Thứ Ba, 25 tháng 2, 2014

Chữ TÌNH trong thơ Hoàng Lộc ( Qua thi tâp " Cho dẫu phù vân" )

Nhà thơ Hoàng Lộc 
Chữ tình hay cái tình trong thơ Hoàng Lộc không tuyền là tình yêu đôi lứa . Chữ tình trong thơ Hoàng Lộc có cả tình quê , tình bạn và cả tình đời dâu bể .Mới xem ra chữ tình trong thơ anh là tình mơ tình mộng  , tình sầu tình hận ...vì những cuộc tình dang dở , những cuộc tình mong manh chập chờn thoáng chốc . Đành là vậy , nhưng trong những cuộc tình lỡ , tình hờ , tình muộn ...vẫn cứ đan xen ẩn chứa những băn khoăn , thao thức , những khắc khoải vời vợi bao nỗi nhớ quê nhà , nhớ bạn bè và cả nỗi đau đời trong cuộc nhân sinh . Hoàng Lộc đích thị là kẻ đa tình : " Bồ tát tâm rất Phật , như ta đây đa tình "

  Ngay trong tình yêu đôi lứa , Hoàng Lộc cũng khác với những nhà thơ chuyên viết thơ tình như Xuân Diệu , Vũ Hoàng Chương , Đinh Hùng ,Nguyễn Bính ,.... Điểm khác biệt dễ thấy nhất là tư thái điềm đạm , bao dung , độ lượng của Hoàng Lộc . Tư thái nầy xuất phát từ một tình yêu vô cầu vô nhiểm .Yêu như một cái cớ để làm thơ , để thủ thỉ , để tâm sự ...chứ không phải để chiếm hữu người tình . Thi sĩ thường vẫn vậy , yêu rất nhiều mà vợ thì chỉ một  mà thôi ; khác với bọn trọc phú vợ thì nhiều mà chẳng biết yêu cho ra hồn .Hoàng Lộc tự cho mình là con bướm già đời vẫn thức :
    Năm mươi năm đời ta hoài con bướm thức 
    Hoa vàng nhà em - đêm khờ trở giấc 
    Thì ra có thiêt  mùa xuân 
    Bướm đã già rồi, tội lắm tình nhân
                                    
Hoàng Lộc là con bướm lượn lò đôi cánh  chiêm ngưỡng trên những khóm hoa . Ngay những năm đầu của bậc trung học , Hoàng Lộc đã bối rối yêu và bối rối làm thơ :
     thuở mới lớn anh rình cô bạn học 
     tháng ngày ai thơm áo trắng không ngờ
    khi cô thả tóc thề ngang cửa lớp
    là khi lòng cậu bé rối câu thơ 

 Rồi sau những cuộc tình lỡ , tình muộn , tình phụ , Hoàng Lộc vẫn mải miết đi theo con đường thơ " quá chừng cô độc "

không thể theo nhau thôi đừng ngó lại 
cô đi theo chồng ,anh đi theo thơ 

Già nửa cuộc đời đi theo thơ :

    Hơn bốn mươi năm anh cứ dật dờ 
    Con đường của thơ ngời ngời oan nghiệt
   Gần khép trần  gian mà thơ mù biệt 
   Mới hiểu ngậm ngùi mấy kẻ thành danh 

Cụm từ ngời ngời oan nghiệt nói lên nghịch lý của cuộc đời thi sĩ : ngời ngời mà oan nghiệt . Thi sĩ là người đưa ra ánh sáng những gì ẩn chứa dưới nền đất . Thi sĩ khó mà sống nỗi bằng thơ mà cũng không gì tôn vinh bằng thi sĩ . Dù sao thì dù , Hoàng Lộc vẫn đi theo thơ vẫn cột chặt thể mệnh đời mình cùng với thi ca .:
    Anh khập khiểng chân thêm ngàn bước nữa 
    Mà vẫn đành hun hút lối tình si 

 Con đường thi ca là con đường đi mà không tới

    Đi không tới bởi thôi rồi cạn kiếp 
    Gió suy vi thổi rã những cành tàn 

Và những lời dành cho những người sắp " đi xa " :

    Rồi mắt khép cũng ngập ngừng cố sự
    Lũ mưa chiều nắng sớm ghé phân ưu 
    Một kiếp nữa với dặm ngàn lữ thứ 
    Anh còn bay đâu đó với mây trời 

Tình yêu trong thơ Hoàng Lộc chỉ là sương khói . Nó lãng đãng chập chờn trong thoáng chốc như gió thoảng mây trôi . Đó là những giọt tình  lấp lánh như sương mai trong nắng .
  Một lần gặp lại người xưa -sắp làm mẹ- :

    Cái bụng của nàng sao mà chướng vậy 
    Ta đứng trông theo bất giác đau lòng 
    Chiếc áo dưỡng thai che mười -phần -gã -ấy 
    Có phần nào sương khói của ta không ?

Lắm khi nhà thơ cảm thấy mệt mõi vì tình .mệt vì tình phụ , mệt vì điều tiếng thị phi :
    Có những thứ tóc xanh phải lòng đầu bạc 
    Thì mắc chi thiên hạ lo phiền 
    Ví đống tuổi nầy rứt ra mà bán được 
    Thì chắc buổi chiều anh xuống phố cùng em  

Mệt mỏi , phiền phức quá bèn kiếm chỗ nghỉ ngơi :

    Nghỉ ngơi được rồi hỡi gã làm thơ 
    Đĩa dầu đã hao đêm còn gió nổi 
    Kiếm một chỗ nằm , nghe mình hối lỗi 
    Về một chữ tình đáng lẽ không nên 

Dầu thì hao ,  bấc thì cạn , gió vẫn nổi ,...Hối vì " một chữ tình đáng lẽ  không nên ". Trong cõi nhân sinh , tình yêu vừa là dược tố vừa là độc tố . Về điểm nầy , Tuệ Sỹ -luận gia về tánh KHÔNG - nói rất rõ : "Tình yêu và tri thức nào nhấn con người xuống vũng sình của ngu muội và ngông cuồng đặt cho nó cái tên là Ái và Kiến. Tình yêu  và tri thức nào  chắp cánh cho con người bay vào hư không vô tận , chúng được gọi là đại bi đại trí " 
      Tình yêu trong thơ Hoàng Lộc không có độc tố phiền não vì không sầu bi khổ lụy . Tình yêu trong thơ Hoàng Lộc vô cầu vô nhiểm ; cho nên dù có yêu thêm muôn kiếp nữa thì " anh vẫn bay đâu đó giữa mây trời"
   "Yêu em yêu thêm tình phụ 
    Yêu em lòng chợt từ bi bất ngờ " ( Trịnh công Sơn )

Có điều đáng trân quý ở tấm lòng nhà thơ đó là chung thủy :


   Tóc ta thay màu và em thay áo 
   Vì thế cho nên có chuyện đổi dời ...
...Ta ai hoài em ngời ngời tai kiếp 
   Tóc ta thay màu mà lòng thì không

Con đường thơ thì ngời ngời oan nghiệt , còn đường tình thì  ngời ngời tai kiếp  .Dù oan nghiệt hay tai kiếp gì  thì vẫn cứ ngời ngời . Bởi thế mới có thơ rằng :  " Cái tình là cái chi chi , dù chi chi cũng chi chi với tình ( Nguyễn công Trứ )

  Người yêu cuối  cùng quanh quẩn cuối đời cùng với nhà thơ chính là " mẹ các con "
Nếu gia đình là thánh đường thì tín đồ tình yêu trở về với gia đình , ở đó có các con và mẹ các con :

    Em thế nầy đây mà ta đã tán 
    Láng giềng ơi ! cái thuở rất không ngờ 
    Em thế nầy đây mà ta lãnh đạn 
    Có đứa phải lòng em đòi mổ bụng gã làm thơ .

Nhà thơ không chỉ ca ngợi nhan sắc một thời của "mẹ các con " mà còn cảm thán đức hạnh kham nhẫn , chịu đựng của người bạn đời trong các bước thăng trầm cùng anh . 

    Em thế nầy đây mà ta đã cưới 
    Phải cùng ta chịu chừng ấy thăng trầm 
    Từng làm vợ quan , làm vợ thằng tù tội 
    Rồi cũng đành làm vợ một tha hương 

Cuối cùng thì cái nhan sắc đáng được ngưỡng mộ nhất vẫn là diện mạo của người tình trăm năm : 
    Em thế nầy đây mà ta ngưỡng mộ 
    Tha hương tha hương hề em buồn không ?
    Tóc cũng hoa râm, ít nhiều bở ngỡ
    Vẫn ngó nhau cười bên cạnh các con  

Đúng  là " Áo xưa dù nhàu  cũng xin bạc đầu gọi mãi tên nhau " ( Trịnh công Sơn ).

  Chữ tình hay cái tình trong thơ Hoàng Lộc thật là mênh mông , chan chứa ...
  Về tình yêu quê hương đất nước đối với anh thật là đặc biệt : tình cố hương và tình cố  quốc !Càng xa quê anh càng nhớ quê . Ra đi xa cố hương xa tổ quốc đối với anh là chuyện bất đắc dĩ :

    Cây đã già đời đem bứng gốc 
    Sót đôi chút rể, vứt bên trời
    Tiếng kêu cứu gửi từ tâm đất 
    Dơ dáng hình cây đứng lẻ loi 
   
    Ta đã già rồi qua xứ khác 
    Tiêu điều thân thế bóng cây khô 
    Hiểu sao quít ngọt về Giang Bắc 
    Giỏi bấy tay trồng cũng hóa chua 

Quít trồng ở Giang nam thì rất ngọt bứng đem về trồng Giang Bắc lại hóa chua ; ấy là vì không hợp với thổ ngơi thổ nhưỡng ...Nơi xứ lạ quê người , Hoàng Lộc cảm thấy lẽ loi , đơn độc .Nhiều năm trời nơi đất khách ,Hoàng Lộc bỏ bê nghiên bút , bởi có làm thơ thì " viết cho ai , ai biết mà đưa "
        " Giao du khắp thiên hạ
          Tri âm được mấy người "

    Cơm áo nghe ra đời quá cực 
    Bỏ bê nghiên bút kể nhiều năm 
    Hiểu sao nhị cú  tam niên đắc 
    Chỉ nửa câu đây đủ khóc ròng 
  
Nhị cú  tam niên đắc : ba năm viết được hai câu ( lấy từ ý thơ của Giả Đảo ):

    Ba năm viết hai câu 
    Ngâm lên mà lệ rớt
    Tri âm  còn ai đâu
    Về núi xưa ngủ trớt 

  Còn đối với Hoàng Lộc chỉ mới nửa câu " đủ khóc ròng ". Ấy mới hiểu vì sao Bá Nha đập vở cây đàn !
  Định cư trên đất Mỹ mà Hoàng Lộc vẫn mang tâm trạng ăn nhờ ở đậu :
 
     Ngồi góc quê người , coi lá rớt 
     Bỗng mừng khi lá mắc trên cây 
     Thà khô héo chết theo cành mục 
     Hơn phải sa cơ rụng đất nầy 

Lá rụng về cội : cội nguồn quê cha đất tổ !
 Một hôm , ngồi vọng về Thái Bình Dương để định hình cõi nước :
 
    Nhiều lần anh ra biển 
    Ngó qua Thái Bình dương 
    Hun hút tầm con mắt
    Biết cõi nào Việt nam ! 


Nhớ nước nhớ quê , nhớ cả những người đồng hương Xứ Quảng ở tận ...xứ Bến Tre :
     Gởi Quảng Bến Tre 
    Dân Quảng Nam đi đâu cũng ưa lập hội 
    Đi đâu cũng  cố nối tình quê 
    Hội thơ Bảy Hiền , hội Quảng ở Cali , Boston , Atlanta  ,  Dallas 
    Sao anh mãi nao lòng vì em , Quảng- Bến -Tre 
Rồi từ trái tim đến trái tim , tình yêu mới gợi được tình yêu ; một em Quảng Bến Tre " gởi anh Quảng xa xứ "
    
     Đọc bài thơ gởi Quảng 
     Mấy chục mạng nao lòng 
     Thương anh Quảng xa xứ
     Một chử TÌNH nên THƠ

     Quê xứ hoài xa xăm 
      Biết khi mô anh về !

Tình đồng hương , tình cố hương , tình bạn bè đã khiến anh :
     Từng mơ về lại Bến Tre 

     Nôn nao vì nỗi bạn bè , đồng hương 

 Nhưng chưa về đã lo nỗi chia xa  : 

      Ra đi là chuyện trời đày 

     Về thăm cũng chỉ đôi ngày lại xa  

  Nhớ đồng hương rồi lại nhớ bạn hiền , nhớ Đồng Đức Bốn ,nhớ Đinh Trầm Ca ,...Một bữa , ngồi uống rượu với Uyên Hà ở Tennessee :
      lâu lắm mới được ngồi với bạn 
       nhắc chuyện xưa và kể chuyện nay
      một ngày nói với dễ chi đủ 
      rượu rót hoài mà không biết say 

  Đúng là " tửu phùng tri kỷ thiên bôi thiểu  "

     cùng điểm danh từng đứa bạn cũ 
     trong lòng có lúc lặng - nhìn nhau 
     bao nhiêu đứa đã không về nữa 
     thầm biết mình chẳng còn bao lâu ...

Sinh ly tử biệt là nổi đau khôn cùng của giống hữu tình . Hoàng Lộc là đệ nhất hữu tình bởi lòng anh trang trải cho nhiều người ở khắp mọi nơi : 
    nhắn bạn mai chiều lại cố quán
    thấy ai quen cũng nói lời thăm 
    thấy mỗi nàng thơ ta xiêu tán 
    đều cho ta rớt hạt lệ buồn ...

Hoàng Lộc không những yêu người mà yêu cả cuộc đời , mong cho cây đơi mãi mãi  xanh tươi , mong cho sông suối , mương rạch , mạch ngầm đủ nước nuôi cây :
     "Mùa đã khô rồi sông hết nước 
      Và ta , cây đã không còn cây 
      Mặt trời cứ tận cùng sức nóng 
     Như muốn thiêu tan trái đất nầy 

Nước sông mỗi ngày một cạn , người người đều ô trọc . Trong cái lò thiêu của trời đất , biết ai là giống hữu tình đây ?
   
 "  Giang hà nhật hạ nhân ô trọc
  Vũ trụ lô trung thục hữu tình  "
     

Người người ô trọc vì quá thực dụng rồi trở nên riết róng vô cảm :

      Không thể rồi em , đời cạn kiệt 
      Không còn những thứ để nuôi nhau 
     Để nuôi ta - nuôi tình một thuở 
     Để xanh em cho ta bạc đầu 

Con người tàn hại môi sinh , vắt cạn các nguồn tài nguyên thiên nhiên , đua nhau chiếm hữu đất đai , chiếm hữu quyền lực , tiền bạc , danh vọng ; không hề quan tâm đếm xỉa đến chữ tình , chữ nghĩa :

      Nắng rát mặt mùa - đất đã nứt 
      Cây ta duỗi thẳng những cành trơ 
      Cả những mạch ngầm nước cũng tắt 
       Chỉ mắt em còn mấy giọt khô 
Riết rồi em không còn nước mắt để khóc .

  Thế đấy , cái tình cái tâm của Hoàng Lộc bao trùm suốt cõi nhân sinh . Như Hoàng Lộc đích thị là nhà thơ đa tình - " Đa tình thị Phật tâm "
 Như anh từng thú nhận :
     Bồ tát tâm rất Phật 
     như ta đây đa tình 

Hoàng Lộc là người con yêu của xứ Quảng - là tinh hoa tích tụ của văn minh sông Thu , của đất Quảng Nam chưa mưa đà thấm. Người Quảng Nam mẫn tiệp  nhạy bén như đất - dân Quảng Nam luôn tiên phong trong các phong trào chính trị , xã hội , thi ca ( Phan Khôi là người đầu tiên khởi xướng phong trào thơ mới ).
Đất Quảng Nam  sinh ra những nhà thơ nổi tiếng như Bùi Giáng , Luân Hoán , Hoàng Lộc ,Tường Linh , Nguyễn Nho Sa Mạc , Đinh Trầm Ca ,...Đó là nhờ hấp thụ  khí thiêng sông núi - con sông Thu Bồn khởi nguyên từ dãy Trường Sơn chảy qua vùng thượng du , trung du rồi xuôi về Hội An , Cửa Đại ...đã bồi đắp nên những bãi bờ xanh dâu bát ngát .


                     (Bài nói chuyện của Phạm Đạt Nhân 
                     trong "Đêm Thơ Tình Người Xa xứ "
   
                        tổ chức tại Bến Tre vào đêm 18/2/2014)
               





Thứ Năm, 13 tháng 2, 2014

Nói láo có thành công mãi không ?



Napoléon , một danh tướng tài ba của nước Pháp có một câu nói bất hủ: “ đừng nói láo vô ích vì nói láo chỉ thành công một lần “. Bên xứ ta cũng có một câu tương tự : “một lần bất tín , vạn lần bất tin “ . Thế mà trên đời nầy vẫn có nhiều người nói láo nhiều lần qua nhiều giai đoạn , nhiều thời kỳ kéo dài mà vẫn còn nhiều người tin ! Vì sao lại thế ?

 Tướng tài Napoléon cầm quân trăm trận trăm thắng ;  vậy mà có lần  ông cũng bị thất trận . Ông không hề che dấu hay nói khoác , mà chỉ dõng dạc tuyên bố trước ba quân rằng : “ Ta chỉ thua một trận giặc chứ ta không thua giặc “. Câu nói thể hiện sự trung thực có pha chút tự tin và lòng kiêu dũng . Nó gây lòng tin tưởng và sự phấn chấn trong toàn quân ; thua keo nầy ta bày keo khác .
  Nói láo chỉ thành công một lần ..
Rõ ràng trong một số trường hợp câu nầy thật không sai .Nhớ truyện U Vương nước Tàu vì muốn nghe tiếng cười của nàng Bao Tự mà phóng hỏa đốt phong hỏa đài để  lừa các chư hầu kéo binh tiếp cứu . Đến nơi mới biết bị lừa đành tiu nghỉu kéo binh trở về trong tiếng cười sảng khoái của U Vương và người đẹp . Về sau khi có nguy biến thật thì U Vương đã không còn được chư hầu nào tới cứu cả và đành ngậm ngùi nhận ra cái sai lầm quá lớn của mình trước khi bỏ mạng .
  Truyện cổ dân gian cũng kể một câu truyện của một cậu bé hay thích nói dối để lừa mọi người ; lấy đó làm trò vui . Một hôm cậu chạy ra khỏi nhà và kêu toáng “nhà cháy” . Hàng xóm chạy đến , không thấy nhà cháy , biết đã bị lừa mọi người tức giận quay về . Sau đó đến khi nhà cậu bé chẳng may bị cháy thật ; cậu kêu cứu rát cả họng chẳng thấy bóng người nào chạy đến ; vì họ cứ tưởng cậu lại đùa nghịch như  lần trước !

 Đúng là nói láo chỉ thành công một lần ! Một lần thất tín , vạn lần bất tin .
  Tuy nhiên trên thực tế vẫn có nhiều người nói láo nhiều lần , qua nhiều giai đoạn mà vẫn có được lòng tin ở nhiều người . Đây là vấn đề  !
  Nói láo mà đạt đến trình độ nầy thì được mọi người “ thán phục “ là nói láo có sách . Thật ra không có sách  nào dạy nói láo ; mà chỉ là một sự nói láo có chủ trương có sách lược , có bí quyết !.
Ví dụ như sách  lược tạo ra một huyền thoại được nhiều người lập đi lập lại mãi một điều gì đó cũng khiến người ta tin. Chẳng hạn có tin đồn đoạn đường nào đó có ma . Tin đồn lan xa . Nhiều người nói ; nói nhiều lần …Thét rồi ai cũng tin là đoạn đường ấy có ma thật . Thậm chí người ban đầu phao tin đồn láo đó cũng ngại đi qua đoạn đường đó vì “ nghe đồn rằng ở đó có ma “ . Đó là hiện tượng tâm lý tự kỷ ám thị ..
 Cũng như diễn viên sân khấu suốt đời chỉ thủ vai một nhân vật ; quen nhập vai trên sân khấu diễn viên mặc định mình là nhân vật đó ở ngoài đời ..

Dùng huyền thoại để tăng hiệu quả lời nói  là cách đại chúng hóa xã hội hóa  điều muốn nói  .. Chẳng thế mà các sản phẩm  được hằng ngày quảng cáo rầm rộ trên TV, tràn lan trên khắp phố xá , hang cùng ngỏ hẻm . Tên sản phẩm được người ta ghi nhớ , chấp nhận dùng thử
  Sự dối trá ngày nay dần được hợp thức hóa và trở thành mode trong giao tiếp hàng ngày  kiểu ‘ đắc nhân tâm ‘. Gặp nhau câu đầu tiên là một câu khen “ Anh bận rày phong độ quá “ hoặc “ Chị hôm nay trông xinh ra , trẻ ra …” Người được khen vẫn tin là mình phong độ thật , trẻ thật , xinh thật , (mặc dù người khen không có ý khen thật ).
, vì “ ai cũng nói vậy “.
  Những lời lẽ dối trá dua nịnh , tâng bốc nhiều khi làm hư hõng con người ta . Vua , quan hư hõng cũng vì sự ton hót bợ đỡ của nịnh thần .
   Có câu chuyện cổ tích kể một vị vua bị lừa thậm chí cởi truồng mà không hay cũng vì bọn nình thần dối trá . Ngày nọ có hai tên thợ may đến cung vua lãnh may cho vua bộ hoàng bào bằng vàng . Chúng lãnh vàng xong , hàng ngày vào phòng giả bộ cắt cắt may may . Bọn chúng tung tin rằng bộ đồ này rất đặc biệt , chỉ người nào thông minh mới nhìn thấy được mà thôi . Đến hôm nhà vua thử bộ đồ “ không thấy “ thì cả đám nịnh thần đều khen là tuyệt đẹp “ là “ quý phái “ ,vv…Thậm chí nhà vua cũng nghĩ là mình đang mặc hòang bào  “ lộng lẫy’ , mà vì mình không thông minh nên không nhìn thấy đó thôi .. Nếu không có cậu bé thật thà reo lớn “ nhà vua cởi truồng’ thì không biết nhà vua còn bị những lời dối trá gây ảo tưởng và làm trò cười đến bao giờ .
   Nói láo bằng cách tạo ra huyền thoại cũng là sách lược của Hitler- nhà độc tài phát xít Đức -  Hitler cố tình dịch sai , hiểu lệch triết lý siêu nhân của Nieztche – triết gia của Đức . Bộ máy thông tin tuyên truyền của Đức Quốc xã  rao giảng  rằng dân tộc Đức là dân tộc siêu nhân , rằng chủng tộc Đức là chủng tộc ưu việt và rằng nước Đức xứng đáng làm bá chủ hoàn cầu .. Người dân Đức lúc bấy giờ bị nhồi nhét tư tưởng siêu nhân rồi tôn thờ Quốc trưởng Hitler như một vị thánh . Huyền thoại siêu nhân ăn sâu vào trong  huyết quản của dân Đức . Do vậy mà  khi xung trận lính Đức cứ tưởng mình là siêu nhân nên không sợ chết ; cũng vì thế mà Đức quốc xã đã chiếm gần hết Châu Âu .
  Ngoài sách lược tạo ra huyền thoại còn có bí quyết THAY ĐỔI CÁCH NÓI LÁO . Khi cảm thấy nói láo nhiều lần sợ người ta không còn tin nữa bèn nghĩ ra cách nói láo mới – kiểu bình mới rượu cũ .. Chú Cuội là nhân vật điển hình về xão thuật nầy .Cuội lừa gạt chú thím mình không biết bao nhiêu lần mà lần nào cũng thành công cũng là nhờ biết thay đổi cách nói láo tùy tình huống , tùy thời điểm , tùy hoàn cảnh , tùy địa điểm , không gian thích ứng .Vì vậy cho nên mới có thành ngữ nói láo như cuội , hứa cuội , …
 Một trong những hình thức thay đổi cách nói láo là đổi cách gọi tên sự vật , sự việc để đánh tráo khái niệm hay ý nghĩa của một danh từ , của một cụm từ vốn ổn định trong tự điển .. Để cho người ta dễ dàng tin theo mình trước một sự việc  nên phải đánh tráo một khái niệm nầy bằng một khái niệm khác .Ví dụ có một phóng viên nhà báo bào chữa cho hành vi nhận tiền hối lộ của một quan tham , anh ta dùng cụm từ hoa mỹ rối loạn cảm xúc !
Đánh tráo cụm từ ham tiền hám lợi bằng mỹ từ rối loạn cảm xúc !
  Gần đây lại xuất hiện cụm từ “ nhà ngoại cảm “thay cho từ “ thầy bói “, “ phù thủy “. Trong tự điển chỉ có các từ chiêm tinh gia , nhà tiên tri ,nhà toán số ( như Trạng Trình Nguyễn Bỉnh Khiêm )chứ không có từ “ nhà ngoại cảm “ .
 Các “nhà ngoại cảm “ nầy thi nhau tham gia tìm mộ liệt sĩ và được bộ trưởng LĐTBXH cấp giấy khen . Về sau , khi phát hiện hài cốt được tìm thấy chỉ là xương thú thì mọi người kinh hoàng cho cái láo đã đến mức thượng thừa ! Việc phát hiện sự vụ lừa dối nầy đã khiến cho bà bộ trưởng lấy làm bàng hoàng và vô cùng hối hận vì đã trot tin những kẻ lừa đảo  !
  Cũng trong những năm gần đây có một khoa học mới gọi là khoa học tiềm năng để thay cho “ khoa học huyền bí “ ( sciène mystère ). Nhà nước lại mở ra viện nghiên cứu ứng dụng tiềm năng con người với kinh phí đầu tư đáng kể .. Các nhà ngoại  cảm là thành viên , là học viên của viện nầy . Sự đánh tráo khái niệm nầy không biết sẽ còn gây ra hệ lụy gì nữa đây .
 Riết rồi sự dối trá lừa mỵ đã được xã hội hóa . Ngay trong nhà trường cũng không tránh khỏi . Dẫn học sinh đi  du lịch , dã ngoại thường được thay thế bằng cụm từ “ Về nguồn “ , “ Tìm hiểu lịch sử “ , vv…Người lớn không trung thực khó mà giáo dục trẻ con thật thà . Nhiều học sinh mang giấy khen giả về khoe với phụ huynh để vòi tiền . Thầy cô thì lập thành tích bằng cách nâng điểm  cho học sinh vô tội vạ , báo cáo không đúng thực trạng chất lượng  học sinh , tạo ra tình trạng vô số học sinh ngồi nhầm lớp .
    Thật là trớ trêu khi  vừa rồi có một phụ huynh phát hiện con mình ngồi nhầm lớp bèn đến nhà giáo viên chủ nhiệm " xin cho cháu được ở lại lớp vì tôi thấy học lực cháu học còn yếu quá  " . Cô giáo xanh mặt phản đối : Bảng điểm đây , anh xem đi , cháu đủ năm phẩy mà , làm sao ở lại lớp cho được !! Vậy đó , người ta đôi khi lại không dám chấp nhận sự thật ; bằng lòng và khư khư tin vào cả những dối trá do mình tạo ra .
 Trung thực là nét đẹp văn hóa , là thuộc tính của văn minh . Còn nhớ em bé Nhật 9 tuổi trong trận động đất sóng thần năm nào đã làm nhiều người kinh ngạc thán phục . Tại sao lại thán phục khi đó chỉ là một hành động đúng đắn tất nhiên của một con người có giáo dục ? Phải chăng xã hội ta đã nhiễu nhương đến mức phải kinh ngạc trước một sự việc bình thường của một con người văn minh !

Đất nước ta , dân tộc ta , vốn có truyền thống tín nghĩa từ rất lâu dời . Con đường hán học xuống dốc khiến cho  cái đạo của người quân tử bị mai một . Khái niệm người quân tử bị nhòe đi trong ký ức của mọi người .
 Con người chính nhân quân tử phải có đầy đủ các đức tính : nhân , nghĩa , lễ , trí , tín .. Trong đó chữ tín rất quan trọng về phương diện lập thân .. Bởi vì người xưa từng nói : Nhân vô tín bất lập ! Người quân tử nói ra điều gì mà họ có khả năng làm được , không nói suông , hứa suông : Quân tử nhất ngôn . Chính vì vậy mà người quân tử thường vô cùng cẩn trong trong lời nói của mình bởi vì nhất ngôn ký xuất tứ mã nan truy ! Trái lại những kẻ tiểu nhân thì lúc nào cũng ngoa ngôn xão ngữ !

Nói láo có thể thành công nhiều lần nhưng không thể thành công mãi được .. Bởi sự thật muôn đời vẫn là sự thật .Galilé bị giáo hội Ky Tô đưa ra tòa án dị giáo về tội đã nói trái đất quay , ngược lại với quan điểm của giáo hội  . Sau khi  phải tuyên bố theo những gì giáo hội bắt buộc ; ông mới được tha . Nhưng khi quay trở xuống dưới chỗ ngồi ông lại lẩm bẩm :“dù sao trái đất vẫn quay”. Thật là một con người chân chính !
   Nói láo - ngoài một số trường hợp nhân đạo như bác sĩ nói dối tình trạng bệnh của bệnh nhân – không những không thành công mãi được mà còn để lại những di chứng khôn lường cho nền văn minh văn hóa của cả dân tộc .



Thứ Năm, 5 tháng 12, 2013

Sư tử trùng thực sư tử nhục

 
 
    Sư tử là vua của các giống thú , mạnh mẽ , can đảm , oai nghiêm , mau lẹ , quyết đoán hơn các giống thú khác . Vì vậy nên các kinh giáo của nhà Phật thường ví Phật với sư tử , và tiếng thuyết pháp của Phật được ví như tiếng hống của con sư tử . Nếu tiếng gầm tiếng hống của con sư tử làm cho liệt não của các loài thú dữ thì pháp âm của Phật có thể hàng phục thiên ma , phá tan tà thuyết ác kiến . Chân lý của Đức Phật từ ngày được khai phá vén mở cách nay hơn 2500 năm , có thể bị hoài nghi , báng bổ bởi chính những người trong tăng đoàn , giáo đoàn của ngài ; cũng như con vi trùng trong thân của sư tử làm hại nhục thân của sư tử . Khi các tu sĩ không giữ nghiêm giới luật thì uy tín của đạo Phật sẽ xuống cấp . Nhất là vào thời mạt pháp , Phật giáo không còn là đạo giáo mà chỉ còn là hình thức tôn giáo . Và lúc bấy giờ giáo quyền sẽ rơi vào tay của thế quyền .

    Trong thời gian gần đây , qua các nguồn thông tin mạng , báo đài đã phơi bày tình trạng của nhiều vị sư phá giới . Xin đơn cử một số trường hợp sau đây :
  - Trường hợp của những thượng tọa đại đức tham gia các hoạt động chính trị như đại đức Thích Thanh Cường  . Đại đức  Thích Thanh Cường là ủy viên nghi lễ trung ương , chánh văn phòng Phật giáo tỉnh Hải Dương có lập trang  Facebook . Trên trang cá nhân ông đăng hình bản thân mặc áo tràng , đội mũ công an và chào theo kiểu quân đội . Nội dung trên fb còn có đăng bài hát " Như có Bác Hồ " nhân kỷ niệm ngày 30/4 . Và hình ảnh đại đức đại diện Phật giáo trao cờ cho bí thư tỉnh đoàn Hải Dương trong chương trình " Tô thắm màu cờ " ( tất cả 10 lá , mỗi lá 12 triệu ).
  - Trường hợp Thượng Tọa Thích Thanh Quyết với tư cách là đại biểu quốc hội lên án những người đấu tranh cho nhân quyền , dân chủ , ca ngợi nền an ninh chính trị , ca ngợi ngành công an và dùng từ "đồng chí" để gọi công an như là một cán bộ thực thụ .
  Ngoài ra còn một số trường hợp phá giới :
  - Một chú tiểu ở chùa Huỳnh Kim (Gò Vấp ) ham vui đi theo trang điểm cho các cô gái dự thi hoa hậu VN
  -Một ni cô ở Quảng Ninh đi thi " Việt Nam Idol "
  -Một thầy tăng đi xem ca nhạc nổi hứng lên sân khấu và xin được hôn môi ca sĩ
  Một số ni cô ở chùa Pháp Hải ( Bình Chánh ) hóa trang mặc quân phục trình diễn văn nghệ trong mùa " an cư "
-..vv..
   Tệ hại hơn nữa lại có sư vừa phạm giới vừa phạm pháp như mượn tiền tỷ của Phật tử đem sổ đỏ của nhà chùa đi cầm . Có sư đánh người , dời tượng gổ và thay tượng gỗ bặng tượng mới đúc giống mình . Có sư phạm giới dâm dục , rồi giết người ...
  Tất cả những sự vụ trên đây đã gây ra hậu quả gì và bắt nguồn từ nguyên nhân nào ?
  Về mặt hậu quả thì đã rõ : Phật tử thì hoang mang dao động , lòng tin Phật thì bị xoáy mòn lung lay mất hướng ; uy tín của tăng đoàn bị tổn thương , kẻ xấu có cơ hội báng bổ bôi nhọ .
  Thế còn nguyên nhân nguyên ủy của sự vụ trên là gì ?
  Trước hết ta có thể xếp có ba loại sư:
   * Một là loại vốn chân tu có tâm nguyện dấn thân nhập thế nhưng vì chưa đủ nội lực nên bị đời tục hóa .
 * Loại thứ hai là xuất gia đầu Phật với mưu toan mượn đạo tạo đời chứ không phải phát " Bồ đề tâm " .
  * Còn loại thứ ba là do thế quyền đặt để con người  vào giáo hội để khuynh loát , định hướng giáo hội đi theo con đường của mình .
  Cả ba loại trên đều được xem là giấy bạc giả của nhà chùa .Theo giáo  pháp của nhà Phật thì Phật pháp không lìa Thế gian pháp . Cả hai pháp giới nầy không lìa nhau như hai mặt của một đồng xu , như cùng một ly nước chanh - khuấy lên thì đục để lắng thì trong . Vì vậy cũng không thiếu những nhà tu hành chân chính vì tâm nguyện " tự độ , độ tha" mà phải dấn thân nhấp thế như thiền Sư Vạn Hạnh thời Lý . Sống trong hồng trần để thánh hóa cuộc đời mà không bị cuộc đời tục hóa . Thế nhưng môi trường văn hóa , tình trạng xã hội của Việt nam hiện tại đã tạo ra nhiều nghịch cảnh cho việc hoằng dương chánh pháp . Đó là tình trạng bất ổn trong xã hội : kinh tế khủng hoảng , tội phạm gia tăng .., đặc biệt quá nghèo nàn về văn hóa tâm linh . Bây giờ người ta tôn thờ chủ nghĩa kim tiền , chủ nghĩa thực dụng , coi đồng tiền có sức mạnh vạn năng . Thâm chí có người cho rằng  bây giờ người ta tôn thờ chủ nghĩa tồn tại thú vật . Những thắc mắc siêu hình , những băn khoăn khắc khoải về những vấn đề tâm linh , những trầm tư về lẽ sống chết  nhường chỗ cho những mưu cầu toan tính để thỏa mãn những nhu cầu sở hữu , nhu cầu quyền lực , nhu cầu lợi ích , nhu cầu trở thành người nổi tiếng ... Các bậc thang giá trị tinh thần bị đảo lộn . Sự băng hoại của xã hội đã xâm thực vào mảnh đất của nhà trường và len lõi cả vào chốn già lam tịnh xứ . Đó là một trong những nguyên nhân sâu xa gây ra tình trạng bát nháo , quái gỡ trong giới tu hành đã nói ở trên .
    Một nguyên nhân nữa không kém phần quan trọng là trong con mắt của nhà cầm quyền thì Phật giáo đơn thuần chỉ là một tôn giáo , một tín ngưỡng . Thật ra , ngoài hình thức tôn giáo , cốt tủy của đạo Phật là nguồn TUỆ GIÁC LỚN ( đại trí tuệ ) và một nguồn YÊU THƯƠNG LỚN ( đại từ bi ) . Tình yêu và trí tuệ của đạo Phật có khả năng giúp cho chính quyền chọn một con đường sáng , hóa giải mọi hận thù và sai biệt , mang lại hạnh phúc cho dân tộc . Vì coi đạo Phật chỉ đơn thuần là một tôn giáo nên nhà nước muốn chính trị hóa giáo quyền và thế tục hóa giáo hội . Từ đó sản sinh ra  " SƯ QUỐC DOANH" , GIÁO HỘI QUÓC DOANH . Đúng ra giáo quyền và thế quyền là hai thực thể tách biệt , không cần can thiệp vào nhau nhưng có thể giúp nhau về phương diện tâm linh , đạo đức . Ngày xưa Lý Thái Tổ giúp Phật giáo xây dựng chùa tháp tự viện ; ngược lại Sư Vạn Hạnh với tư cách là quốc sư chỉ bày cho vua về đường lối kinh tế , văn hóa , đạo đức và chính trị . Vua không kiểm soát giáo hội và thiền sư cũng không nhận một trách vụ gì trong guồng máy chính trị . Ngày nay các vị xuất gia lại bị mời làm đại biểu quốc hội , thành viên hội đồng nhân dân các cấp , vv... Đây là nguyên nhân khiến cho các nhà sư đánh mất oai nghi tế hạnh của người xuất gia . Ngày xưa cái lễ của quốc vương và cái lễ của pháp vương được phân định rạch ròi . Pháp vương không phải thi lễ đối với quốc vương . Có một câu chuyện thú vị như sau :Vào đời Tống ,Vương Tử nước Cao Ly là Nghĩa Thân sang Trung Hoa tìm hiểu Phật giáo Hoa Nghiêm Tông . Vua Tống sắc chỉ cho người đi đón rước trọng thị . Nghĩa Thân đến đâu thì đoàn rước rầm rộ đến đó . Nhưng khi đến Kim Sơn , thiền sư Phật Ấn chỉ ngồi mà tiếp nhận cống nạp . Dương Kiệt ngạc nhiên hỏi Phật Ấn , Phật Ấn đáp : " Nghĩa Thân là Vương tử  nước ngoài , nhưng luật của người xứ ta không phân biệt biên vực quốc gia , do đó không vì Nghĩa Thân là vương tử được triều đình tiếp đãi như như khách mà sư phải theo cách tiếp đãi của triều đình . Triết Tông biết việc đó rất khâm phục thái độ của Phật Ấn . Về sau vua mang chiếc áo của Cao Ly tặng cho Phật Ấn .
    Sư Việt Nam ngày nay tham gia chính quyền , nhận giấy khen , huân huy chương ...; thậm chí có sư đăng đàn thuyết pháp mà nói toàn chuyện chính trị , ... Những cụm từ " sư quốc doanh , giáo hội quốc doanh " rõ ràng cho ta thấy  Phật giáo chì còn là một thứ tôn giáo công cụ , một doanh nghiệp nhà nước . Ai cũng thấy  giáo quyền Vatican của Ki- tô giáo có một tổ chức giáo quyền nghiêm minh chặt chẻ . Các linh mục , cha xứ trên toàn thế giới phải tuân thủ theo luật lệ của giáo quyền Vatican .
      Phật giáo không có giáo quyền như nghiêm minh Ki- Tô giáo , vì bản chất của đạo Phật là nặng tính tự giác giác tha  . Ngay từ thời đức Phật còn tại thế , chỉ có tăng đoàn , giáo đoàn chứ không có giáo hội .
   Nếu nhìn đạo Phật như một đạo giáo , một triết lý nhân sinh , một cứu cánh giải thoát thì ta vẫn còn thấy có nhiều bậc chân tu đang âm thầm tu tập thiền định , trì chú tụng kinh niệm Phật , sống một cuộc đới phạm hạnh . Ngay cả những cư sĩ tại gia vẫn còn nhiều người chuyên tâm dịch kinh , trước tác làm giàu cho văn hóa Phật giáo .
  Trong một xã hội vàng thau lẫn lộn khó phân biệt được đâu là chân tu đâu là giả tu . Những giấy bạc giả của nhà chùa là những con vi trùng đục khoét thân thể của con sư tử . Chúng đã , đang làm mất uy tín của giáo hội ; làm mất niềm tin  của phật tử .
 
 Trong thời mạt pháp khó mà tránh được pháp nạn . Phật giáo không chỉ là một tôn giáo mà còn là một đạo giáo . Đã là đạo thì không bao giờ mất . Mất chăng là lòng người mất đạo . Đức Khổng Tử nói : " Đạo không xa người , chỉ có người làm cho đạo xa người ấy chẳng phải là đạo . " .Những giấy bạc giả của nhà chùa đã làm cho người xa đạo nhưng không thể thủ tiêu được đạo , không thể làm tắt tiếng gầm của con sư tử chánh pháp .
                     Sư tử hống hề phương thảo lục 
                      Tượng vương hồi xứ duyệt hoa hồng !

Thứ Hai, 4 tháng 11, 2013

Trầm tích





   Triều Đông Hải rền vang cơn sấm vọng 
   Thái Bình Dương dậy sóng buổi sơ khai 
   Nào ai biết giữa dòng sâu lắng đọng 
   Ngàn năm xưa trầm tích biết bao trai

Thứ Bảy, 21 tháng 9, 2013

Thu trong nhạc Trịnh

  Mùa thu là chất nghiện của những thi sĩ . Mùa thu cũng là chất nghiện của nhiều nhạc sĩ .Đề tài mùa thu cũng là nguồn cảm hứng sáng tác của nhiều nhạc sĩ nước ta  , nhất là nhạc sĩ ở miền Bắc  ; bởi miền Bắc có bốn mùa rõ rệt . Và mùa thu xứ Bắc mới có đầy đủ những sắc màu đặc trưng . Riêng với nhạc sĩ Trịnh công Sơn viết về mùa thu nặng về ý thu hơn là tô vẽ sắc màu của mùa thu . Sắc thu trong nhạc Trịnh cũng chỉ góp phần biểu đạt tâm thức , tâm cảnh của người nghệ sĩ .
    Tâm thức tâm cảnh của Trịnh công Sơn ( TCS ) là tâm thức tâm cảnh của một con người luôn luôn trầm tư về sự phôi pha của phận người và sự biến dịch của trời đất , của thiên nhiên tứ thời bát tiết : " bốn mùa thay lá thay hoa thay cả đời ta ". Anh đã từng "gọi tên bốn mùa " . Mùa nào cũng qua đi để rồi còn lại sự tàn phai - xóa sạch dấu vết :
                                         Rồi từ nay em gọi 
                                         tình yêu dấu chim bay
                                         gọi thân hao gầy 
                                        gọi buồn ngất ngây 
                                                 ( gọi tên bốn mùa )
Tình yêu dấu chim bay có lẽ là tình yêu chỉ còn trong ký ức . Và cứ thế xót xa mãi hằn lên " tuổi trời " . Bởi con người sinh ra là đủ già để chết :
                                         Trẻ thơ ơi trẻ thơ ơi
                                         tin buồn từ ngày mẹ cho mang nặng kiếp người 
                                                            ( gọi tên bốn mùa )

 Trong bốn mùa xuân hạ thu đông mùa thu là biểu tượng của sự tàn phai , hao gầy , héo úa . Đối với vòng quay của trái đất , mùa thu là mùa báo hiệu mùa đông lạnh giá . Đối với kiếp người , tuổi xế chiều tức là tuổi chớm thu .Bao nhiêu sầu thảm bi ai của đất trời đều đổ dồn vào tháng bảy : tháng bảy mưa ngâu , tháng bảy cô hồn ...Có một bài thơ Hán cổ diễn tả đêm đông nghe tiếng côn trùng mà lại sáng tác vào thời điểm mùa thu :
                                                     Đông dạ văn trùng 
                                        Trùng thanh động tứ khổ ư thu 
                                         Bất giác sầu nhân văn diệc sầu 
                                         Ngã thị lão ông khinh bất úy 
                                         Thiếu niên mạc thính bạch quân đầu 

       tạm dịch :               ( Trời đã thu rồi đông sẽ sang 
                                        Tiếng trùng vang vọng ý thu tàn 
                                        Kẻ vô tình cũng nghe sầu khổ 
                                        Lão giả an nhiên _ trẻ bạc đầu )

    Đinh Hùng , một nhà thơ đương đại  cũng có mấy câu buốt lạnh mang mùa thu tới :

                                       Trời đã thu rồi em ở đâu
                                       Nằm trong nấm mộ chắc em sầu 
                                      Thu ơi đánh thức hồn ma dậy 
                                      Ta muốn vào thăm nấm mộ sâu 

  Với âm nhạc TCS , mùa thu không chỉ có sắc màu héo úa , mà còn có nắng hồng làm tươi vui giai điệu :

                                     Em đứng lên mùa thu tàn tạ 
                                     Hàng  cây khô cành chơ vơ , hàng cây đưa em đi về giọt nắng nhấp nhô ...
 Trong ca khúc của Trịnh ngồn ngộn bóng nắng , màu nắng : Nắng của mặt trời buổi ngọ thiên , nắng long lanh , nắng nhè nhẹ . Bóng nắng , màu nắng trong ca khúc của TCS luôn là một nét lạc quan tích cực của nhạc sĩ trong cái nhìn tàn phai , biến dịch . Nắng là biểu tượng của khoảnh khắc hiện tại đáng sống  ngọt ngào mặc cho phận người lênh đênh , mong manh .
                                   Nhìn những mùa thu đi em nghe sầu lên trong nắng 
                                   ............................
                                  Rồi mùa thu bay đi trong nắng vàng chiều nay
                                  ...............
                                 Chiều cuối trời nhiều mây 
                                đơn côi bàn tay quên lối 
                                đưa em về nắng vương nhè nhẹ 

 TCS là một lãng tử rong chơi ca hát nghêu ngao và rêu rao cái điều đáng sống trong cõi đời phôi pha giả tạm . Anh đã từng tâm sự "mỗi ngày tôi gạn lọc mình để trở thành một ánh nắng tinh khiết vô nhiểm "
      Vậy nên :           Đêm chờ ánh sáng , mưa đợi cơn nắng 
                               Mặt trời lấp lánh trên cao vừa xa vừa gần 
 Nói đến sắc màu đặc trưng của mùa thu xứ Bắc là không thể quên " Nhớ mùa thu Hà Nội " . Mùa thu ấy có màu vàng của cây cơm nguội , màu đỏ của lá bàng , màu nâu của mái ngói , mùa hoa sữa , màu cốm xanh , màu vàng của mặt nước hồ Tây và màu sương lam của buổi sáng tinh mơ :
                               Hà nội mùa thu 
                              cây cơm nguội vàng ,
                              cây bàng lá đỏ 
                              nằm kề bên nhau phố xưa nhà cổ mái ngói thâm nâu
                             Hà Nội mùa thu muà thu Hà Nội
                             mùa hoa sữa về thơm từng cơn gió 
                            mùa cốm xanh về thơm bàn tay nhỏ ....
                           ............
                            Hà Nội mùa thu đi giữa mọi người ,
                            Lòng như thầm hỏi tôi đang nhớ ai 
                           Sẽ có một ngày trời thu Hà nội trả lời cho tôi...

    Lời nhạc tha thiết ẩn chứa một mối cảm hoài về một Hà Nội xa xưa, một cố đô có một ngàn năm sử lịch .
 Tuy nhiên trong ' Đoản khúc thu Hà Nội " niềm lạc quan phấn khích chợt hiện về trong khung cảnh phố nhòe mưa thu . Đó là bóng nắng long lanh , đó là môi má em hồng , đó là bàn tay ai ân cần trông chờ ai nơi phố xa: :
                              "Nhòa phố mong manh nhòe phố mưa 
                                Chợt nắng long lanh chợt nắng thưa 
                                 Bởi vì mùa thu tôi ở lại 
                                 Hồng má môi em hồng sóng xa
                                 Vì một bàn tay không ngần ngại 
                                Tặng hết cho tôi một phố chờ 

 Ta hãy nghe TCS tâm tình : " tôi không còn gì để chiêm bái ngoài nỗi tuyệt vọng và lòng bao dung . Hãy đi đến tận cùng của tuyệt vọng để thấy tuyệt vọng đẹp như một bông hoa . Tôi không muốn khuyến khích sự khổ hạnh nhưng mỗi chúng ta hãy thử sống cùng một lúc vừa là kẻ chiến thắng vừa là kẻ chiến bại . Nỗi vinh nhục đã mang ta ra khỏi đời sống để đưa nhau đến những đấu trường " .
        Trong cuộc sống nói chung và trong hoạt động sân khấu giải trí nói riêng đã sản sinh ra những tuýp người kiêu căng hiếu thắng muốn phô diễn cái tôi , muốn trở thành nổi tiếng .Trong khi đó TCScho rằng " vinh quang chỉ là điều dối trá " :
 Vậy nên:                  Đường xa mỏng mộng vô thường 
                               Trái tim chợt tỉnh tôi nhường nhịn tôi
 Hãy dẹp bỏ cái tôi đáng ghét để khỏi phải bị tách ra khỏi đời sống để khỏi dắt nhau đi đến đấu trường.
   Trong bài " chiếc lá thu phai' thể hiện rõ nét sự thức tỉnh của một đời nghệ sĩ trải qua quá nhiều vinh nhục thăng trầm :
                               Về đây đứng ngồi 
                               Đường xa quá ngại 
                              Để lòng theo chút nắng bên ngoài 
                              ........................
                             Chiều hôm thức dậy 
                             Ngồi ôm tóc dài 
                            Chập chờn lau trắng trong tay ...

Về ý thu , nhạc sĩ TCS có cái nhìn lạc quan tích cực . Đành rằng mùa thu là mùa héo úa tàn tạ thảm sầu song vẫn luôn luôn có những tia nắng hy vọng sưởi ấm lòng người :
                            Chiều đã đi vào trong mắt em 
                            Mùa thu qua tay đã bao lần 
                            Ngàn cây thắp nến lên hai hàng 
                            Màu nắng bây giờ trong mắt em 
  Nhạc sĩ liên tưởng từ điện đường thắp sáng đến hàng cây thắp nến và liên tưởng màu nắng là màu mắt em . Thật là một sự liên tưởng thú vị đầy ánh sáng . Sắc thu trong nhạc Trịnh không bế tắc như trong nhạc Đoàn Chuẩn :
                             Hoa lá tàn hàng cây đứng hững hờ 
                            Lá vàng từng cánh rơi từng cánh 
                            Rơi xuống âm thầm trên đất xưa 

           Trong cuộc đời của mỗi con người ai cũng đã từng hơn một lần nghe " mùa thu qua tay " ; " nghe lá rụng ngoài sân " , " nghe tên mình vào quên lãng ", " nghe tháng ngày chết trong thu vàng " ...
Quý hồ là làm sao " gạn lọc mình thành một ánh nắng tinh khiết vô nhiểm " 

                                                                           



Thứ Năm, 18 tháng 7, 2013

Hãy yêu trái tim mình


   Hãy yêu trái tim mình
  Đừng gây thêm thương tích 
  Giữ nhịp cho bình thường 
  Và chăm lo tưới tẩm 

  Mắt có khi được nhắm 
  Thân về đêm nghỉ ngơi 
  Tay chân được buông lơi 
  Nhưng tim chưa từng nghỉ 

  Tim làm việc cần cù 
  Siêng năng và nhẫn nại 
  Mãi miết không nghỉ ngơi 
  Để duy trì sự sống 

  Phổi có khi nín thở 
  Nhưng tim đâu ngừng đập 
  Miệng có lúc lặng thinh 
  Nhưng tim hoài co bóp 
  
  Khi tứ đại tan ra 
  Tim vẫn còn thoi thóp 
  Gõ mấy nhịp sau cùng 
  Bồi hồi lúc chia xa ?!

  Con người sao bất công 
  Chỉ lo thân đẹp xinh 
  Phóng tâm và vọng tưởng 
  Hành hạ trái tim mình 

  Khóc cười nơi đầu miệng 
  Vui buồn từ con tim 
  Gõ nhịp không bình thường 
  Làm cho tim suy nhược 

  Hãy tưới tẩm cho tim 
  Chăm lo từng hơi thở 
  Bằng tình yêu vô cầu 
  Vô tâm và vô nhiễm !

Thứ Tư, 5 tháng 6, 2013

Chùa Một Cột - một hợp sáng văn hóa dân tộc

  Theo Đại Việt sử ký toàn thư của Ngô Sĩ Liên thì chùa Một Cột  còn có tên là chùa Diên Hựu , Nhất Trụ Tự , Liên Hoa Đài  được xây dựng từ năm 1049Đại bảo nguyên niên do sáng kiến của vua Lý Thái Tông . Sáng kiến nầy nẩy sinh từ một giấc mơ : vua nằm mộng thấy Phật Quan Âm ngồi trên đài sen dẫn vua lên đài . Đến khi tỉnh mộng vua nói lại với triều thần , có người cho là điềm gở, chết yểu . Nhà sư Thiền Tuệ thì khuyên vua cất chùa , dựng cột đá , xây đài sen có tượng Quan Âm ở trên đúng như hình ảnh thấy trong mộng .Các nhà sư chạy đàn chung quanh cầu nguyện sống lâu nên đặt tên là chùa Diên Hựu ( dài lâu dòng giống ). Chùa Một Cột được trùng tu sửa chữa nhiều lần qua các triều đại . Lần trùng tu nào cũng trung thành với lối kiến trúc cũ . Chùa Một Cột được xác lập là kỷ lục châu Á về lối kiến trúc độc đáo . Trước năm 1975 , chính phủ miền nam Việt Nam chọn chùa Một Cột làm biểu tượng văn hóa dân tộc ; còn chính phủ miền bắc thì chọn làm một trong những biểu tượng của thủ đô Hà Nội . Nếu đặt chùa Một Cột trong bối cảnh lịch sử , bối cảnh thời đại , bối cảnh văn hóa thì chùa Một Cột là một hợp sáng văn hóa dân tộc - một  tổng hợp có sáng tạo của nhiều sắc thái văn hóa giao thoa trên đất Giao Châu ngày ấy và còn ảnh hưởng lâu dài đến nền văn hóa dân tộc trong các thời đại kế tiếp.

       I / Từ ý thức đến vô thức - Từ mơ đến thực
            Lý Công Uẩn là vị vua đầu tiên khai sáng nhà Lý tạo ra một thời đại hoàng kim trong lịch sử nước ta - một thời đại hoàn toàn độc lập tự chủ đối với phương Bắc ( dưới sự tư vấn của Quốc sư Vạn Hạnh ). Sau khi lên ngôi , Lý Thái Tổ dời đô về La Thành đổi tên là Thăng Long ( Hà Nội ngày nay ).Ngoài những công tích trong buổi đầu khởi nghiệp như thỉnh Đại Tạng Kinh  từ Trung Quốc , xác lập ngoại giao với Tống , xây chùa đúc chuông , tạc tượng , ...vỗ yên sự khuấy nhiễu của Chiêm Thành , còn có một việc vô cùng quan trọng là xây cung Long Đức ở ngoài thành cho Thái Tử ở . Nhà vua muốn cho lớp kế vị sau nầy sống chung cùng với dân thường để hiểu rõ nội tình của dân chúng .
  Thái Tổ mất , thái tử Phật Mã lên kế vị , hiệu là Thái Tông .Phật Mã là người có thiên tư đĩnh ngộ , thông lục nghệ , tinh thao lược ; thường thân chinh đi đánh nam dẹp bắc - nhờ vậy mà bờ cõi giới mốc ở phương Bắc được giữ yên , đất phương Nam được mở rộng . Ngoài việc sửa sang hình luật , bãi bỏ chế độ nô lệ , .. Thái Tông còn có một đóng góp rất lớn cho văn hóa dân tộc là xây chùa Một Cột . Thái Tông hiếm muộn con nên thường đi lễ chùa cầu tự . Giấc mơ thấy Phật Quan Âm dẫn vua lên đài là biểu hiện của vô thức tập thể (1). Nhân gian có câu " người làm sao chiêm bao làm vậy ". Người làm thì làm với ý thức danh lý ( noma-rupa), chỉ có chiêm bao mới thể hiện được cái toàn thể nhất quán . Ý thức hệ dân tộc thời Lý từ vua đến dân là ý thức vạn pháp quy nhất ( thiền tông ) - tri hành hợp nhất ( Tống Nho - Vương Dương Minh ) . Sư Vạn Hạnh chính là cái hồn của ý hệ nầy .Vạn Hạnh là một nhà sư nhập cuộc tích cực vừa lo đạo vừa lo đời , vừa nhập định theo lối thiền tông vừa tụng chân ngôn theo lối mật tông ; vừa hành động vừa thành lập cái toàn thể nhất quán để hướng dẫn hành động ; vừa xuất vừa xử , vừa đi ra thiên nhiên vừa đi vào sinh hoạt của quần chúng ; vừa dấn thân giúp đời vừa giữ được Không Lý ( Thánh hóa cuộc đời mà không để đời tục hóa ). Hành trạng cũng như tư tưởng của Vạn Hạnh là mạch nguồn di dưỡng ý thức lẫn tâm thức các nhà lãnh đạo quốc gia thời Lý .  Thái Tông vừa chăm lo cho xã tắc vừa mong muốn có hoàng tử để kế nghiệp truyền thừa vừa có đức tin tôn giáo ( Quan Âm Tống Tử - trong kinh Pháp Hoa ) . Tất cả lắng sâu vào vô thức rồi từ vô thức ảnh hiện thành giấc mơ . Chùa Một Cột có nguồn gốc từ một giấc mơ . Vô thức của nhà vua không hoàn toàn mang tính cá nhân mà còn là vô thức tập thể . Bởi vì cá nhân không sống riêng lẽ mà sống trong cộng đồng , hít thở chung một không khí của thời đại chịu ảnh hưởng của cả một môi trường văn hoá.
    II/ Môi trường văn hóa
   Nói đến văn hóa là nói đến sinh hoạt của con người trên mặt đất bao gồm một nội hàm rộng lớn : tư tưởng , tín ngưỡng ,phong tục , tập quán , chính trị giáo dục , tôn giáo triết học . Đất Giao Châu ngày ấy là ngã tư của các dân tộc và các nền văn minh  ( carefour de peuple et civilisation ) . Riêng về tôn giáo , tín ngưỡng có Phật Ấn và Phật Hoa du nhập vào Việt Nam bằng hai con đường vào những thế kỷ đầu công nguyên :
  _ Đường biển từ Ấn Độ qua cửa ngõ Chiêm Thành lập ra phái Nam Tông - Tiểu Thừa  theo kinh điển hệ Pali- Sanskrit
 _Đường bộ từ Trung Hoa qua qua biên giới Việt Trung lập ra phái Bắc Tông - Đại Thừa hệ Hán tự .
  Luy Lâu ( Bắc Ninh ) là trung tâm Phật giáo thời bấy giờ .
  Vinitracuci ( Tì- ni- đa- lưu- chi) là tổ sư thiền Việt Nam . Ngài đắc thiền từ tổ Tăng Xán ( tam tổ ) và được thầy khuyên sang phương Nam hoằng hóa , không nên ở lại Trung Hoa làm gì . Vinitracuci là người Ấn , đắc thiền với người Hoa và có thể hoằng hoá ở  đất Giao Châu chứng tỏ rằng tinh thần thuần túy tâm linh của người Ấn khó lòng dung hợp được với tinh thần nhập thế tích cực của người Hoa , và chỉ có đất Giao Châu mới là nơi đắt địa để thiền ra hoa kết trái . Bởi vì tâm lý của người Việt không quá duy lý như người Ấn , cũng không quá thực tế như người Hoa . Không quá duy lý vì có sẵn tín ngưỡng đa thần , không quá thực tế vì cần có một nguyên lý nhất quán để hướng dẫn hành động . Hơn nữa , do hoàn cảnh địa lý người Việt cần phải hành động để chống giặc ngoại xâm phương Bắc và mỡ rộng bờ cõi về phương Nam . Tất nhiên các vua nhà Lý phải có nhu cầu  toàn diện để lãnh đạo quốc gia dân tộc . Thiền hành động do đó có lý do để bén rễ thành tựu ở đất Giao Châu . Pháp Thuận , Khuông Việt , Vạn Hạnh là những thiền sư được truyền thừa từ Vinitracicu. Các vị nầy đã khơi mỡ dòng văn học chữ Hán , vừa giáo hóa chúng sanh vừa giáo dục đào tạo những công dân ưu tú cho đất nước . Công dân ưu tú nhất là Lý Công Uẩn . Lý Công Uẩn được sư Khánh Vân và Sư Vạn Hạnh dạy . Theo hai tác giả Quỳnh Cư và Đỗ Đức Hùng thì : " Lý Công Uẩn vốn thông minh bẩm sinh lại được nhập thân văn hóa ở một vùng đất văn minh văn hiến , lại được sự nuôi dạy của các vị cao tăng xuất chúng    . Lý Công Uẩn là người con ưu tú của dân tộc , ông đã cùng triều Lý làm rạng danh nước Đại Việt viết nên những trang sử oanh liệt về dựng nước và giữ nước " (2) .
   Vua Lý Thái Tông kế vị Lý Thái Tổ , tất nhiên đã từng hít thở không khí của thời đại đó , đã từng tắm gội trong môi trường văn hóa đó nên não trạng và tâm thức của nhà vua không thể không chịu ảnh hưởng của tiên triều . Giấc mơ Phật Bà Quan Âm dẫn vua lên đài sen khởi đi từ bình diện ý thức lắng sâu vào vô thức để rồi thị hiện bằng giấc mơ .

III/ Ý nghĩa biểu tượng của chùa Một Cột 
          Chùa Một Cột có ý nghĩa biểu tượng văn hóa dân tộc Việt Nam về nhiều phương diện .Về tư tưởng Vạn pháp quy nhất , tri hành hợp nhất ( hình ảnh một cột) . Về tín ngưỡng sùng bái Phật bà Quan Âm ( ý nghĩa Quan Âm , hình ảnh hoa sen ). Về tinh thần tam giáo đồng nguyên ( khoa thi tam giáo ) . Và đặc biệt là về sự dung thông , dung hóa Thiền - Mật - Tịnh ( qua triết lý Thảo Đường ).
   1/ Hình ảnh Một Cột tượng trưng cho tinh thần Vạn Pháp Quy Nhất 
      Hình ảnh Một Cột trong kiến trúc chùa Một Cột nói lên sự hợp nhất quy nhất : một quy về tất cả , tất cả là một ( nhất tức nhất thiết , nhất thiết tức nhất ). Vạn pháp quy nhất là tư tưởng căn bản của các thiền sư thời Lý ( Nhất thiết pháp giai thị Phật pháp ) là yếu chỉ của kinh Hoa Nghiêm ; là tinh thần của kinh Bát Nhã ( vạn pháp giai không ); là tinh mật của kinh Kim Cang ( bản vô nhị pháp , vạn pháp nhất như ). Nhu cầu về cái toàn diện đã thôi thúc các vua nhà Lý trung thành và thực thi tư tưởng vạn pháp quy nhất của Vạn Hạnh quốc sư . Từ đây không còn ngần ngại bởi những cực đoan như tri và hành , xuất và xử , cá nhân và xã hội , thiên nhiên và con người  . Vua Lý Nhân Tông đã xưng tán thiền sư Vạn Hạnh trong bài thơ sau :
                              Vạn Hạnh dung tam tế
                             Chân phù cổ sấm thi 
                             Hương quan danh Cổ Pháp
                             Trụ tích chấn vương kỳ
 Một cột trong kiến trúc chùa Một Cột nói lên sự hợp nhất quy nhất trong thiền tông . Thiền không phải là tư tưởng về thực tại mà chính là thực tại sinh động .Thực tại không xa rời các các hiện tượng của sự sống cũng như nước không rời sóng . Chính vì vậy các lãnh đạo nhà Lý đã phải vận dụng thực tại thiền , tâm thức thiền để kết nối những những hiện tượng trót đã phân ly thành cái thống nhất rồi lấy cái toàn diện thống nhất ấy quán sát ra bên ngoài để soi sáng thực tế , hướng dẫn hành động . Về điểm nầy thiền gần với Khổng Tử : "Ngô đạo nhất dĩ quán chi" , dùng cái hợp nội ngoại chi đạo , nội thánh ngoại vương để lãnh đạo xã hội , chăn dắt trăm dân .
2/ Ý nghĩa hoa sen và hình ảnh Quan Âm Bồ Tát
 Chùa Một Cột khởi thủy được xây dựng do sáng kiến của Lý Thái Tông ( 1049 ) . Đến năm 1058 vua Lý Thánh Tông cho trùng tu , giữ nguyên dấu cũ và có thêm ý mới . Ý mới ở đây là cho dựng lầu chuông một cột sáu cạnh hình hoa sen( Độc Trụ Lục Giác Liên Hoa Chung Lâu ) . Do vậy , từ một góc nhìn mới ta có thêm ý nghĩa biểu tượng của chùa Một Cột trong mối tổng hòa của văn hóa dân tộc . Nhưng trước hết cũng nên tìm hiểu về vua Lý Thánh Tông.
  Thái Tông mất , Thái tử Nhật Tôn vâng di chiếu lên ngôi trước linh cữu của cha , hiệu là Thánh Tông . Sử chép : Mai Thị hoàng hậu mộng thấy mặt trăng vào bụng , có mang sinh ra vua ở cung Long Đức , đặt tên là Nhật Tôn . Lớn lên , vua thông kinh truyện , sành âm luật , nhất là sở trường về võ lược " . Nhờ sống ở cung Long Đức 27 năm trước khi lên ngôi nên Thánh Tông thấu hiểu dân tình , cảm thông nỗi thống khổ trong dân gian . Trong cuốn " Lý Thường Kiệt " nhà bác  học Hoàng Xuân Hãn đã có nhận định : " Thánh Tông là vua ta đầu tiên có óc lập một đế quốc , có danh ngang với một nước thiên tử , vua đặt quốc hiệu là Đại Việt , tôn các vua trước là Thái Tổ , Thái Tông,coi các nước nhỏ là chư hầu và muốn ngăn cấm Chiêm Thành thần phục Tống  " . Thánh Tông có đủ ba đức tính bi- trí- dũng của một tín đồ Phật giáo :  Về bi , nhà vua có lòng bi mẫn đối với các tù phạm bị giam trong ngục lạnh nên sai ban cho tù nhân chăn chiếu ; xuống lệnh đốt bỏ hình cụ .. Vua cũng rất thương xót người dân vì vô minh lầm lỡ , thiếu hiểu biết mới phạm luật nên cũng ban lệnh khoan giảm cho tù phạm . Về mặt trí năng , vua thông kinh truyện , sành âm luật , sở trường võ lược . Mặc dù là tín đồ nhà Phật song vua rất chuộng Nho , thờ Thánh ; mở khoa thi tam giáo để chọn người tài . Thánh Tông còn là một kiến trúc sư lỗi lạc : tất cả các kiến trúc thời Lý đều được xây dựng theo đồ họa của nhà vua . Về dũng, năm 1069, vua cùng với Lý Đạo Thành thân chinh đi đánh Chiêm Thành . Thánh Tông là một vị vua có sự khôn ngoan của nhà hiền triết , có lòng can trường của một chiến sĩ , có sự hòa hợp tiết độ của một đạo gia và có lòng nhân đức công chính của một nhà chính trị .
   Về một cột trụ sáu cạnh hình hoa sen, trên cột trụ nở ra tòa sen , trên tòa sen có tượng Phật Quan Âm , có nhiều ý nghĩa biểu tượng sau đây :
  Trước hết là việc vua bốn  mươi tuổi chưa có con nên đi khắp các chùa để cầu tự . Đến chùa Dâu thuộc làng Siêu Loại  ( Bắc Ninh ) gặp một cô gái quê tên là Ỷ Lan vừa cắt cỏ vừa hát , bèn tuyển làm cung phi . Ỷ Lan sau khi sinh ra Càn Đức ( Nhân Tông ) thì được tôn làm nguyên phi .
 Còn Hoa Sen thì tiếng Phạn là Padma , biểu tượng của sự thuần khiết vô nhiểm và sinh hóa hồn nhiên . Cũng như hoa sen , bản chất tâm linh của con người là vô nhiểm .Mật Tông Tây Tạng xem trái tim con người như một đóa sen hàm tiếu - khi giác ngộ thì hoa nở thấy Phật .Hình ảnh hoa sen trong tư tưởng đại thừa được Phật thuyết qua kinh Diệu Pháp Liên Hoa . Trong kinh nầy Phật nói về phương tiện quyền xảo ; Bồ Tát Quan Âm có lòng bi mẫn rộng thương chúng sanh trong vòng tục lụy bùn nhơ mà vẫn giữ được đức hạnh thanh cao ( gần bùn mà chẳng hôi tanh mùi bùn ) .
   Sự kiện Ỷ Lan xuất thân từ tầng lớp bình dân chân bùn tay lấm lại được tôn lên địa vị nguyên phi cũng cùng một ý nghĩa với hoa sen trong bùn . Ỷ Lan lại có khả năng thay vua trị nước , vỗ yên bá tánh , cảm hóa lòng dân , thương dân như mẹ thương con . Ỷ Lan lại sùng kính đạo Phật ; bà cho đúc chuông Quy Điền nặng một vạn hai nghìn cân đặt tên là Giác thế Chung ( chuông cảnh tỉnh người đời )( 3)
   Ỷ Lan được dân chúng yêu thương kính ngưỡng và suy tôn là Quan Âm Nữ . Từ giấc mơ Thái Tông mộng thấy Bồ Tát Quan Âm dẫn vua lên đài đến Thánh Tông đi lên chùa cầu tự gặp được Ỷ Lan sinh ra Càn Đức ( Nhân Tông ) khiến ta liên tưởng đến đoạn kinh Pháp Hoa ( Phẩm Phổ Môn ) : " Nếu có người phụ nữ muốn cầu con trai hãy lễ lạy cúng dường Quan Âm Bồ Tát thì liền sinh con trai phước đức trí huệ ". Xem vậy , ý nghĩa hoa sen , hình ảnh Phật Bà Quan Âm là cụ thể hóa tín ngưỡng , sùng bái không riêng gì của các vua chúa mà còn len lõi khắp chốn dân gian . Sùng bái Bồ Tát Quan Âm là tín ngưỡng quốc gia cũng có nghĩa là tôn thờ nguyên lý mẫu sinh thành dưỡng dục sinh sôi nẩy nở . Chính vì lẽ đó mà quần chúng dân gian tôn Ỷ Lan là Quan Âm Nữ và còn đồng hóa Ỷ Lan với cô Tấm trong truyện cổ tích Tấm Cám có nguồn gốc từ Ấn Độ . Trên núi Giạm ở Bắc Ninh , cạnh ngôi chùa Hàm Long thờ thần phi Ỷ Lan có một ngôi mộ đôi : một bên thờ cô Tấm , một bên thờ cô Cám .
    IV/ Từ chùa Một Cột đến triết lý Thảo Đường 
     Trong khi thiền hành động chưa làm hết sứ mạng lịch sử của mình thì thiền sư Vô Ngôn Thông đem dòng thiền Tào Khê ( Huệ Năng )vào Việt Nam , mở màn cho một cuộc xâm nhập ngoại lai vào đất Giao Châu khiến cho thiền Việt Nam dần dần thành độc tôn sở hữu của một số trí thức lấn át con đường tình cảm , con đường hành động . Cho nên  , giữa tầng lớp trí thức bác học và tầng lớp nông dân  có một hố ngăn cách . Đứng trước tình cảnh nầy , Thánh Tông với tư cách lãnh đạo quốc gia phải hành xử ra sao để đáp ứng nhu cầu toàn diện vốn có , đồng thời thống nhất ý chí trong mọi tầng lớp nhân dân ?
  Cho nên, sau khi trùng tu chùa Một Cột , nhà vua thành lập một tông phái mới lấy tên là Thảo Đường . Bởi một nền chính trị dù có định chế pháp quyền hẳn hoi , có cơ cấu tổ chức chặt chẽ cũng khó tránh khỏi một chế độ pháp trị thuần lý cứng nhắc . Trong khi đó đại chúng bình dân lại tha thiết với con đường tình yêu mà sự thể hiện là tín ngưỡng sùng bái , cầu vào tha lực để được thăng hoa , chuyển hóa .Nhân một cuộc chinh phạt Chiêm Thành , Thánh Tông bắt được một nhà sư trên đất Chiêm tên là Thảo Đường đem về làm tù binh và giao cho quan Tăng Lục quản lý  ( Tăng Lục là vị quan cao nhất trong hàng ngũ tăng thống ) . Một hôm quan Tăng Lục đi vắng , để quyển Ngữ Lục đang viết dở trên bàn ; tình cờ Thảo Đường đọc được và sửa sai mấy chỗ  . Quan Tăng Lục biết được hết sức  sững sốt . Thánh Tông hay tin vô cùng nể phục và tôn Thảo Đường lên làm quốc sư . Qua nhiều cuộc trò chuyện vua nhận thấy ở nhà sư nầy về mặt tư tưởng có thể đáp ứng được nhu cầu toàn diện của dân tộc . Thế là tôn phái Thảo Đường ra đời . Đại để tôn chỉ của tôn phái nầy là chủ trương hóa giải mọi dị biệt gây ra bởi vô minh và kiến chấp . Nguyên tố điều động cho cuộc hóa giải nầy là tình yêu . Lòng bi mẫn của chư Phật và chư Bồ Tát là niềm tin xác tín trong mọi chúng sanh dù ở bất cứ trình độ nào . Ta hãy nghe lời cảnh sách của hòa thượng Thảo Đường : " Con đường tu hành không phải chỉ một mà có ba đường chính : Tham thiền , niệm Phật , tu quán . Thiền vốn không có cửa vào nhất định , nếu không đủ căn bản tâm linh thì phần nhiều rơi vào lầm lạc , trọn đời trôi nổi khó mà giác ngộ . Còn pháp Quán Tâm thì tế vi nếu không có trí huệ bát nhã thì khó tiến bộ được . Chỉ có lối Niệm Phật thì rất mau lẹ tiện lợi từ xưa đến nay , người thông minh hay ngu độn cùng tu , đàn ông hay đàn bà đều chuộng . " Thánh Tông vừa là người khai sáng cũng là người đứng đầu tông phái nầy . Việc lập ra phái Thảo Đường xuất phát từ nhu cầu thống nhất ý chí quần chúng , đoàn kết mọi tầng lớp nhân dân  không phân biệt kẻ trí người ngu . Sáng lập ra phái Thảo Đường cũng nằm trong ý hệ vạn pháp quy nhất ; lại rộng mở và dung hóa được sự dị biệt giữa thiền -mật - tịnh. Sau nầy Lý Nhân Tông thừa hưởng được sự nghiệp của vua cha , thụ hưởng được âm đức của thái hậu Ỷ Lan cọng với lòng trung tín của thái sư Lý Đạo Thành , lòng dũng lược của Lý Thường Kiệt đã viết nên một trang sử oai hùng nhất trong lịch sử nước nhà  ( Bắc đánh Tống , Nam bình Chiêm ).

                                                                          *    *
                                                                             *

      Chùa Một Cột được xây dựng do sáng kiến của Lý Thái Tông , đã qua nhiều lần trùng tu sửa chữa và lần trùng tu nào cũng giữ nguyên trạng . Điều đó chứng tỏ rằng tinh hoa văn hóa cổ truyền không bị xóa nhòa qua các cuộc bể dâu của thời thế . Qua đến đời nhà Trần chùa Một Cột lại được trùng tu ( 1249 ). Dưới thời nhà Lê , Trần Bá Lãm có bài thơ vịnh " Nhất Trụ Tự " :
                                 Xóm hoa trong thành , chùa trong xóm
                                Danh là Diên Hựu , Lý triều xây
                               Trong cung hòa hợp mộng hoàng tử 
                               Bồ Tát Quan Âm mới linh thay 
       Năm 1954 , trước khi rút quân tháo chạy ,Giặc Pháp đã  giật mìn cho nổ tung chùa Một Cột . Sau đó , khi về tiếp quản thủ đô Hà Nội , bộ văn hóa của chính phủ Việt Nam dân chủ cộng hòa  liền cho trùng tu chùa Một Cột và vẫn theo kiến trúc cũ . Chùa Một Cột là một tổng hòa có sáng tạo vừa phong phú vừa toàn diện giữa nhiều sắc thái văn hóa giao thoa : Nho , Phật , Lão , Chiêm Thành , Trung Hoa , Ấn Độ . Sở dĩ có sự  thành tựu thập thành kỳ vĩ như vậy là nhờ tinh thần vạn pháp quy nhất mà hình ảnh biểu trưng là một cột . Xét về phương diện nghệ thuật , chùa Một Cột được đứng đầu trong mười kỷ lục văn hóa Phật giáo Việt Nam ; hơn thế nó còn  được  xác nhận kỷ lục độc đáo nhất châu Á  . Theo ý kiến của kiến trúc sư Nguyễn Bá Chi thì : " Về mặt ý nghĩa cổ tích và kiến trúc ngôi chùa Một Cột nầy được coi như là viên ngọc nghệ thuật Việt Nam . Tuy diện tích nhỏ nhắn nhưng nó được xứng đáng với danh tiếng của nó"  .Tóm lại , cả về ý nghĩa biểu tượng lẫn giá trị nghệ thuật thì chùa Một Cột xứng danh là biểu tượng văn hóa của dân tộc . Phải chăng đó cũng là quốc hồn quốc túy của dân tộc Việt Nam !!  . Điều đáng tiếc là ngày nay chùa bị xuống cấp nghiêm trọng và có nguy cơ sụp đổ ( xem tại đây )
   Hy vọng rằng dự án trùng tu chùa Một Cột được hoàn thành theo nguyên trạng để một biểu tượng văn hóa của nước Việt mãi mãi được trường tồn .


Chú thích :

(1) l'inconscience collective , chữ dùng của nhà phân tâm học Joung
(2) trích trong cuốn " các triều đại Việt Nam " của Quỳnh Cư và Đỗ Đức Hùng
(3) Gọi tên là chuông Quy Điền là vì chuông nặng quá không đưa lên được lầu chuông nênđặt trên một đám ruộng , đám ruộng nầy có nhiều rùa . Chuông quy điền là một trong tứ đại pháp khí của Phật giáo ( Tháp Bảo Thiên , Chuông Quy Điền , Vạc Phổ Minh , Tượng Quỳnh Lâm )