giả tạm để đắm mình trong những trò vui chơi giải trí . Bộ máy công quyền nắm vai trò định hướng thông tin đại chúng , bám sát các hoạt động giải trí tuyên truyền . Do vậy người dân chỉ có thể nói một chiều , nghĩ một hướng , làm một kiểu ,...Thậm chí một MC chỉ chia sẻ lại hình ảnh cá chết từ một kênh truyền hình cũng bị đem ra đấu tố , hạch hỏi ...


      Những ai còn có lương tri , lương thức , còn băn khoăn đến vận nước , đến dân tộc , tổ quốc đều bị nhóm lợi quyền quy kết là có ý đồ lật đổ chính quyền .Biết hận mất nước là một chuyện , nhưng làm thế nào để cứu nguy dân tộc lại là điều không dễ !

Thứ Sáu, ngày 20 tháng 5 năm 2016

TRIẾT LÝ NHÂN NGHĨA TRONG BÌNH NGÔ ĐẠI CÁO

         
 

           " Bình Ngô đại cáo "là bản hùng văn tuyên cáo cho toàn dân được biết cuộc kháng chiến 10 năm đánh đuổi quân Ngô ra khỏi nước hoàn toàn thắng lợi . Nguyễn Trãi chấp bút viết thay Bình Định Vương Lê Lợi nên có câu mở đầu : " Thay trời hành hóa Hoàng thượng tuyên rằng : .." Bài cáo ra đời cách chúng ta hơn 600 năm mà tính thời sự của nó như vẫn còn nóng hổi  , sống động . Đó là nhờ cách lập luận của tác giả dựa vào CHÂN LÝ XÁC TÍN của lịch sử .Ở đây là Việt sử - mà sử Việt là đấu tranh sử . Qua khảo sát lịch sử , ôn cố tri tân , tức cổ nghiệm kim ( xét xưa nghiệm nay )  tác giả đã đưa ra những luận điểm , luận cứ , luận chứng hùng hồn , xác thực và giàu sức thuyết phục . Triết lý nhân nghĩa vừa là tư tưởng xuyên suốt , vừa là phương châm hành động của nghĩa quân Lam Sơn .

     Mở đấu bài cáo , tác giả nêu cao ngọn cờ chính nghĩa :
  "  Việc nhân nghĩa cốt ở an dân 
      Quân điếu phạt trước lo trừ bạo "

Hai chữ nhân và nghĩa trong hệ tư tưởng Khổng Mạnh có ý nghĩa chung chung :  Nhân là mối quan hệ giữa con người với con người ; Nghĩa là mối quan hệ giữa cá nhân và cộng đồng .  Trong cấu tự chữ Hán , chữ Nhân  ( )   gồm có bộ Nhân đứng và chữ Nhị . Còn chữ Nghĩa (  ) được cấu tạo từ chữ Dương với chữ Ngã  . Do ý nghĩa chung chung ấy mà nhiều triều đại phong kiến phương Bắc lợi dụng chiêu bài  nhân nghĩa để thôn tính nước ta . Chẳng hạn như chuyện Tôn Sĩ Nghị sang nước ta với chiêu bài nhân nghĩa là phù Lê diệt Trịnh  . Nếu Lê Lợi có công giành lại độc lập tự chủ cho nước nhà thì Lê chiêu Thống là tội đồ rước voi dày mã tổ , cõng rắn cắn gà nhà . Mỗi khi triều đại An Nam bị suy thoái là lúc giặc phương Bắc lợi dụng thời cơ để tiến hành chiến tranh xâm lược . Lần nầy , nhà Trần suy thoái , Hồ Quý Ly khuynh loát triều đình , giết gần bốn trăm người họ Trần để tiếm ngôi . Đây là một cái cớ để nhà Minh mượn tiếng là điếu phạt ( điếu dân , phạt tội ) hầu cướp nước ta một lần nữa .

    Nhân họ Hồ chính sự phiền hà 
  Để trong nước lòng dân oán hận 
Quân Cuồng Minh thừa cơ gây họa 
Bọn gian tà bán nước cầu vinh 

  Trong thư trả lời Phương Chính  - tướng của giặc Minh - Nguyễn Trãi lật mặt dã tâm của nhà Minh : " Nước mày nhân dịp họ Hồ lỗi đạo . mượn tiếng là " điếu dân phạt tội " kỳ thực làm việc bạo tàn , lén cướp đất nước ta , bóc lột nhân dân ta , thuế nặng , hình nhiều , vơ vét của quý , dân mọn các làng không được sống yên . Nhân nghĩa mà lại thế ư ? " . Nguyễn Trãi đã xé toang bức màn dối trá ; đâm thủng bức màn khói hư ảo lập lòe đánh lận con đen - kiểu quan hệ hữu hão giả tạo như ngày nay .

     Nguyễn Trãi đã bạch hóa vấn đề nhân nghĩa đầu môi bằng một câu khẳng định đầy quyết đoán   "Việc nhân nghĩa cốt ở an dân " . Muốn an dân phải lo trừ bạo . Không yêu dân , không lo cho sự an nguy của dân thì sao gọi là nhân nghĩa ? !
 
      Nhà Minh đem quân điếu phạt như một chiêu bài nhân nghĩa để lừa mị dân ta :
  " Dối trời lừa dân đủ muôn nghìn kế 
  Gây binh kết oán trải hai mươi năm 
 Bạt nhân nghĩa nát cả đất trời 
Nặng thuế khóa sạch không đầm núi !

  Chúng không những bắt nhân dân ta xuống biển " còng lưng mò ngọc ", lên núi " đãi cát tìm vàng " mà còn tàn hại môi sinh , tuyệt kế sinh nhai: " bẩy hưu đen ", "bắt chim trả " ," tàn hại cả giống côn trùng cây cỏ "., phá nát cân bằng sinh thái , tuyệt đường sống của dân ta .
   Còn bọn bán nước và bè lũ cướp nước thì :
   Thằng há miệng , đứa nhe răng , máu mỡ bấy no nê chưa chán 
   Nay xây nhà , mai đắp đất , chân tay nào phục vụ cho vừa 

    Sự tham lam độc ác của chúng " trúc Nam Sơn không ghi hết tội , nước Đông Hải không rửa sạch mùi " 
   Não trạng bá quyền của các vua phong kiến phương Bắc cho đến tận bây giờ vẫn thế , nghĩa là luôn luôn cho rằng nước Nam là của Tàu - cũng như Hoàng Sa , Trường Sa là của tổ tiên chúng để lại . Nguyễn Trãi bác bỏ luận điệu đó bằng lịch sử đấu tranh của người Việt . Không có chân lý nào xác tín hơn chân lý lịch sử . Tác giả bài cáo đã khẳng định một cách đanh thép rằng chủ quyền của dân tộc Việt đã từng tồn tại qua chiều dài lịch sử . Nam triều không những tồn tại mà  còn vững vàng - ngang ngữa với Bắc triều .
   Như nước Việt ta từ trước 
Vốn xưng nền văn hiến đã lâu
Núi sông bờ cõi đã chia 
Phong tục Bắc , Nam cũng khác 
Từ Triệu , Đinh , Lý , Trần xây nền độc lập 
Cùng Hán, Đường , Tống , Nguyên hùng cứ một phương 
Tuy mạnh yếu có lúc khác nhau 
Song hào kiệt thời nào cũng có 

   Nếu Lý Thường Kiệt tuyên bố chủ quyền dựa vào sách trời phân định rõ ràng giữa Bắc Quốc và Nam Quốc , giữa Bắc Đế và Nam Đế thì Nguyễn Trãi dựa vào văn hiến là cốt lõi của vấn đề . Nếu kể cả thời tiền sử thì dân Việt ta có đến năm nghìn năm văn hiến . Văn là vẻ đẹp của văn chương học thuật ...nói chung là văn hóa . Còn Hiến là chủ thể của văn hóa vừa tạo ra vừa bảo tồn văn hóa . Đó là nguồn nguyên khí hiền tài bất tận . Chính vì hào kiệt thời nào cũng có nên nền văn hiến trường tồn bất diệt . Phong tục tập quán cũng góp phần làm nên bản sắc của dân tộc Việt . Chính cái nền văn hiến lâu đời đó mà bao nhiêu lần bị Bắc thuộc dân ta cũng không bị Hán tộc đồng hóa . Trái lại , có khi người Hán còn bị Việt hóa : Hoa kiều ở Việt Nam đã nhập quốc tịch Việt , lấy vợ Việt , theo phong tục Việt , góp phần phát triển đất nước . Điển hình như Mạc Cửu ở Hà Tiên , người Minh Hương ở Hội An , Chợ Lớn ,..Sự tồn tại chủ quyền của dân tộc Việt sóng đôi với sự tồn tại của phương Bắc : Phương Bắc có Hán , Đường , Tống , Nguyên thì phương Nam ta có Triệu , Đinh , Lý , Trần . Đó là sự tồn tại ngang hàng bình đẳng giữa các quốc gia dù lớn dù nhỏ . Não trạng bá quyền nước lớn đã ăn sâu vào tâm não của các nhà cầm quyền Trung quốc , xem các nước lân bang là chư hầu ; xem vua của chư hầu là cống thần có nhiệm vụ triều cống cho thiên tử .

      Quốc hiệu Đại Việt có từ thời vua Lý Thánh Tông . Theo nhận định của nhà bác học Hoàng Xuân Hãn : " Lý Thánh Tông là vua ta đầu tiên có óc lập ra một đế quốc có danh hiệu ngang với một nước thiên tử , đặt quốc hiệu là Đại Việt ..." . Từ đó mở ra một kỷ nguyên mới với tinh thần dân chủ rộng mở , dung nạp được cả Nho , Phật , Lão . Chất Đại Việt được nhà Trần bảo lưu , kế thừa . Nguyễn Trãi là cháu ngoại của nhà Trần .Ngay từ nhỏ , Nguyễn Trãi đã được hấp thụ , di dưỡng chất Đại Việt . Chất Đại Việt ấy được đâm hoa kết trái vào đầu nhà Lê .
   Thắng lợi của cuộc kháng chiến mười năm đuổi giặc Minh là nhờ vào tinh thần đoàn kết nội tại trong dân chúng .Truyền thống đấu tranh chống ngoại xâm từ xưa tới nay nhờ vào lòng dân , ý dân ,rồi tạo ra  sức dân . Một khi sức dân đủ mạnh nó " kết thành một làn sóng vô cùng to lớn có thể nhấn chìm cả bè lũ bán nước và cướp nước "  ( Hồ Chí Minh ) 

        Nguyễn Trãi viết cáo bình Ngô theo tinh thần túc cổ nghiệm kim . Vì vậy ngày nay con dân Việt nên đọc bài cáo cũng trên tinh thần ấy . Bởi không có chân lý nào xác tín hơn chân lý lịch sử . Lịch sử chứng minh chủ quyền của nước ta đã phải trả giá bằng xương máu của bao cuộc chiến tranh vệ quốc chống ngoại xâm phương Bắc . Quan hệ Việt Trung muôn đời chỉ là hữu hảo giả tạo . Bài cáo mở đầu bằng cách đề cao nhân nghĩa , mà nhân nghĩa là làm cho dân được an cư lạc nghiệp , bảo đảm an sinh xã hội , Muốn được như vậy trước hết phải trừ gian diệt bạo , phải "làm sao trong thôn cùng xóm vắng không một tiếng oán sầu " .
   Mở đầu bài cáo là   " việc nhân nghĩa cốt ở an dân " và kết thúc bài cáo là "nền thái bình muôn thuở " !