Thứ Hai, 21 tháng 7, 2014

Một cách nhìn khác về quan niệm : " Hiền tài là nguyên khí của quốc gia "



Trong bài ký đề danh tiến sĩ khoa Nhâm Tuất niên hiệu Đại Bảo thứ ba do tiến sĩ Thân Nhân Trung ( TNT) soạn có câu mở đầu : Hiền tài là nguyên khí của quốc gia . Nguyên khí thịnh thì thế nước mạnh rồi lên cao ; nguyên khí suy thì thế nước yếu rồi xuống thấp ...Quan niệm trên cách chúng ta hơn một nửa thiên niên kỷ mà mỗi khi bàn đến vẫn thấy tươi nguyên giá trị .Từ kinh nghiệm cũ ta thử bàn lại để có được ý mới nào chăng ?

   Mở đầu bài ký tác giả viết : Hiền tài là nguyên khí của quốc gia . Nguyên khí thịnh thì thế nước  mạnh rồi lên cao ; nguyên khí suy thì thế nước yếu rồi xuống thấp .
  Trước hết cần hiểu thế nào là hiền tài? thế nào là nguyên khí ?. Hiền tài là những người tài cao học rộng có tâm có đức ; còn nguyên khí theo nghĩa từ nguyên là  tính khí của người ta do sự hấp thụ khí thiêng của thiên nhiên , của đất trời . Theo quan niệm âm dương ngũ hành , con người có mối quan hệ tứ trụ : Thần - Nhân - Thiên - Địa . Việc mạnh yếu thăng trầm của đất nước tùy thuộc vào sự thịnh suy và nguyên khí của quốc gia ấy .  Nguyên khí là vô hạn , vô cùng ; không bao giờ thiếu hoặc mất đi
 " Dẫu cường nhược có lúc khác nhau 
  Mà hào kiệt không bao giờ thiếu  
                                      ( Nguyễn Trãi - Bình Ngô đại cáo )

Nguyên khí khác với tài nguyên . Tài nguyên quốc gia là cái nguồn sinh ra của cải , sự giàu có ( source de chisses). Cái nguồn ấy có lúc vơi dần và có lúc cạn kiệt nhưng trí thức ,  sức sáng tạo , nhân tài , hiền triết ...thì thời nào và ở đâu cũng có .Vấn đề là không được phát hiện,không được đề bạt tiến cử đó thôi . Ngay đến người phát ngôn ra câu : " Hiền tài là nguyên khí của quốc gia " cũng là một bậc hiền tài , từng là rường cột của triều đình : Tiến sĩ Thân Nhân Trung .TNT tuy đỗ đạt muộn màng ( 1) nhưng đã lập nhiều công tích , được vua Lê Thánh Tông trọng dụng - TNH giữ chức Phó Tao Đàn nguyên súy . TNT còn có công khai khoa cho 10 vị tiến sĩ ở quê cha đất tổ làm rạng danh cho quê hương , tổ tiên , dòng tộc .Xem ra , người hiền tài không chỉ có tài mà còn biết đem cái tài của mình ra để an bang tế thế .
  Sau khi đặt xong vấn đề , tác giả đưa ra những luận điểm , luận cứ và luận chứng để làm sáng tỏ vấn đề "Bởi thế các các đức Thánh Đế ,Minh Vương chẳng ai không lấy việc bồi dưỡng nhân tài , kén chọn kẻ sĩ , vun trồng nguyên khí làm việc đầu tiên ".Đấy là luận điểm giàu sức thuyết phục . Lịch sử nhân loại đã chứng minh - bất kỳ chế độ nào , mô thức chính trị nào có minh chủ , có nhà lãnh đạo hiền triết đều quy tụ được nhiều hiền tài , làm cho nguyên khí quốc gia triển nở,sung mãn . Ngay thời cổ đại , đức Khổng Tử đã đề cao chính sách cử hiền tài thay cho thế tập . Và ngài đã quy tụ  đươc đệ tử xuất chúng . Theo chính sách cử hiền tài thì bất cứ ai , bất kể xuất thân từ giai cấp nào cũng có thể tham chính nếu đỗ đạt ở các khoa thi . Bước cử hiền tài là bước tiếp theo của bước sát hạch , tuyển trạch. Thi để chọn và chọn để cử . Sự tuyển chọn qua thi cử có mối liên quan mật thiết đến việc đề bạt , tiến cử và việc đề bạt tiến cử có liên quan đến việc thịnh suy của đất nước . Chọn lầm người dẫn đến việc đặt ngồi nhầm ghế . Chính vì vậy mà đông , tây , kim cổ đều xem học hành thi cử là quốc sách . Một nhà chính trị sáng suốt không bao giờ xao lãng hoặc tách rời việc tuyển chọn nhân tài  và việc đề bạt nhân tài . Một quốc gia hùng mạnh không thể không cần đến những bậc hiền tài làm rường cột . Nguyễn công Trứ đã nói rõ trách vụ của kẻ sĩ đối với Hoàng triều cương thổ :
Trong lăng miếu ra tài lương đống 
 Ngoài biên thùy rạch mũi can tương .

 Chính vì kẻ sĩ ,  hiền tài là nguyên khí của quốc gia nên người ta có thể bỏ ra ngàn vàng để đánh đổi được  kẻ sĩ hoặc như Lưu Bị ba lần đến nhà cỏ của Khổng Minh để cầu hiền . Vào thời Xuân Thu chiến quốc nước Tần còn nghèo nàn lạc hậu bị các nước lớn xem thường , kịp đến khi Tần mục Công lên ngôi biến Tần quốc thành một nước hùng mạnh ; đó là nhờ thực thi nghiêm túc việc tuyển chọn và đề bạt nhân tài vào các chức quan . Về sau Tần quốc sản sinh ra những nhân vật kiệt xuất như Bá Lý Hề , Thương Ưởng , Trương Nghi , Hàn Phi Tử , Lý Tư , ... Đến thời Tần Thỉ hoàng , nhờ biết sử dụng lại những hiền tài nói trên nên nước  Tần vẫn giữ vững là một đế chế hùng mạnh thôn tính 6 nước thống nhất Trung Hoa .  Sau khi Tần Thỉ Hoàng chết , Lưu Bang cùng với Hạng Võ tiêu diệt nhà  Tần rồi sau đó trừ Hạng Võ để lên ngôi hoàng đế , hiệu là Hán Võ Đế . Trái với Tần Thỉ Hoàng đốt sách chôn Nho ,  Hán Võ Đế  đích thân tuyển chọn và đề bạt nhân tài . Về phương diện dùng người Hán Võ Đế tỏ ra thông thoáng , rộng mở hơn nhiều so với các vua trước . Nhà vua không ngại dùng những người tài xuất thân từ giai cấp thấp kém hoặc có khuyết tật - hiểu theo nghĩa bóng : có tài có tật - . Hán võ Đế quy tụ những chuyên gia học giả -như  kinh học có Đổng Trọng Thư ,sử học có Tư Mã Thiên , văn học có Tư Mã Tương Như , quân sự có Lý Quảng , Thiết Thanh .. Đặc điểm trong cách dùng người của Hán Võ Đế là chỉ quan tâm đến sở trường chuyên môn của các hiền tài còn về sở đoản thì không thành vấn đề .Điều nầy thiết nghĩ thật là chí lý .Ai  có sở trường nấy . Con vịt bơi dưới nước đâu có cần đôi chân dài như con đà điểu chạy trên cạn  .Hà cớ gì phải kéo dài chân vịt hoặc thu ngắn chân của đà điểu .
   Trở về việc tuyển chọn và đề bạt  và sử dụng hiền tài ở xứ ta không phải bắt đầu từ thời Trần mà thời Lý Nhân Tông đã có rồi : Năm Ất Mão ( 1075 ) mở khoa thi tam trường để lấy người có văn học làm quan ; năm Bính Thìn ( 1076 ) lập Quốc Tử Giám để tuyển chọn giáo thọ ; năm Bính Dần ( 1086 ) mở khoa thi chọn Viện sĩ Hàn lâm viện . Bấy giờ đã có chức Hàn Lâm học sĩ . Đến đời nhà Trần tinh thần tam giáo đồng nguyên vẫn còn bảo lưu trong dòng chảy văn hóa dân tộc  .Sau khi nhà Trần mất về tay Hồ Quý Ly rồi cha con Hồ Quý Ly bị bỏ củi áp giải sang Tàu , Lê Lợi dựng cờ khởi nghĩa ở Lam Sơn ..Trong thời kỳ khó khăn , Lê Lợi ra sức cầu hiền , mong được người tài giúp sức . Nguyễn Trãi là cánh tay mặt của Lê Lợi .đã giúp Lê Lợi khởi nghĩa thành công . Các vua kế nghiệp nhà Lê độc tôn Nho giáo nên dẫn đến tinh thần nhân đạo , dân chủ rộng mở của thơ Lý ,Trần  bị suy vi mai một . Tư tưởng tam giáo đồng nguyên là nhân tố tích cực làm cho nước Đại Việt trở nên hùng cường . Những kẻ sĩ của nước Đại Việt có đầy đủ ba tác dụng : Lý trí , tình cảm và ý chí ( hành động ). Nói theo ngôn ngữ hiện đại thì chỉ số IQ và chỉ số EQ cân bằng ; riêng đối với hiền tài thì chỉ số EQ có  phần trội hơn . Bởi " chữ tâm kia mới bằng ba chữ tài " ( Nguyễn Du ). Nếu chỉ  có tài thôi mới chỉ là người thông thái , uyên bác , duy lý trí - xa rời cộng đồng .Điều kiện ắt có và đủ cho một người hiền là  lòng yêu thương đồng bào đồng loại và khát vọng được cống hiến phục vụ dân tộc   Khát vọng đó phải được thực hiện bằng hành động ( ý chí ).Đạo Nho là một học thuyết chính trị và đạo đức . Học Nho đễ đỗ đạt làm quan thì hãy còn phiến diện . Muốn học để làm người toàn diện cần phải có cả Nho - Phật - Lão . Vị vua đầu nhà Lý ( Lý Công Uẩn )là một người được các cao tăng truyền thụ cho cái học tam giáo từ khi còn là chú tiểu . Lịch sử đã chọn Lý công Uẩn mà không chọn Lê Long Đỉnh là điều tất yếu .. Trong các triều đại nhà Lý , đời nào cũng có hiền tài giúp sức : đời Lý Thái Tổ có quốc sư Vạn Hạnh , đời Lý Thánh Tông có nguyên phi Ỷ Lan ; đời Lý Nhân Tông có thái sư Lý Đạo Thành . Nhân Tông lên ngôi mới có 7 tuổi , mọi việc triều chính đều do tay Lý Đạo Thành đảm đang . Lý Đạo Thành thương dân và tận tụy với nước ; tất cả quan chức triều đình đều do Lý Đạo Thành kén chọn người tài và cất nhắc  . Dưới đời Nhân Tông , Thánh Tông nhờ có hiền tài giúp sức nên Bắc đánh Tống , Nam bình Chiêm giữ vững phên giậu ở phía Bắc , mở rộng bờ cõi về phía nam . Tinh thần tôn giáo còn được tôn sùng dưới thời nhà Trần . Nhà Trần ba lần đánh đuổi quân Nguyên Mông ra khỏi bờ cõi là nhờ có nhiều bậc hiền tài làm rường cột : Trần Thủ Độ , Trần Quốc Tuấn , Trần Quang Khải , Yết Kiêu , Dã Tượng , ...Nhờ tinh thần tam giáo đồng nguyên mà toàn xã hội có sự đoàn kết nội tại , dân chủ và rộng mở ... "Con người trong xã hội ấy được phản ảnh là có nhân cách đặc xuất , không những cao về tài năng đạo đức mà còn rộng về trí tuệ và tâm hồn .Nô tỳ , thiếu niên ,thiếu nữ ,lão bà , nông dân , tăng ni , đạo sĩ , nho sĩ , quý tộc , hoàng hậu ...nhà vua ...không tầng lớp nào , không tuổi nào , không giới nào mà không có những tính cách vượt xa trên mức bình thường "(Lê Trí Viễn ) .Trong thời nhà Trần , Vua dám bỏ ngôi , quan không thiết chức , kẻ sĩ không nhận chức tước bỗng lộc nếu thấy mình chưa xứng đáng . Nói chung  Lý ,Trần là hai thời đại hoàng kim trong lịch sử . Người phát hiện ra và biết sử dụng hiền tài cũng là bậc hiền tài . Đó là những minh chủ , minh vương , thánh đế , những nhà lãnh đạo sáng suốt . Một vị thủ tướng trở nên hiền tài nếu thành lập nội các gồm những bộ trưởng có  chuyên môn , sở trường về ngành nghề , tận tụy với công việc , khiêm hạ , thanh liêm trong quan hệ với cấp dưới .. Tiêu biểu cho bậc hiền tài biết dùng người phải kể đến Thomas Jefferson(2) Tổng thống Hoa Kỳ , một trong các tác giả của bản tuyên ngôn độc lập của Hoa kỳ . Ở Trung Hoa vào đời Tống có tể tướng Vương An Thạch  cũng là một người biết dùng người tài .
     Người hiền tài tất nhiên phải được nể trọng , vinh danh . Tuy nhiên trong số họ vẫn có những người mất chất . Thân Nhân Trung viết : "Vì hối lộ mà hư hỏng hoặc sa ngã vào cùng loại với bọn gian ác là vì lúc sống chưa được nhìn tấm bia trinh bạch nầy thôi , giả sử hồi đó họ kịp nhìn thấy thì ắt hẳn lòng thiện sẽ tràn đầy , ý ác được ngăn chặn , đâu dám làm chuyện càn bậy " 
  Trên một tấm bia đề tên tiến sĩ khoa Đinh Mùi ( 1487 ) TNT nhấn mạnh sự dối trá biến chất của kẻ tội đồ : " ..tu sửa văn vẻ bên ngoài , đức hạnh thiếu thốn bên trong , điều thấy không bằng điều nghe , việc làm trái với điều học , hạnh kiểm sa sút , danh giá nhuốc nhơ , chỉ tổ bôi nhọ tấm bia nầy mà thôi ..."Nói theo cách nói bây giờ thì đó là loại ác trí thức , ngụy trí thức . Khoa danh của họ có thể là học giả bằng thật hoặc học thật mà tri hành bất nhất hoặc không thật sống theo những gì mình thật biết vv...Loại nầy sẽ nguy hiểm cho xã hội khi biến mình thành học phiệt ; dùng học vị , học hàm của mình để bóp méo sự thật , làm ô nhiểm môi trường văn hóa .

   Suy cho cùng thì những bậc hiền tài , kẻ sĩ ...rồi ra cũng khuất bóng và đi vào cổ triết , cổ sử . Nhưng thời nào , ở đâu họ vẫn là nguyên khí của quốc gia .Quan niệm của TNT cách chúng ta hơn nửa thiên niên kỷ mà vẫn còn tươi nguyên giá trị . Nhiệm vụ của đời sau là dẫn dắt quá khứ , định hướng tương lai . Ôn cố tri tân không có nghĩa là bê nguyên ý của đời xưa để áp dụng vào đời nay ; mà dựng lại quá khứ trong kinh nghiệm mới mẻ của hiện tại . Nói như Trúc Lâm đạo sĩ : " Nhất hồi niêm xuất nhất hồi tân ( mỗi lần bàn đến lại thành mới tinh ) . Hoặc như lời cổ thi :
 "Nhậm vận tự sinh kim nhật ý.
Hàn hoa chi tát khí mai hương "

Chú thích :
 (1):Thân Nhân Trung sinh năm 1418 mãi đến năm 1469 mới đỗ tiến sĩ 
(2):Trên mộ của Jefferson có ghi dòng chữ : " Đây là mộ của người biết dùng người tài "

Thứ Hai, 14 tháng 7, 2014

Nhiệm vụ của giáo dục đối với văn hóa


         Hai chữ văn hóa có nội hàm bao gồm :giáo dục, chính trị ,triết học ,tôn giáo ,tín ngưỡng ,ngôn ngữ ,văn nghệ ,thuần phong mỹ tục vv...Đặc biệt giáo dục đối với văn hóa có nhiệm vụ kép : Vừa xây dựng cơ sở văn hóa cho ngày mai thụ hưởng vừa vun bồi tưới tẩm tinh hoa văn hóa của ngày hôm qua . Cái làm nên giá trị của một quốc gia chính là bản sắc dân tộc của quốc gia đó .Ví dụ giá trị Nhật là trung thực , can trường ; giá trị Mỹ là thực dụng , nhân bản . ..Đã là bản sắc thì không giá trị nào giống giá trị nào , cũng không có chuyện hơn kém giữa các giá trị. Trong các nội hàm của văn hóa có thuần phong mỹ tục . Thuần phong mỹ tục là luân lý , và có thể coi như đạo đức thực hành .Nền giáo dục của ta hiện nay nặng thuyết lý đạo đức , nhẹ về giáo dục luân lý qua giao tiếp , ứng xử , tập quán , lối sống  mà xưa gọi là gia phong lễ giáo .
    Nói đến giáo dục là phải nói đến đường hướng , mục tiêu đào tạo . Đào tạo một công dân tương lai có tình yêu thương gia đình , dòng họ ; có tinh thần dân tộc đồng thời có mẫu số chung của một  con người nhân loại .   Đó là lý tưởng của giáo dục . Mỗi quốc gia tự chọn cho mình một triết lý giáo dục làm kim chỉ nam cho đường hướng giáo dục . Nội dung chương trình sách giáo khoa , phương pháp dạy học đều phải phản ảnh cho được triết lý đã chọn . Miền nam trước 75 đã chọn triết lý giáo dục là Dân tộc - Nhân bản - Khai phóng . Vì đề cao tinh thần dân tộc mà trong giờ địa lý , học sinh nào vẽ bản đồ Việt Nam mà thiếu hai quần đảo Trường Sa và Hoàng sa sẽ bị phạt nặng ; ở phòng học nào cũng có treo câu khẩu hiệu : " Tổ quốc trên hết ". Sách giáo khoa và kinh điển nói chung là cái hồn cái hạnh của giáo dục .Một công dân đã từng cắp sách đến trường đều có mang trong huyết quản cái hồn cái hạnh từ những trang sách giáo khoa  - nghĩa là đã hấp thu trong tâm hồn một nền giáo dục chân chính . Tình yêu gia đình , nghĩa gia tộc , tình yêu quê hương đất nước đã từng được di dưỡng tưới tẩm từ thuở học trò .  Nhà thơ Giang Nam có mấy câu thơ nói lên tầm ảnh hưởng của sách giáo khoa đối với tình yêu quê hương : 

Thuở còn thơ ngày hai buổi đến trường 
Yêu quê hương qua từng trang sách nhỏ 
 Ai bảo chăn trâu là khổ 
Tôi mơ màng nghe chim hót trên cao 
 
       Những " trang sách nhỏ" đã hun đúc tình yêu quê hương của nhà thơ chính là bộ " Quốc văn giáo khoa thư "do học giả Trần Trọng Kim , Nguyễn văn Ngọc , Đặng Đình Phúc và Đỗ Thận biên soạn . Bộ sách nầy được chính thức giảng dạy ở các trường Tiểu học vào những thập niên tiền bán  thế kỷ XX. Nhà văn Sơn Nam trong cuốn Hương rừng Cà Mau có kể câu chuyện " tình nghĩa giáo khoa thư "thật cảm động . Chuyện kể một ông phái viên nhà báo được tòa soạn cử đi đòi nợ một độc giả mua báo dài hạn ở tận vùng xa xôi hẻo lánh . Nhà báo và độc giả qua một đêm tâm tình tương đắc và đồng cảm những bài học trong sách" Quốc văn giáo khoa thư "mà cả hai đã thuộc nằm lòng từ thuở nhỏ đã khiến sáng hôm sau nhà báo lên đường trở về tỉnh thành mà không hề đề cập  đến chuyện tiền nong với anh độc giả nghèo yêu sách báo .. Nhưng anh độc giả nọ đã chủ động nhắc món tiền nợ báo và xin được trả nợ bằng những sản vật hiện có trong nhà .Đọc " Tình nghĩa giáo khoa thư "người đọc cảm thấy hạnh phúc khi tìm lại chính mình " qua từng "trang sách nhỏ " . Bộ " Quốc văn giáo khoa thư "gồm có ba quyển :
  * Quốc văn giáo khoa thư lớp sơ đẳng 
*Quốc văn giáo khoa thư lớp dự bị 
* Luân lý giáo khoa thư lớp đồng ấu 

       Riêng luân lý giáo khoa thư chuyên đề dạy về phong hóa , lễ giáo cho học sinh từ thuở còn thơ  . Đây là quyển sách giáo khoa lớp khai tâm dạy làm người .Đây cũng là nền tảng văn hóa Việt . Đây cũng là trường hợp giáo dục đã làm tốt nhiệm vụ kép  : vừa xây dựng cơ sở văn hóa cho ngày mai thụ hưởng ; vừa vun bồi tưới tẩm truyền thống tốt đẹp của ngày hôm qua . Tôi xin được dẫn ra đây một số bài học  luân lý trong quyển giáo khoa nầy :  Thương yêu kính trọng ông bà cha mẹ , thương yêu nhường nhịn anh chị em ; thờ cúng tổ tiên ; giúp đỡ người trong họ , thương yêu tôi tớ trong nhà ; yêu thương thầy dạy , tôn kính thầy dạy , ...
 Những bài học trên đây trong " luân lý giáo khoa thư "có thể ngày nay nhiều người cho rằng không còn hợp thời nữa . Nhưng có những việc " biết rồi khổ lắm nói mãi ".. Nói mãi hóa nhàm mà làm mãi vẫn chưa xong . Ngay đến những người lớn tuổi cả những kẻ thành đạt trong cuộc sống , nếu một ngày tự soi sẽ thấy mình còn vô vàn thiếu sót . Một trong tám chữ học làm người ( hiếu , để , trung , tín , lễ , nghĩa , liêm ,sĩ ) chữ hiếu đứng hàng đầu , chữ để đứng hàng thứ hai . Hiếu là bổn phận đối với ông bà cha mẹ . Để là trên kính dưới nhường - anh chị em trong nhà phải hòa hợp , nhường nhịn , thuận thảo cùng nhau .Quan điểm của các soạn giả "Quốc văn giáo khoa thư "là làm sao thể hiện được nét văn hóa đặc thù của NgườiViệt : lấy gia đình làm nền tảng cho xã hội , quốc gia  , dân tộc .Một đứa trẻ không biết yêu thương ông bà cha mẹ , anh chị em trong nhà thì lấy gì bảo đảm rằng khi lớn lên nó biết yêu quê hương, đất nước , đồng bào , đồng loại . Gia đình , gia tộc là cái nôi của tình yêu thương và cũng là nơi trú ẩn an toàn nhất khi gặp phong ba bão tố trong cuộc đời .. Xưa , có một bức tranh vẽ cảnh gia đình một nhà sum họp có tựa đề "Buổi tối trong gia đình ": cha ngồi đọc báo , mẹ ngồi khâu vá , con học bài , bà kể chuyện cổ tích cho cháu . Trong bài thơ " Lượm " có câu thơ " Ở đồn Mang Cá thích hơn ở nhà " của Tố Hữu ca ngợi những đứa trẻ thoát ly gia đình ... chỉ thích hợp với giai đoạn lịch sử lúc bấy giờ !
   Thời bây giờ tuổi trẻ ít gần gủi gắn bó với gia đình, không coi trọng các mối quan hệ trong thân tộc là do sách giáo khoa khai tâm thiếu những bài học đề cao tinh thần gia đình ..!. Thậm chì đêm giao thừa là thời điểm thiêng liêng nhất để gia đình sum họp tiển năm cũ , đón năm mới mà cũng không còn giữ được nếp xưa . Ngày nay , đêm giao thừa ta thấy thanh niên thiếu nữ tập trung ở các lễ hội (hội nhiều hơn lễ ). Lễ lại chỉ là cái cớ để tụ họp vui chơi múa hát ...Nếu giao thừa mà cả nhà ăn mặc tươm tất , sửa soạn bàn thờ ông bà , chuẫn bị cúng tổ tiên rồi sau đó là mừng tuổi chúc tết lẫn nhau ...thì thế mới gọi là đậm đà bản sắc dân tộc .
 
       Vậy phải chăng nói đến văn hóa là phải đề cập đến nhiệm vụ kép của giáo dục : nhiệm vụ xây dựng cơ sở văn hóa cho thế hệ mai hậu thụ hưởng , đồng thời bảo tồn di sản văn hóa của tiền nhân để lại .


Thứ Năm, 3 tháng 7, 2014

Tính " hay cãi " của người Quảng Nam

Đã có nhiều giả định về nguyên nhân nguồn gốc của tập quán nầy. Phần lớn các giả định tỏ ra không mấy thiện cảm, có thiên hướng tiêu cực về tính hay cãi nầy. Thậm chí có người cho rằng dân vùng Quảng Nam tính tình hung hãn hung hăng, nóng nảy nên hay cự cãi.
Người viết bài nầy mạo muội đưa ra giả định cho rằng tính hay cãi của người Quảng Nam có liên quan đến hoàn cảnh, vị trí địa lý của đất Quảng Nam. Đó là mối liên quan giữa đất và người. Điều nầy dễ nhận ra ở đất và cây. Tùy theo thổ nhưỡng thổ ngơi mà cây ra trái lại có vị khác nhau. Quýt ở Giang Nam vốn ngọt nhưng nếu bứng đem trồng ở Giang Bắc thì "giỏi bấy tay trồng cũng hóa chua " (thơ Hoàng Lộc).

Phong tục, tập quán của người dân Quảng Nam gắn liền với phong cảnh, phong thổ, thổ nhưỡng, thổ ngơi của đất Quảng Nam. Quảng Nam có những con sông lớn như Cẩm Lệ, Thu Bồn... bồi đắp phù sa màu mỡ cho những nương dâu, ruộng lúa phì nhiêu tươi tốt. Sông sâu, nước trong, núi non hùng vĩ đã hun đúc nên con người Quảng Nam có tư chất thâm trầm, nói năng bộc trực, tính tình thẳng thắn, thật thà chất phác.
Tâm thế  tranh cãi để sinh tồn

Điều kiện thiên nhiên quá ư nghiệt ngã, đầy bất trắc đã tạo nên người Quảng Nam có thói quen chịu đựng, nhẫn nại, chuyên cần, chăm chỉ và luôn có tâm thế đấu tranh để sinh tồn. Người Quảng Nam không dễ dàng tiếp thu ý kiến của người khác là vì sống trong bất trắc, quen hoài nghi cảnh giác nên phải tranh luận cho ra lẽ rồi mới đồng thuận.
 
Vì rẻo đất chiến lược, với đèo Hải Vân là tuyến phòng ngự rất khó vượt qua, hai bên Việt – Chiêm cãi qua, cãi lại, giằng co nhau quyết liệt nhiều năm trời. Ảnh: Vũ Công Điền

Phải chăng có tranh cãi mới sáng tỏ vấn đề. Có lật ngược vấn đề để tranh luận thì mới có cái nhìn toàn diện, khách quan. Nếu tranh luận không cần thiết thì sẽ không có phản biện và ngày nay người ta không cần đến luật sư. Nhiều người nghĩ rằng tính hay cãi là do tính bướng bỉnh, sân si, nóng nảy. Nhưng thiết nghĩ tranh cãi khác với cự cãi, cãi bướng cãi bừa... Chính nhờ không dễ dàng chấp nhận những lề thói cổ hủ, những luật lệ bất công trói buộc nên người Quảng Nam thường tiên phong trong các phong trào như phong trào Duy Tân, phong trào chống thuế ở Đại Lộc, phong trào cắt tóc ngắn, mặc Âu phục (do cụ Phan Chu Trinh xướng xuất); phong trào thơ mới (cụ Phan Khôi ),...

Đặc biệt trong cuộc khởi nghĩa của Việt Nam Quang Phục Hội do vua Duy Tân làm Chủ Súy, trong ủy ban khởi nghĩa có nhiều người Quảng Nam giữ cương vị chủ chốt như Thái Phiên, Trần Cao Vân, Phan Thành Tài, Lê Ngung, Nguyễn Súy, Lê Cơ, Lê Đình Dương... Việc bại lộ, vua Duy Tân bị Pháp đưa đi đày, Thái Phiên và ba đồng chí bị hành quyết. Để ghi nhớ người anh hùng dân tộc thành phố Đà Nẵng đã một thời mang tên Thái Phiên.

Có người cho rằng "Đất Quảng Nam chưa mưa đà thấm" là cách nói thậm xưng nói quá... nhưng thật ra chẳng quá chút nào vì người Quảng Nam rất nhạy bén, rất ưu thời mẫn thế. Thật vậy, thường những người làm cách mạng thuộc loại cá thể đột biến, không theo lẽ thường tình.

Cãi… thuộc bản sắc 

"Bất cứ tộc người nào buông lỏng sự giữ gìn bản sắc của mình đều sẽ bị tiêu vong".
Trong cuốn "Có 500 năm như thế" của nhà khảo cứu Hồ Trung Tú có chương mục lý giải khá thú vị về tính hay cãi của người Quảng Nam. Theo tác giả thì trong suốt 500 năm người Chăm và người Việt sống cạnh nhau, xen kẽ nhau, làng này cách làng kia một cánh đồng, một con bàu, thậm chí một con đường. Có lúc có nơi họ tôn trọng hòa hiếu nhau, nhưng bao giờ cũng giữ bản sắc văn hóa riêng của dân tộc mình. Từ đó xảy ra sự xung đột do sự dị biệt giữa hai nền văn hóa như chế độ phụ hệ, mẫu hệ; như tín ngưỡng của người Việt là Trời Phật, của người Chăm là SiVa, Visnu. Đó là nguyên nhân của tính hay cãi.
Hồ Trung Tú rất có lý khi cho rằng: "Bất cứ tộc người nào buông lỏng sự giữ gìn bản sắc của mình đều sẽ bị tiêu vong". Đây là một khẳng định, một lời cảnh báo có giá trị như một quy luật lịch sử mà các nhà làm văn hóa cần quan tâm. Hồ Trung Tú càng có lý khi cho rằng cãi nhau để khẳng định mình, cố trung thành với niềm tin của mình, bất luận đúng sai không chỉ là tính bảo thủ mà còn là sự sống còn của bản sắc văn hóa. Ông gần như xác quyết: "Phải chăng chính nhờ thế mà họ đã bảo lưu được bản sắc văn hóa của mình suốt 500 năm". Đã là bản sắc văn hóa dân tộc thì không có vấn đề hơn kém, đúng sai, tốt xấu. Giá trị của ai là của người ấy. 


Cũng từ thế kỷ thứ 16 trở đi Dinh Trấn Quảng Nam đóng một vai trò quan trọng trong việc giao lưu với các nước phương Tây. Giáo sĩ Dusomi rồi giáo sĩ Alexandre de Rhodes đến Trấn Quảng Nam để truyền giáo. Điều đáng lưu ý là Alexandre de Rhodes cùng với các thức giả Việt Nam soạn từ điển Việt - Bồ - La; từ đó manh nha hình thành chữ Quốc ngữ. Từ Trung Hoa, hòa thượng Thích Đại Sán rồi học giả Chu Thoại Thủy đã đến Việt Nam và lưu trú dài ngày ở Hội An (Quảng Nam) để thăm thú trước tác. Điều đáng lưu ý là trong "Hải ngoại ký sự" của hòa thượng Thích Đại Sán có mô tả và xác nhận hai quần đảo Trường Sa và Hoàng Sa là của Việt Nam.

Những sự kiện kể trên chứng tỏ người dân Quảng Nam đón những luồng gió mới với thái độ dè dặt cần phải tranh cãi phản biện trước khi tiếp nhận. Ngoài ra Quảng Nam còn là nơi giao điểm, giao lưu của hai nền văn minh lớn: văn minh Trung Hoa và văn minh Ấn Độ. Hai nền văn minh nầy du nhập vào Việt nam từ thế kỷ thứ 3 sau công nguyên bằng hai con đường: đường thủy từ Ấn Độ, Miến Điện, Tích Lan  và đường bộ từ Trung Hoa sang. Người Việt và cả người Chăm đứng trước một sự lựa chon: phải chọn một bỏ một hay dung nạp cả hai trong ý thức phản biện thường trực, tranh luận gay gắt  để cuối cùng dung thông, thâu hóa cả hai.

Còn giọng nói của người Quảng Nam có hơi thô mộc cứng và nặng (có lẽ vì pha giọng của người Chăm) khiến  người nghe có cảm giác đang bị cự cãi. Ngoài ra, ngôn ngữ của người Quảng Nam có tính cách "ăn sóng, nói gió" có lẽ vì đất Quảng Nam ở đầu sóng ngọn gió  chăng? Người Quảng Nam ăn cục nói hòn, nghĩ sao nói vậy, thẳng như ruột ngựa... ấy là do tánh quyết liệt, mạnh mẽ, bộc trực...

Tóm lại, tính hay cãi của người Quảng Nam phải chăng phát nguyên từ hoàn cảnh vị trí địa lý của cộng đồng dân cư có ảnh hưởng đến tâm lý con người xứ Quảng. Tâm lý phòng ngừa bất trắc trong môi trường thiên nhiên khắc nghiệt; tâm lý hồ nghi dè chừng những luồng gió mới từ bốn phương thổi tới; tâm lý quyết liệt mạnh mẽ, căng thẳng khi phải đương đầu với thiên tai thủy ách và các thế lực ngoại xâm. Nhưng có một điều không thể phủ nhận là đất Quảng Nam đã sản sinh ra nhiều danh sĩ danh nhân, anh hùng, chí sĩ có công lớn trong việc dựng nước và giữ nước.  

Chủ Nhật, 1 tháng 6, 2014

Nghĩ xưa , buồn nay

     Nguyễn Trãi có một câu thơ nôm mà nay đọc lại thấy xót xa cho thế cuộc .
  Triều có hiền tài nho sĩ ấm
 Biên không binh lửa tướng quân nhàn 

Hai câu thơ nôm na dân dã mà ý chí sâu xa , diễn tả khát vọng về một đất nước an bình thịnh trị . Nói đến một thời đại phong kiến là nói đến hoàng triều cương thổ . Nói đến hoàng triều là nói đến vua hiền tôi trung . Nếu vua là minh chủ tất nhiên có nhiều hiền tài dốc lòng giúp vua trị nước .. Những hiền tài xuất thân từ khoa bảng là những hàn nho , kẻ sĩ .. Vua có quyền , kẻ sĩ có học cùng nhau hợp tác chế định chính sách , sắp đặt giềng mối trị quốc an dân .
Bằng con đường cử hiền tài những kẻ sĩ khoa bảng được tiến cử vào các vị trí lảnh đạo đất nước .Những kẻ vô tài bất tướng theo chủ nghĩa cơ hội sẽ không có cơ hội tham chính để tham ô đục khoét hại dân hại nước
 Triều có hiền tài nho sĩ ấm
 Đó là sứ mạng của hiền tài .
 Còn tướng quân ngoài biên ải thì sao ?
 Thời bình tướng quân có nhiệm vụ tập luyện quân sĩ để chuẩn bị cho thời chiến .
Nuôi quân ba năm dụng binh một ngày .
Tuy nhiên , dù sao trong thời bình tướng quân cũng nhàn hơn thời chiến .
 Biên không binh lửa tướng quân nhàn .
 Khi biên cương có biến thì tất yếu phải động binh . Lúc bấy giờ thì hiển nhiên tướng quân không còn có thể nhàn được nữa rồi  ! Tướng tá giỏi , binh lính tinh nhuệ thì sẽ sớm đẩy lui giặc ngoại xâm  ; giữ toàn vẹn lãnh thổ , củng cố chủ quyền quốc gia .

Ngày nay giặc Tàu chiếm đảo , lấn biển sát thềm lục địa mà tướng quân nhà ta vẫn  nhàn nhã  , vẫn bình chân như vại , lại còn nói chuyện hữu nghị hòa hiếu với kẻ thù  là cớ làm sao ? !
 Việc giữ biển giử đảo là nhiệm vụ của  quân đội , đâu phải của ngư dân . Đem tàu cá mà đọ sức với tàu chiến của kẻ địch thì khác nào đem trứng mà chọi đá ư !

     Buồn thay ! 
     Lo thay ! 

Thứ Sáu, 2 tháng 5, 2014

Nghĩ về nhân cách , trí thức của một ông giáo sư qua lời đề tựa cho một quyển sách độc hại



Gần đây trên các trang mạng đăng  tải nhiều bài viết của nhiều tác giả về một cuốn sách của ông Đỗ Minh Xuân ( ĐMX) có tựa đề : “ TRUYỆN KIỀU CỦA NGUYỄN DU VỚI TIẾNG VIỆT HIỆN ĐẠI , PHỔ THÔNG ĐẠI CHÚNG VÀ TRONG SÁNG “( nhà xuất bản văn hóa thông tin ). Nhiều bài viết có nội dung bất bình , phê phán chỉ trích thậm chí lên án tác giả cuốn sách là kẻ tội đồ cầm đuốc đốt đền . Ông Đỗ Minh Xuân , tác giả cuốn sách , là một kỳ sư cơ khí đã làm một công việc trái khuấy là sửa hơn 1000 đơn vị từ trong tác phẩm truyện Kiều của Nguyễn Du. Đó là việc làm ngông cuồng của một kẻ bất tiếu (1)không đáng tốn nhiều giấy mực .Điều đáng suy nghĩ là lời đề tựa của một ông giáo sư danh gíá đã từng được tôn vinh là anh hùng lao động, đã từng giữ chức Viện trưởng viện xã hội học : ông Đặng Vũ Khiêu .Ông viết : ‘ Với một tinh thần khoa học rất nghiêm túc ông Đỗ Minh Xuân tìm lại hầu hết các văn bản truyện Kiều từ trước đến nay , so sánh dị bản tìm đọc hầu hết các bài bình luận tác phẩm và tác giả . Từ đó ông đã có ý tưởng lớn là làm thế nào để phổ cập hóa truyện Kiều cho quãng đại quần chúng . Ông gạt bỏ những câu chữ khó hiểu từ tiếng Hán để thay bằng ngôn ngữ thuần Việt trong truyện Kiều . Tôi hoan nghênh công phu nghiên cứu của ông ĐMX và tin rằng cuốn sách nầy là một đóng góp đáng kể vào việc nghiên cứu truyện Kiều .”

Qua lời đề tựa tán dương , cổ xúy ,đồng tình tán thưởng nói trên ta tự hỏi : “ Ông Vũ Khiêu là ai ?Do đâu ? vì sao , nhằm mục đích gì mà viết ra như thế . Đã có người kết án ông “ nối giáo cho giặc “ .

Giặc ở đây là giặc phá hoại bản sắc văn hóa dân tộc . Ông ĐMX là một kỷ sư cơ khí lẽ ra ông phải nghiên cứu chuyên ngành sáng chế máy móc lại đi làm thợ tiện , thợ lắp ráp văn chương chữ nghĩa . Sửa chữ trong văn thơ là việc làm sai nguyên tắc hoc thuật và vi phạm quyền sở hữu trí tuệ . Truyện Kiều của Nguyễn Du gồm 3254 câu thơ lục bát mà ĐMX đã sửa 1000 từ , có khi sửa cả câu thì còn gì là Truyện Kiều ?

  Điều đáng ngạc nhiên là ĐMXdám sửa thơ của một  đại thi hào , một danh nhân văn hóa thế giới .Ông ta lại càng ngông ngênh ngạo mạn khi tự cho rằng chữ của mình hay hơn Nguyễn Du . Truyện Kiều ra đời cách chúng ta hơn 200 năm đã ổn định giá trị như một khối đá tảng . Đây là tác phẩm kinh điển được xem như một di sản văn hoá của dân tộc, một ngôi đền văn hóa của người Việt . Điều đáng xấu hổ hơn nữa là ông ta đã sửa truyện Kiều một cách ngô nghê , tầm phào ,…
 Người xưa đã từng cảnh báo những kẻ hậu học chớ làm khôn đi sửa văn thơ của người khác .” Văn chương đâu phải là đơn thuốc , khuyên bầy con trẻ chớ thày lay “ Thế mà cũng có kẻ liều lĩnh làm cái việc úy kỵ đó . Tỉ như Tô Đông Pha sửa thơ của Vương An Thạch :
  Thơ Vương An Thạch :
                          Minh nguyệt sơn đầu khiếu   
                         Hoàng khuyển ngọa hoa tâm
Tô đông Pha sửa :
                         Minh nguyệt sơn đầu chiếu
                         Hoàng khuyển ngọa hoa âm
    Tô đông Pha sửa như vậy vì cứ  tưởng minh nguyệt là trăng  - thì phải dùng chữ chiếu thay cho chữ khiếu , còn  Hoàng khuyển là con chó vàng nằm dưới bóng hoa - chữ âm thay cho tâm  (*) ( **). Sau này , ngao du thiên hạ , Tô đông Pha mới hiểu ra Minh nguyệt là một loài chim , còn còn Hoàng khuyển là một loài sâu ( sâu nằm trong hoa ). Tô đông Pha bèn xin lỗi Vương An Thạch . Thì ra làm thơ cũng nên hiểu biết về sinh vật nữa . Ở nước ta trong thế kỷ trước cũng đã có một Nguyễn bách Khoa phê bình văn học theo kiểu lương y bắt mạch . Ông  chẩn đoán Thúy Kiều mắc bệnh ủy hoàng , chứng u uất , biến chứng thành dâm dục , dâm đãng .Còn ông Hoài Thanh , phê bình gia nổi tiếng , từng chê Nguyễn Du trong văn tế “ Thập loại chúng sanh “ là không phân biết giai cấp , yêu  hết mọi loài , chê Từ Hải theo chủ nghĩa đầu hàng : “ chết đứng , chết ngồi , chết nằm gì cũng chết vì đầu hàng “. Phê bình văn học qua cặp kiếng màu chẳng khác nào mù mà dẫn người khác đi , què mà dạy cho người ta chạy “
 Trở lại trường hợp ông ĐM X sửa thơ trong truyện Kiều . Việc nầy không lấy gì làm nghiêm trọng , chẳng qua là “ con trẻ thày lay chuyện người lớn “. Điều đáng tiếc là việc làm đó được một giáo sư lão thành , có uy tín , có danh phận , có học hàm học vị cổ xúy , tán dương ..Ông ĐM X mới chỉ vấy bẩn , làm ô nhiểm truyện Kiều .., còn ông V. K tiếp tay vứt xác truyện Kiều xuống sông ! Ôi ! Truyện Kiều mất , nước ta có còn không ?Ngôn ngữ của một dân tộc là chủ quyền của một nước . Truyện Kiều là một kho tàng ngôn ngữ tiếng Việt , vừa bác học , vừa  bình dân vừa thanh cao điển nhã , vừa dung dị , chân phác . Truyện Kiều là cái HỒN cái HẠNH, cái bản sắc văn hóa của dân tộc .  
 Tại sao phải sửa thơ truyện Kiều để hiện đại hóa , phổ thông hóa , đại chúng hóa và trong sáng hóa ?! Ông Vũ Khiêu khen ông ĐMXcó một tinh thần khoa học nghiêm túc . Làm thế mà nghiêm túc ư ?
Tinh thần nghiêm túc là phải sao lục tất cả các dị bản của truyện Kiều , tham khảo , nghiên cứu tài liệu khảo chứng dữ liệu để đưa truyện Kiều trở về nguyên văn chính bản . Tùy tiện sửa từ , thay câu là phản khoa học trái với nguyên tắc học thuật , là phạm pháp .
Ông V.K khen ông ĐMX có ý tưởng lớn “ hiện đại hóa , phổ thong hóa , đại chúng hóa , trong sáng hóa truyện Kiều “bằng cách “ gạt bỏ “ gạt bỏ những câu chữ khó hiểu từ tiếng Hán thay bằng ngôn ngữ thuần Việt “. Thật không thể hiểu nổi trình độ học vấn của một ông giáo sư !Đọc truyện Kiều hay bất cứ một tác phẩm cổ điển nào cũng đâu có khó vì đã có chú thích về từ Hán Việt , từ cổ , điển tích .Riêng truyện Kiều thì lại có từ điển truyện Kiều của Đào duy Anh . Nếu gạt gỏ những câu chữ khó hiểu từ tiếng Hán thì còn gì dòng văn học chữ Hán và chữ Nôm ? !
 Tại sao ông V.K lại đồng tình với việc hiện đại hóa một tác phẩm cổ điển ? phải làm mới một di sản văn hóa của nước nhà ?Đó là điều tối kỵ trong công cuộc bảo tồn , bảo toàn văn hóa dân tộc ( kiểu vẽ rồng thêm chân ) .Văn hóa là phần hồn của một nước . Văn hóa cũng là văn minh là giáo dục …, đều có nhiệm vụ xây dựng cơ sở văn hóa cho thế hệ sau thụ hưởng đồng thời phải thừa kế , vun bồi truyền thống tốt đẹp của ngày hôm qua . Dân tộc ta đã bị bọn giặc phương Bắc nhiều phen xâm lược nhưng không đồng hóa được ; ấy là nhờ cái HỒN , cái HẠNH của đất nước không bị mất đi - mặc dầu sau mỗi lần tháo chạy về nước , bọn giặc không quên tiêu hủy toàn bộ văn khố , văn liệu của dân tộc ta .
 Tại sao ông VK nêu ra yêu cầu “ phổ cập hóa truyện Kiều cho quảng đại quần chúng “ ? Không lẽ ông giáo sư không biết rằng truyện Kiều đã đi vào mạch sống của dân tộc , đã trở thành kinh điển của toàn dân. Từ người không biết chữ đến bậc trí thức đều say mê truyện Kiều . Ai cũng thuộc ít nhất năm ba câu Kiều . Tôi đã từng nghe câu nói sau đây qua miệng của những người bình dân :” Trên thế gian không ai đẹp bằng con Kiều , cũng không ai khổ bằng con Kiều “
 Như vậy cần gì phổ cập hóa truyện Kiều cho quảng đại quần chúng .Từ hán Việt chiếm gần một nửa vốn từ tiếng Việt ,Những từ : Tổ quốc , công dân , cộng hòa , hy sinh , công bằng , độc lập , tự do , hạnh phúc ,..không phải là từ chữ Hán là gì ? . Nếu gạt bỏ những từ khó hiểu từ tiếng Hán thì còn lại gì ? Nếu gặp từ tiếng Hán khó hiểu hoặc điển tích thì đã có chú thích ; sao lại phải gạt bỏ như ông ĐMX đã làm và ông  VK đã khen ? Trong câu thơ Kiều :
  Xăm xăm đè nẻo Lam Kiều lần sang
Trong cuốn truyện Kiều của Nguyễn Thạch Giang khảo đính và chú giải có chú thích hai từ xăm xăm và Lam kiều rất rõ ( chú thích 266 trang 34).Thế mà ĐMX dám gạt bỏ từ “lam kiều “và thay bằng chữ “ đánh liều “ :
  Xăm xăm đè nẻo đánh liều lần sang
  .
Sự thay chữ “ Lam Kiều “ bằng ‘đánh liều “làm mất đi vẻ đẹp của câu thơ trong truyện Kiều : Kim Trọng háo hức , theo đường nhắm hướng nơi có người đẹp ( Lam Kiều ) để bước tới . ĐMX biến một văn nhân Kim Trọng với ý tưởng gặp gở lãng mạn bỗng chốc trở thành một kẻ phàm phu xoàng xỉnh .Phải chăng những điển tích điển cố làm cho câu văn càng thêm trang trọng , bóng bẩy .
    
  Như ở đoạn sau đây,Thúy Kiều ngăn chận hành động quá đà của Kim Trọng :
   Chày sương chưa nện cầu Lam
Sợ lần khân quá ra sàm sở chăng ?
  Nếu không đọc điển tích cầu Lam thì sao hiểu được hai chữ chày sương . Tài hoa của Nguyễn Du còn thể hiện ở nghệ thuật kết cấu : câu trước ý trước làm nền cho câu sau ý sau .
 Đúng là ĐMX đã dung tục hóa truyện Kiều . Cụ Nguyễn Du đã chắt lọc từng chữ từng câu để biến truyện “ phong tình “trong nguyên lục của Thanh Tâm Tài Nhân ( Trung Hoa ) thành “ Đoạn trường tân thanh “ hay hơn gấp bội so với nguyên lục . Có người cho rằng truyện “ phong tình “ của Thanh Tâm Tài Nhân  khi sang Việt Nam đã được cụ Nguyễn Du khoác cho chiếc áo dài trang nhã ,thanh lịch  .

  Đã đến lúc ta phải tự hỏi do đâu , bởi ai ?nhằm ý đồ gì ông Vũ khiêu lại tiếp tay cho một người đang tâm xâm phạm di sản văn hóa dân tộc ; chê bai , báng bổ tiền bối .Phải chăng có sự định hướng của một thế lực nào đó muốn triệt tiêu quốc hồn , quốc túy để tiện bề nô dịch văn hóa và đồng hoá dân ta .
 Quả mìn định hướng lại đem đặt ngay xứ Nghệ , khu di tích Nguyễn Du . Tại đây vào ngày 15/12/2012 có  cuộc hội thảo : “ Dòng chảy văn hóa xứ Nghệ từ truyện Kiều đến thơ mới “ . Kết thúc hội thảo ông ĐMX tặng cho mỗi đại biểu một quyển sách độc hại của ông . Việc phát tán cuốn sách nầy là sức công phá của  một quả mìn có định hướng vào ngôi đền văn hóa của dân tộc Việt .

Truyện Kiều không còn tiếng ta còn không ? Tiếng ta không còn nước ta còn không ?



(1) bất tiều : con không giống cha - cha làm thầy con bán sách - người ngu đối với người hiền 

(*)Đời vua Tống Thần Tông bên Tàu (1068-1078), có tể tướng Vương An Thạch, ngoài tài kinh bang tế thế, trị quốc an dân ra, ông còn giỏi văn chương thi phú nữa.
Ông đặt ra tám điều Tân Pháp để cải cách về Tài Chánh và Quân sự của xã hội Trung Hoa thời bấy giờ.
Trong triều đình có nhiều quan lại bảo thủ chống đối Tân Pháp ấy hay cố ý làm sai lạc đi. Trong số này có Tô Đông Pha, mới hai mươi tuổi đã đậu tiến sĩ.

Tô Đông Pha nổi tiếng là một thi sĩ, đại văn gia.
Họ Tô không những chống đối Vương An Thach về đường lối cải cách chính trị mà còn dám sửa cả văn thơ của Vương tể tướng nữa.
Trong một bài thơ Vương An Thach làm có hai câu như sau:
Minh nguyệt sơn đầu khiếu* ( khiếu = hót)Hoàng khuyển ngọa hoa tâm*( tâm = chính giữa)
Tô Đông Pha chê Vương An Thach dốt, viết sai vì cho rằng:Trăng sáng làm sao mà hót trên đầu núi được?
Con chó vàng làm sao mà nằm 
trong lòng hoa được?

Thật là nực cười! Vậy mà làm tới chức tể tướng??? Ông bèn phóng bút sửa hai câu thơ trên lại như sau:
Minh nguyệt sơn đầu chiếu* (chiếu = sáng)Hoàng khuyển ngọa hoa âm*(âm = bóng mát)
Dịch nghĩa là:Trăng sáng chiếu trên đầu núi
Chó vàng nằm dưới 
bóng
 hoa.
Vương An Thạch biết chuyện, chỉ cười.
Tô Đông Pha sau bị đổi ra đất Hoàng Châu là nơi hoang dã, xa xôi. Nay là Hoàng Giang thuộc tỉnh Hồ Bắc.

Một hôm ông đi dạo chơi nơi thôn dã, nghe thấy có con chim lạ hót rất hay. Hỏi nông dân ở đó là con chim gì vậy, mới biết con chim có tên là Minh Nguyệt.
Ông mới "ớ" người ra sửng sốt. Hóa ra, mình nhầm. Tài sơ, trí thiễn, hiểu biết nông cạn mà lại đi chê quan tể tướng viết bậy, viết sai. Chỉ biết có mỗi chữ "Minh Nguyệt" là trăng sáng!
Thời gian sau, ông lại giật mình lần nữa. Lần này thì rõ ràng là ông dốt thật chứ không phải họ Vương. Ở vùng này có một loài sâu tên là "Hoàng khuyển" chuyên ăn nhụy hoa. Ăn no rồi nằm ngủ và đẻ trứng ngay chính giữa cái hoa.
Vậy ra, tể tướng Vương An Thạch là người học rộng biết xa đã làm hai câu thơ rất thực tế:
Minh nguyệt sơn đầu khiếu
Hoàng khuyển ngọa hoa tâm

                                                   ( chuyện đó đây - ninh-hoa.com)-
( **) Đạt Nhân rất cảm ơn một bạn đọc đã có lòng góp ý phần chú thích nầy 

Thứ Ba, 22 tháng 4, 2014

Dưới lớp vỏ ngôn từ trong bài " mãi cần có nhau " của nhà thơ Nguyên Âm

  

     Mãi Cần có nhau
Buồn vui trong cuộc đời nầy
 Mai sau ai cũng xuôi tay lìa trần
 Dễ gì gặp được người thân
 Thời gian còn lại mãi cần có nhau
                      Nguyên Âm
 Bài thơ lục bát tứ tuyệt của Nguyên Âm trên đây được viết bằng những câu thơ mộc mạc , giản dị , chân phác , dễ nhớ , dễ thuộc . Những câu thơ như những lời nói thường kiểu “cà tửng “mới nghe ra như có vẻ tường thuật , mô tả , thông báo sự đời . Nhưng nếu bóc từng lớp vỏ ngôn từ ta sẽ thấy chừng như có một thông điệp gì đó mà Nguyên Âm muốn gửi gấm trong bài thơ nầy .
   Ngay trong câu thơ đầu , hai chữ buồn vui thật không đơn giản chút nào . Trong cõi hồng trần , đố ai , từ thứ dân đến vua chúa ; từ tiện dân đến quyền quý , không từng có những vui buồn trong đối nhân , xử thế . . Hai chữ buồn vui thật khó cắt nghĩa một cách tỏ tường , rành mạch . Vui buồn hay buồn vui không phải là một tình cảm đơn phương như “ vui “ hoặc “ buồn “ . Buồn vui luôn luôn là buồn vui với ai về điều gì đó . ( avec qu’un de quelque chose ).Người miền Nam thăm dò tình cảm của bạn bè : “ Lâu nay có buồn vui với tôi không mà không thấy tới chơi ? “
 Hoặc : “  Anh em nó có buồn vui  chi rồi !”…Thì ra hai chữ buồn vui báo hiệu tình trạng “ giờ không êm ấm nữa rồi “ ( ND ) trong mối quan hệ trước đó đã từng ấm êm .Buồn vui xảy ra trong mối quan hệ vốn tốt đẹp chẳng qua là sự bất bình , phàn nàn hoặc thống trách . Nó không gay gắt đến mức đối kháng , đối cực để trở nên mâu thuẫn , hận thù . Nhưng lâu ngày không hóa giải sẽ làm cho tình thân giữa hai người dần dần phai nhạt .   Một cách hóa giải hữu hiệu là ngồi lại để thương , lắng nghe để hiểu
   Nếu xét bài thơ trên thuộc thể thơ lục bát tứ tuyệt thì  câu đầu là câu khai ( khai , thừa , chuyển , hợp ) . Câu khai là câu bủa ý , câu thừa là câu làm rõ ý câu khai : “ Mai sau ai cũng xuôi tay lìa trần
Đó là chân lý hiển nhiên không cần bàn cải . Sống trên trần đời không ai là không chết . Vậy nên những buồn vui giận hờn không nên “ sống để bụng , chết mang theo “ làm gì . Vả lại cuộc đời ngắn ngủi quá , mong manh quá , “ buồn vui “ với nhau mà làm gì ? Cuộc đời đó có bao lâu mà hững hờ ( TCS ) . Đi ngoài  đường , gặp một người thân , không kịp vẫy tay chào sẽ ray rứt ăn năn dường nào khi hay tin người đó đột ngột qua đời . .
 Câu thơ thứ ba là câu chuyển : Dễ gì gặp được người thân
Trong khi bài thơ tứ tuyệt thì câu ba là câu bản lề khép lại hai câu trên và mở ra câu hợp mang ý tổng kết . Từ khóa trong câu ba là từ ‘ người thân “ . Đã là người thân thì không dễ gì gặp được , cũng như đối với giai nhân khó gặp ( giai nhân nan tái đắc ) . Điều lưu ý ở đây là Nguyên Âm không nói “ gặp lại “ mà nói “gặp được ; gặp được gần nghĩa với có được …một cuộc gặp gỡ - hạnh ngộ . Gặp một người thân đúng nghĩa thật là không dễ dàng !. Thiền sư Trí Bảo đã từng khẳng định :
Tương thức mãn thiên hạ
Tri âm năng kỳ nhân
( Giao du khắp thiên hạ
Tri âm được mấy người )
Biết nhau thì dễ mà hiểu được lòng nhau mới là khó . Thường thì tương thức mà không tương tâm . Người thân mà tác gỉa muốn nói ở đây là người tâm phúc . Chữ “ phúc “ có nghĩa từ nguyên là bụng , bọc giấu ở trong , khúc nối trong lòng . Người tâm phúc sống trong da thịt của nhau .( être dans la peau de quelqu’un ). Người tâm phúc có thể hy sinh mạng sống cho nhau như Lê Lai liều mình cứu Chúa , như Kỷ Tín giả làm Hán Vương để cứu Lưu Bang thoát khỏi vòng vây của Sở Vương ( Hạng Võ ) .Trên đời nầy có được bao nhiêu “ người thân ‘ cở ấy ? Nói như Vũ Thành An “ Vạn người quen có mấy người thân , khi lìa đời có mấy người đưa ? “
  Tuy nhiên cũng không loại trừ trường hợp Nguyên Âm dùng từ người thân trong ngữ nghĩa là người cùng huyết thống , cùng giòng họ ..Nếu như vậy thì sẽ mâu thuẫn thì sẽ  với cụm từ “ dễ gì gặp được “ trước đó . Người anh em , bà con đâu có khó gì gặp , trừ khi bị thất tán , xiêu lạc .. Nếu như vậy thì phải nói là “ dễ gì gặp lại “ chứ không thể nói là gặp được . “ Người thân “ theo nghĩa tương tri , tâm phúc không nhất thiết là người cùng huyết thống . Người cùng huyết thống cũng không thể mặc định là người thân . Trên thực tế có những người anh em không xem nhau là tâm phúc ..  Như vậy không thể hồ đồ mặc định rằng hễ máu mũ là người thân .. Người thân mà không “ dễ gì gặp “ không những đồng tôn đồng tộc mà còn đồng tâm đồng chí , đồng hội tương lân . Từ tương lân đến tương thức , từ tương thức đến tương tri , từ tương tri đến tương tâm . Khổng Tử cho rằng : “ Nhân chi tương tri , quý tương tâm “ ( người ta biết nhau quý ở chỗ biết lòng nhau ) . Bi kịch gia đình thường xảy ra khi những người thân không tương tri , không tương tâm vì ghét ghen , tự phụ , ích kỷ …Đó cũng là vấn đề không chính danh .Bài thơ kết thúc bằng một tâm nguyện chí thiết : “ Thời gian còn lại mãi cần có nhau “
Câu cuối có nhiệm vụ tổng hợp ba câu trên . Chính vì vậy mà ngày nào còn sống ngày đó còn cần có nhau . “ ngày sau sỏi đá cũng cần có nhau “( TCS ) . Câu thơ mộc mạc , phác thực nhưng rất chân thành , thống thiết .Câu nầy có thể nói với người bạn tâm giao , tâm phúc , với người tình , với bạn đời ….đều tỏ lòng chung thủy sắt son . Cách nóí của Nguyên Âm tưng tửng, dí dỏm  và huỵch toẹt . Đây là tố chất trong thơ Nguyên Âm .
    Tần Hoài Dạ Vũ có nhận xét rất đúng về con người và thơ Nguyên Âm : “ Sống chân thành , viết chân tình , đây chính là hồn cốt của Nguyên âm “


    Bên trong lớp vỏ ngôn từ thô mộc , dân dã là những ý tứ thâm trầm , dung dị . Ý tứ ấy đã bộc bạch cả tấm chân tình suốt đời khao khát , suốt đời kiếm tìm : người thân . Ôi ! phải chăng vì “ Vạn người quen có mấy người thân ? !”

Thứ Sáu, 14 tháng 3, 2014

Ngôn ngữ tình trong lời ru xứ Quảng

                                                                                                   

         Tình yêu và trí thức là hai mặt tác dụng không thể thiếu vắng trong một con người giữa các cộng đồng lớn nhỏ ; không có tình yêu cuộc sống sẽ đóng băng và không có trí thức con tim sẽ mù lòa . Một trong những thứ tình cao cả thiêng liêng là tình mẹ thương con . Tình yêu ấy bộc lộ qua tiếng hát ru của mẹ bên quai nôi . Thi sĩ Xuân Quỳnh thú nhận : Dẫu con đi suốt một đời , cũng không quên hết những lời ru xưa " . Trong lời hát ru của người dân xứ  Quảng Nam  có chứa đựng một thứ ngôn ngữ tình giàu chất triết lý nhân sinh mà không nơi nào có được . Ngôn ngữ ấy đã kết tinh từ hoàn cảnh tâm lý của những lưu dân đi mở cõi và hoàn cảnh địa lý sông nước Thu Bồn . Sông Thu Bồn từ Tí Sé , Dùi Chiêng chảy xuống đến Hội an , Cửa Đại có một mối dây liên lạc mật thiết trên những chuyến đò dọc theo gió mùa mậu dịch  ( buổi mai nam ta trông bạn , buổi chiều nồm bạn trông ta ). Tâm tình của người dân Quảng Nam thật là nồng thắm , tươi nhuận thể hiện qua lời ru và lời ru thì chứa đựng biết bao ngôn ngữ tình giàu chất triết luận .


            Trong thời đại hiện nay , với những ngôn ngữ thực dụng của loại trí thức điện toán , kê tính , với những âm thanh xập xình , gào thét , thở than của dòng nhạc trẻ ...ta thử lội ngược dòng để tìm kiếm , lượm lặt một vài ngôn ngữ tình ấy ; hoặc thử làm người thợ lặn , lặn sâu dưới đáy đại dương để chắt chiu những trầm tích từng bị bỏ quên .
    Hát ru thuộc thể loại thơ ca dân gian như hò đối , hát hò khoan , bài chòi v..v...đều có đặc điểm diễn xướng ( trình diễn bằng âm thanh nhạc điệu với nhiều người ). Riêng hát ru lại có đặc điểm riêng là chỉ hát cho một đối tượng nghe mà thôi , đó là em bé nằm trong nôi . Em bé ngủ được là do âm điệu êm ái của tiếng hát ru . Còn phần ý tứ sâu xa , tâm tình thầm kín thì chỉ có người hát mới biết . Có khi em bé ngủ rồi mà người mẹ ( người chị  vẫn còn hát tiếp dăm ba câu nữa cho cạn nốt bầu tâm sự) . Trong lời ru có những ngôn ngữ , những cách nói ẩn ý như một thứ mật mã vừa rất trữ tình - bay bỗng lãng mạn- lại vừa đậm chất triết lý .
    Trước hết phải nói đến câu hát " Đất Quảng Nam chưa mưa đà thấm" mà không một người dân Quảng nam nào không thuộc .
    Đất Quảng Nam chưa mưa đà thấm 
Rượu hồng đào chưa nhấm đà say 
  Gặp nhau chưa mấy lăm ngày 
Để mang ơn nặng nghĩa dày tình thâm 
 Có người cho rằng hai câu đầu là cách nói tỷ hứng , thậm xưng , nói quá . Nhưng suy cho cùng thì cũng không quá chút nào . Thứ nhất , về mặt địa lý đất ở đây được bồi đắp bởi phù sa của sông Thu Bồn phì nhiêu , màu mỡ nên thường xuyên có độ ẩm . Còn say ở đây là  say tình say nghĩa ...Cụm từ chưa mưa đã thấm không chỉ nói đến độ thấm của đất mà còn nói đến độ nhạy cảm của người dân đất Quảng .Phải công nhận rằng Quảng Nam có những con người tiên phong trong nhiều lãnh vực như chính trị , phong hóa , thơ ca ...Khi tiếng súng xâm lược của thực dân Pháp nổ ở biển Sơn Trà -Đà Nẵng ( 1858 ) thì người dân Quảng Nam - Đà Nẵng đã cùng với Nguyễn Tri Phương lập phòng tuyến chống giặc , ngăn chận bước tiến của chúng khiến chúng phải chạy vào Gia định ( 1859 ). Quảng Nam là điểm đầu tiên xuất phát phong trào chống sưu thuế . Cụ Phan chu Trinh là người đầu tiên xướng xuất thể chế dân chủ thay chế độ quân chủ ; cụ và cụ Huỳnh Thúc Kháng là những người đầu tiên cổ xúy phong trào cắt tóc ngắn để gọn gàng , mạnh mẽ .Cụ Đỗ Đăng Tuyển và cụ Châu Thượng Văn là những người đầu tiên đấu tranh bất bạo động kiểu Gandhi; tuyệt thực đến chết trong tù để đấu tranh chính trị với thực dân Pháp . Đặc biệt trong thi ca , người con Quảng Nam- Phan Khôi- là người đầu tiên xướng xuất phong trào thơ mới với bài Tình già nổi tiếng một thời .Đúng là " Đất Quảng Nam chưa mưa đà thấm " bởi vì họ rất ưu thời mẫn thế , nhạy bén với thời cuộc .
     Sắc thái văn hóa  Quảng Nam cũng mang màu sắc  sông nước , núi rừng hiểm trở .
          Dù cho cạn nước Thu Bồn 
    Ô Gia* chảy ngược , biển đông thành đồi 
         Dù cho cay đắng trăm chiều  
    Cũng không lay được tình sâu nghĩa dày 
 Con sông Thu Bồn phát nguyên từ Tí Sé , Dùi  Chiêng và xuôi về hạ nguồn chảy ra Cửa Đại .Còn sông Vu Gia từ phía tây Đại Lộc chảy xuống hợp lưu với Thu Bồn tại Giao Thủy - Quảng Huế .Thi ca dân gian hò vè ...được sáng tác ngẫu hứng trên các bãi dâu xanh hai bên bờ sông hoặc trên chuyến đò dọc lên ngược về xuôi. Trên những chuyến đò dọc có nhiều khách thương tứ xứ : người các Chú ( Tàu ) , người Chà và  ( Ấn độ )...Họ mang đến nơi đây một nền văn minh Trung Ấn hội nhập với văn minh Đại Việt . Cái rốn của sự giao lưu này là Giao Thủy Khi những con đò dọc nhổ sào xô ra từ Quảng Huế , nó sẽ tỏa ra mọi nẻo đường quê hương : Khe Rô , Quảng Đại , Trang Điền , Kim Liên , Lệ Trạch , Vân Ly , Đa Hòa ...
   Kể từ Quảng Huế xô ra 
Khe Rô , Quảng Đại , Ô Gia , Trang Điền
 hoặc 
   Kể từ Quảng Huế ra đi 
 Kim Liên , Lệ Trạch , Vân Ly , Đa Hòa 
  Tất cả các địa danh đó mang hơi hướng của quê hương mình giao lưu cùng nhau trên những chuyến đò dọc , xuôi về cửa Đại để rồi " Rạng mai đến phố đôi ta trao lời " .Đất Giao Thủy vì vậy mà có độ thấm ,độ ấm ghê gớm .
    Giao Thủy đất tốt trồng hành 
 To cây lớn củ lại lành con trai 
 Độ thấm đẫm của đất đem lại cho người dân xứ Quảng một tâm hồn ướt át , nồng thắm ân tình , được biểu đạt qua lời ăn tiếng nói hằng ngày trong các câu ca ngẫu hứng bất chợt :
      Trồng trầu thả lộn dây tiêu 
  Con đi đò dọc mẹ liều con hư 
 Đây là lời người mẹ tự nhủ với lòng khi ra vườn hái trầu bắt gặp vài dây tiêu bò lẫn với dây trầu rồi liên tưởng tới hình ảnh con gái mình vì kế sinh nhai phải buôn chuyến trên đò dọc . Trên chuyến đò dọc chở sản vật từ đầu nguồn về bán ở phố và lại chở hàng ở phố lên bán cho các chộ miền núi ."Mít non chở xuống , cá chuồn chở lên ". Trên chuyến đò dọc ấy , ai cũng tìm chỗ để ngủ qua đêm . . Họ nằm lẫn lộn , bất kể nam nữ đều dồn hết vào mui ghe chật hẹp :" Lửa gần rơm không bén cũng tròm trèm ". Người mẹ nào có con đi buôn đò dọc mà không lo chứ . Chữ " Liều "  trong câu ca nói lên kế sinh nhai nghiệt ngã. . Vì cuộc sống mà người ta còn phải làm nhiều việc hiểm nguy hơn , sá chi đò dọc .
 Nợ áo cơm phải trả lấy hình hài 

Một người con gái bị một chàng trai lừa phỉnh, cay đắng hát bên quai nôi :
Chim xanh ăn trái xoài xanh 
 Ăn no tắm mát đậu cành cây đa 
Cực lòng em phải nói ra 
 Chờ trăng trăng xế , chờ hoa hoa tàn

Người con gái đi lấy chồng  đoạn tuyệt với người tình cũ . Và còn gởi lời nhắn nhe với người cũ :
Đất Phú Hanh trồng tranh mau nhảy 
 Em gởi lời về cậu Bảy thôi thương 
Em có chồng như ngựa có cương 
 Ngõ anh anh đứng , đường trường em đi 

 Ngôn ngữ tình của người dân xứ Quảng còn có tính thật thà chơn chất " có răng nói rứa tự hồi mô đến chừ ". Ăn cục nói hòn không có nghĩa là kiểu " dùi đục chấm mắm cái "mà nói kiểu thực lòng không đĩ đưa môi mép
   Thương anh để nón về dầu 
Về nhà mẹ hỏi qua cầu gió bay 
 Tại sao người Quảng không nói " cởi áo cho nhau " mà nói " để nón về dầu ?Bởi vì " để nón " là đúng sự thật hơn .Phải chăng họ không thích nói quá !. Hai chữ " về dầu " nghe sao mà thương !Về dầu tức là về đầu trần - Thà em mưa dãi nắng dầu- chứ không nỡ nhìn Anh về chân đất đầu dầu vượt truông .

 Ấn tượng nhất là những lời ru sau ;
Giả đò mang giỏ hái dâu 
 Ghé vô thăm bạn nhức đầu khá chưa 
 Chưa khá ta băng đồng chi sá , bẻ một nồi lá vô xông 
Phải chi nên điệu vợ chồng 
 Đổ mồ hôi ta quạt , ngọn gió lồng ta che  
Đến bây giờ tôi mới hiểu cái ý nghĩa thâm thúy của câu hát , đặc biệt là hai chữ " Giả đò '" Vì sao phải vờ vịt , giả vờ , giả đò như thế ? Là bởi gia phong ngày xưa rất nghiêm . Con trai tới nhà con gái là loạn , con gái tới nhà con trai là dâm ( Nam đáo nữ phòng nam tắc loạn , nữ đáo nam phòng nữ tắc dâm ) . Nhưng ở đây không có tà ý dâm loàn chi cả - chẳng qua nghe " bạn "  nhức đầu ta ghé ta thăm và ta mong được gần kề để được quan tâm chăm sóc cho " bạn " được chu đáo .
 Cho dẫu sau này vì hoàn cảnh không ở đặng với nhau lâu dài thì cũng chỉ than lên một tiếng :
 Ân tình chưa đặng bao lâu 
 Tằm sao nỡ bỏ nghĩa dâu hỡi tằm ? 
   Thật là đằm thắm , thật là nhân hậu .
        Sắc thái , phong hóa của người dân đất Quảng gắn liền với màu xanh của bãi mía , nương dâu , của rừng sâu núi thẳm ; của sông dài tách nhánh . Nơi đây kết nối giao thoa của nhiều nền văn minh : Văn minh Champa ảnh hưởng Ấn Độ , văn minh Sa Huỳnh đại Việt ảnh hưởng Trung Hoa . Trên thế giới có những nền văn minh tựu thành trên lưu vực của những con sông như : Văn minh sông Loire , văn minh sông Nil , văn minh sông Hằng ....thì Quảng Nam quê chúng ta chắc chắn có một nền văn minh sông Thu Bồn . ..Những cuốn địa chí hiện nay chỉ mới ghép về đất đai , dân cư , kinh tế , xã hội ...chứ chưa động bút tới lãnh vực triết lý , ngôn ngữ phong hóa ,,,của địa phương mình .


         Ngôn ngữ tình trong lời ru của xứ Quảng Nam là một loại ngôn ngữ đặc thù , giàu chất triết lý nhân sinh . Nó là sự kết tinh tâm lý của đoàn lưu dân đi mỡ cõi -trong một hoàn cảnh địa lý khắc nghiệt sơn lâm chướng khí ...-do vậy mà lời ăn tiếng nói của họ thẳng thắn , bộc trực , vừa thực tế vừa bay bỗng vừa bình dân vừa điển nhã , vừa nôm na vừa bác học Hoàn cảnh địa lý , ý thức thân phận , tâm hồn phiêu lãng ...đã sản sinh ra một ngôn ngữ ru đặc thù  của một dân Quảng nam như thế . Những nhà thơ lớn như Nguyễn Du , Nguyễn Trãi ...nhờ học hỏi lời ăn tiếng nói trong dân gian mà có được những kiệt tác bất hũ.  Bùi Giáng có điều lạ là xa quê hàng mấy chục năm mà giọng nói vẫn đặc sệt tiếng Quảng Nam và trong khối lượng thơ ca đồ sộ của ông vẫn ngồn ngộn , đậm đặc ngôn từ đất Quảng .Phải chăng " ngôn ngữ tình Xứ Quảng " mãi mãi là chất liệu tươi nguyên trong tim của mỗi con người xứ Quảng !


* Ô Gia : tên gọi cũ của Vu Gia , một nhánh của sông Thu Bồn