Thứ Sáu, 12 tháng 2, 2016

Năm khỉ nghĩ về tập tính bắt chước của loài khỉ

           
     
 
      Tập tính của loài khỉ là hay bắt chước . Bắt chước cũng là một trong các thuộc tính thuộc về trí năng của con người . Nhưng nếu con người bắt chước một cách thiếu thông minh thì chẳng khác gì Vượn học tiếng người . Cách đây 90 năm chí sĩ Phan Bội Châu đã phê phán nền tây học lúc bấy giờ " Tới bây giờ , tuy là hình thức học đường  khác học đường khoa cử ngày xưa rất nhiều , dáng vẻ bên ngoài hình như vừa mắt , nhưng xét đến tinh thần cốt tủy có khác gì vượn học tiếng người . Đạo đức cũ đã sạch sành sanh , và văn hóa mới lại chẳng có chút gì dây vướng ở học đường "

  Đã non một thế kỷ mà những chuyện " khỉ gió " thời bây giờ chẳng khác chi chuyện " khỉ gió  "thời bấy giờ . Chuyện thời bây giờ hình thức học đường tuy có cách tân rất nhiều về kỹ thuật , về kế hoạch , về tổ chức học chánh vv...nhưng hồn cốt thì chẳng khác chi " vượn học tiếng người " . Trần tế Xương - người đồng thời với chí sĩ Phan Bội Châu chế diễu cái kiểu duy tân , cải cách kệch cởm , nhố nhăng thời bấy giờ :
  " Gặp ba ông Táo dạo chơi xuân
Đội mũ mang hia chẳng mặc quần
  Trời hỏi làm sao ăn mặc thế ?
Thưa rằng hạ giới nó duy tân !
 Tú Mỡ họa lại bài thơ trên làm tăng thêm nét trào phúng cay độc :

 " Thưa rằng hạ giới nó duy tân
Chỉ có trên đầu với dưới chân
Trong bụng chứa nguyên điều hủ bại
Xin trời đại xá bọn ngu dân !

Nhận định của nhà chí sĩ họ Phan quả là tiên tri ! Gần một thế kỷ sau , cái học ngày hôm nay về da dẻ hình thức bên ngoài trông thật chỉn chu đẹp mắt song " trong bụng chứa nguyên điều hủ bại ", Duy tân theo kiểu bắt chước một cách dại dột thiếu ý thức thì chẳng khác nào " vượn học tiếng người " Ngày ngày nhí nhố nhộn nhịp diễn ra quan chức mặc đồ Tây , đi xe Tây , ăn cơm Tây , uống rượu Tây , xài tiền Tây , ...nhưng rất ít người là  con người mới ! Văn hóa mới cũng "chẳng có gì dây vương ở học đường ". Trong khi đó đạo đức cũ đã sạch sành sanh "
 Vượn học tiếng người là chỉ lối bắt chước dại dột và nguy hiểm của con người . một câu chuyện vui kể về sự bắt chước của khỉ dẫn đến sự tự hại mình : " Có một con khỉ của người hàng xóm của  anh thợ giày ; hàng ngày thường hay lén nhìn  qua cửa sổ tiệm giày để xem anh thợ cắt da . Nó nhìn thấy anh thợ giày lấy dao cắt da để làm giày  . Chớ lúc anh ta đóng cửa đi ăn cơm , nó chui vào và bắt chước cắt nát hết các tấm da trong tiệm . Đi ăn cơm về , anh thợ giày biết ngay thủ phạm . Lợi dụng tính hay bắt chước của khỉ , anh buộc tấm da vào cổ -dưới da có chèn miếng sất - xong anh đưa dao cắt vào tấm da trên cổ mình . Sau đó anh đóng cửa tiệm đi về .Hôm sau trở lại , quả nhiên anh ta thấy con khỉ bị chết ngả lăn vì đứt cổ !

   Thấy ai làm gì mà mình bắt chước làm nấy mà không biết suy nghĩ , chọn lọc để áp dụng cho thích hợp  thì thật là dại dột và nguy hiểm như chú khỉ đáng thương kia
Nền giáo dục của ta hiện nay tự mình nhổ ra khỏi gốc rễ của truyền thống để rồi mô phỏng rập khuôn theo nước ngoài chẳng khác nào ghép một nhánh cây vào một cái gốc cây không cùng chủng loại . Hậu quả là " đạo đức cũ đã sạch sành sanh và đạo đức văn hóa mới chẳng có gì dây vướng ở học đường " . Đạo đức cũ ở đây là đạo đức Khổng Mạnh với tam cương và ngũ thường . Để cho con người xứng đáng là người thì không thể thiếu " nhân , nghĩa , lễ , trí , tín " . Và để trở nên con người hiền lương , tử tế thì con người ấy phải đầy đủ tám đức tính : hiếu , để , trung , tín , lễ , nghĩa , liêm , sĩ . Bất luận học thuyết đạo đức nào , chủ nghĩa gì cũng không thể rũ sạch những đức tính trên , nếu muốn giáo dục con người thành tử tế ! Bắt chước , mô phỏng theo cái học của người một cách tùy tiện để rồi loại bỏ những tinh hoa cố hữu của mình là lai căng mất gốc . Một nền giáo dục như vậy chỉ có thể đào tạo ra những  lãnh đạo yếu kém , những cán bộ vừa thiếu khả năng chuyên môn lại vừa thiếu đạo đức ; những đứa con bất hiếu , những người dân bất trung .

   Vừa qua , dự thảo chương trình giáo dục phổ thông của Bộ GD& ĐT đã có dự kiến tích hợp môn Lịch Sử với môn Giáo dục công dân và An ninh Quốc phòng thành môn Công dân và Tổ Quốc . Một việc làm trái khoáy như vậy thế mà có chuyên gia ở Bộ lại cho rằng " Các nước làm như thế và Việt Nam cũng nên làm theo " .

   Hiện nay , nhiều trường phổ thông ở nhiều địa phương có khuynh hướng coi nhẹ môn Tiếng Việt và thường dồn hết tâm sức cho môn Tiếng Anh . Đây cũng là kiểu bắt chước các nước muốn hội nhập vào văn minh thế giới . Chú trong vào môn ngoại ngữ là không sai song xem thường tiếng mẹ đẻ là một việc làm sai lầm có nguy cơ làm con cháu mất gốc .

    Giáo dục có một nhiệm vụ kép : vừa vun bồi , kế thừa tinh hoa văn hóa của ngày hôm qua vừa tiếp thu có chọn lọc tinh hoa văn hóa thế giới . Ngoài ra , giáo dục phải có sức đề kháng , đào thải sự xâm nhập của văn hóa ngoại lai . Hơn nữa , giáo dục cần phải có nhiệm vụ cảnh giác trước sự cưởng ép , thống trị của văn hóa ngoại lai . Sự xâm nhập văn hóa ngoại lai vào một quốc gia chẳng khác nào một vật lạ trong cơ thể người ...

       Khỉ là một  loài vật thông minh nổi trội hơn các loài vật khác . Năm Bính Thân - năm con khỉ -mong sao năm nay sẽ xuất hiện một "Thạch Hầu "( với 72 phép thần thông biến hóa )
để triệt phá những cái nhố nhăng trong xã hội đồng thời phục hoạt lại nền văn hóa cổ truyền của dân tộc bên cạnh những giá trị văn minh phổ quát của nhân loại !

Thứ Hai, 25 tháng 1, 2016

NGHĨ VỀ TRIẾT LÝ HÀNH ĐỘNG CỦA BÀ AUNG SAN SUU KYI

   
     
         
     Bà Aung San Suu Kyi - nhà đấu tranh chính trị kiệt xuất của đất nước Miến Điện - đã đấu tranh không mệt mõi cho tự do , dân chủ suốt 20 năm - đã đạt được thắng lợi vinh quang và ngọt ngào êm thắm !Triết lý hành động của bà được gói gọn  trong câu nói : "  Chỉ có sự sợ hãi mới là nhà tù thật sự và chỉ có tự do  thật sự khi giải phóng được sự sợ hãi " ( The only real prison is fear and the only real freedom is freedom from fear)

    Dưới ánh sáng của triết lý Phật giáo , bà San Suu Kyi đã trang bị cho mình một tư duy chân xác về nguyên nhân gây ra thảm hoạ cho con người . Trước sự nô lệ của con người , thảm hoạ bắt đầu từ  sự sợ hãi của chính con người . Sự sợ hãi tạo ra một nhà tù ảo giác cho  chính mỗi cá nhân , mỗi công dân trong một chế độ độc tài .Và , chỉ khi nào giải thoát được nỗi sợ hãi đó mới có tự do thật sự .
  Nói thì dễ mà làm thì không dễ . Làm thế nào có thể vượt thoát nỗi sợ hãi đã trở thành thâm căn cố đế . Sợ hãi thuộc về chủng tử bản hữu , tiên thiên trong mỗi con người . Khi sinh ra là đã biết sợ hãi . Vấn đề đặt ra là mỗi cá nhân phải tự đấu tranh để vượt thoát khỏi bản năng cố hữu đó . Càng sống càng va chạm với cuộc đời , với xã hội , càng nẩy sinh bao nỗi sợ hãi dưới nhiều hình thức khác nhau . Nếu chẳng may sống trong một xã hội đảo điên , một thể chế chính trị hà khắc thì nỗi sợ hãi sẽ trở nên luỹ thừa .
   Thế nhưng , nguyên nhân nào gây ra thảm hoạ sợ hãi ? Nguyên nhân gây ra mọi thảm hoạ chính là vô minh . Đối trị với vô minh là chánh kiến , chánh tư duy . Bà Aung San Suu Kyi đã tư duy về sự sợ hãi từ tứ diệu đế ( 4 chân lý vi diệu về thực tại ) của nhà Phật . Sau khi thành Phật , Đức Thích Ca đã rời gốc bồ đề , đến vườn Lộc Uyển để thuyết pháp cho 5 anh em Kiều Trần Như  về bốn chân lý vi diệu nầy . Đây là bài thuyết pháp đầu tiên của Ngài . Bốn chân lý ấy là khổ - tập - diệt - đạo.  
   Khổ : hiện trạng thực tế của kiếp người
  Tập : nguyên nhân gây ra đau khổ
  Diệt :trạng thái được giải thoát sau khi hết khổ 
  Đạo :con đường , phương pháp tu tập để được giải thoát .
       Riêng về chân lý thứ nhất ( khổ đế ) , Đức Phật dẫn ra các  hình thái khổ đau của kiếp người : Sinh khổ , lão khổ , bệnh khổ , tử khổ , cầu bất đắc khổ , ái biệt ly khổ ,  oán tắng hội khổ .
     Bà San Suu Kyi với tư cách là nhà hoạt động xã hội , nhìn cuộc đời bằng con mắt thương cảm và tấm lòng trắc ẩn cho rằng : " Bất cứ nỗi khổ nào bị bỏ qua thì nơi đó có mầm mống xung đột . Bởi vì nỗi khổ sẽ làm cho con người sa đoạ , thù hận và bạo hành " .Một xã hội có nhiều hận thù và bạo hành sẽ gây ra biết bao nỗi sợ hãi . Con người ta sợ hãi trước cái chết đã đành , mà cả trong lúc sống cũng nơm nớp lo sợ đủ điều :  Sợ giả , sợ bệnh , sợ nghèo , sợ mất việc ,...Vậy làm thế nào để đối trị với nỗi sợ hãi để thoát ra khỏi nó ? Nhà Phật đề cao hạnh vô uý (không sợ hãi ). Một trong những nỗi sợ khủng khiếp nhất là sợ tù tội , mất tự do . Bà San Suu Kyi cho rằng không có nhà tù thật sự mà chỉ có sự sợ hãi mới là nhà tù thật sự ; và chỉ có tự do  thật sự khi giải phóng được sự sợ hãi . Sợ hãi là nhà tù ảo ảnh khiến con người bị nô lệ chính mình . Trước sự nô lệ của con người đòi hỏi mỗi chúng ta phải đấu tranh với chính mình , phải tu tâm rèn chí , phải kiên định chí khí để thoát khỏi sợ hãi . Một trong những thuộc tính của hạnh vô uý là sự can trường dũng lược . Nhật Bản là một dân tộc can cường với truyền thống võ sĩ đạo . Sau chiến tranh thế giới , Nhật Bản được vực dậy một cách nhanh chóng là nhờ triết lý nhân- trí - dũng . Việt Nam ta  vào thời Lý cũng đề cao bi- trí - dũng . Bi , trí , dũng có mặt đồng thời , tương liên , tương tác trong một con người toàn diện . Bi , trí , dũng chẳng phải là ba thành phần đối nghịch tách bạch ; mà là ba mặt của cùng một thực tại : Trí chỉ là trí khi nào có bi và dũng đi cùng . Bi đích thực  là bi khi được trí soi sáng và dũng trợ lực . Dũng đúng là dũng khi có sự điều hướng của bi và trí .
Vì vậy , người được mệnh danh là trí thức chính là con người có lòng trắc ẩn , đồng thời có can đảm đứng lên tranh đấu cho sự thật mà lòng không bị ngăn ngại bởi sợ hãi ;dù cho có gặp nguy hiểm cho bản thân vẫn không bị thối chuyển ;  quyết tâm thực hiện chí nguyện giúp người cứu đời .
        Con người sỡ dĩ sợ hãi vì do có nhiều chướng ngại , chấp trước : chấp thủ , chấp hữu , chấp danh , chấp ngã . Trong kinh Tinh yếu Bát Nhã Ba La Mật Đa ,  Bồ Tát Quán Tự Tại trao cho con người một món quà quý giá - đó là món quà vô uý . Sợ hãi , hận thù , bạo hành là sản phẩm của ảo giác,vọng tưởng , điên đảo do tri giác sai lầm gây ra . Ví dụ do nhận thức sai lệch về lẽ sống chết ( sanh , diệt ) cho rằng chết là hết  nên thường sợ hãi hốt hoảng trước cái chết .Thật ra , bản thể của sự sống là chuyển biến từ dạng thức nầy sang dạng thức khác - chứ không sinh mà cũng chẳng diệt . Nếu có cái nhìn chánh kiến , chánh tư duy về bản chất đích thực của sự sống thì sẽ an nhiên trước lẽ sống chết .
   Sự sợ hãi là gánh nặng đeo đẳng đè nặng lên cả kiếp người từ khi sinh ra cho đến khi nhắm mắt xuôi tay . Khi quán chiếu thật sâu vào Bát Nhã Ba La Mật , Bồ tát Quán Tự Tại soi thấy năm uẩn đều không có tự tính ( do duyên mà sinh ) . Ngài tuyên thuyết  : " Nếu nương tựa vào pháp vi diệu thì trong lòng không còn chướng ngại . Tâm không chướng ngại nên không sợ hãi và vì  không sợ hãi nên tránh xa được điên đảo mộng tưởng " ( Tâm vô quán ngại cố , vô hữu khủng bố , viễn ly điên đảo mộng tưởng ) .
  Thì ra , con người sợ hãi vì do chấp hữu , chấp danh , ...; do vô minh cố chấp . Con người vô sự mới đích thị là con người tự do . Và chỉ khi nào phá hết chấp , giải thoát ra khỏi sợ hãi thì khi ấy mới có tự do thật sự .
   Phật giáo là quốc giáo của Miến Điện . Bà San Suu Kyi là Phật tử thuần thành của nhà Phật . Chẳng may do cộng nghiệp của cả dân tộc bà phải làm công dân của một đất nước bị cai trị dưới một chế độ độc tài quân phiệt . Bà San Suu Kyi vì lòng trắc ẩn trước dân tình thống khổ cộng với truyền thống yêu nước của gia đình nên đã dấn thân vào con đường đấu tranh cho dân quyền , dân chủ . Dấn thân vào con đường nầy là chấp nhận nguy hiểm kể cả cái chết . Dante - nhà cách mạng dân chủ Pháp ( 1789 ) đã từng cảm khái kêu lên : " Ôi! Mỗi bước tiến của thần tự do là một viên đá để xây mồ "  Bản chất của chế độ độc tài là khủng bố tinh thần dân chúng , gieo rắc sự sợ hãi để dễ bề cai trị . Machiavel - một triết gia cổ vũ cho chế độ độc tài - cho rằng : " Dân chỉ cần làm cho họ sợ chứ không cần làm cho họ thương " .
 
   Suốt 20 năm bị quảng thúc (giam lỏng) tại gia , thường xuyên bị canh gác , giám sát , bà San Suu Kyi vẫn cảm thấy mình là con người tự do . Bà vẫn tiếp tục đấu tranh không mệt mõi  dưới hình thức bất bạo động . Chí khí cương liệt của bà đã có tầm ảnh hưởng sâu rộng đến quần chúng đấu tranh .

   
        Suy cho cùng , triết lý và hành động bao giờ cũng có một khoảng cách nhất định . Hành động mà không nương tựa vào một nguyên tắc có tính triết lý là một ý chí mù quáng .Bà San Suu Kyi vừa hành động vừa có tư tưởng triết lý hướng dẫn hành động . Trước một tình trạng xã hội nhiễu loạn , sa đoạ , thù hận , bạo hành ,...gieo rắc muôn vàn sợ hãi ; bà đã tự trấn an mình và vỗ an quần chúng bằng con đường thoát khỏi sợ hãi . " Và , chỉ có tự do thật sự khi giải phóng được nỗi sợ hãi " (  Aung San Suu Kyi )

Thứ Sáu, 27 tháng 11, 2015

Tich hợp hay cưỡng hôn ?!

 

 

          Dự thảo chương trình giáo dục phổ thông trong tổng thể của Bộ GD- ĐT dự kiến sẽ tích hợp môn Lịch sử với môn Giáo dục công dân và An ninh quốc phòng thành một môn học mới là môn Công dân và Tổ quốc . Về mặt học thuật , về nguyên tắc tích hợp thì việc làm nầy có phù hợp và thích ứng với  thuật ngữ  tích hợp không ; đó là vấn đề tiên quyết và then chốt ( còn vấn đề di hại của việc nầy đã có nhiều người bàn ).

     Trước hết  cần phải hiểu cho đúng về thuật ngữ tích hợp .Tích hợp là một thuật ngữ mới được vận dụng ở nước ta . Nó xuất phát từ quy luật nhận thức cho rằng : Không có một đơn vị kiến thức nào đứng ở vị trí độc lập và không liên quan đến các kiến thức khác trên cùng bình diện . Hai chữ tích hợp  được dùng dưới nhiều dạng thức khác nhau : Quan điểm tích hợp , tinh thần tích hợp , phương pháp tích hợp , nội dung tích hợp , dạy học tích hợp . Riêng về nội dung tích hợp đòi hỏi các thành phần được tích hợp cùng nằm trên một bình diện . Bởi vì có cùng một bình diện mới có tính liên thông liên kết . Ví dụ dạy môn Văn cần phải có phương pháp tích hợp hai phân môn Tiếng Viết và Tập Làm Văn . Bởi vì trong văn có tiêng , trong tiếng có văn và cả văn lẫn tiếng đều là nguyên vật liệu để tập làm văn .
     Về mặt nội dung tích hợp thì các môn Lịch sử , An ninh quốc phòng và Giáo dục công dân không cùng chung bình diện , cũng chẳng họ hàng gì với nhau . Cho nên sát nhập ba bộ môn nầy thành một là một việc làm khiên cưỡng , phản khoa học và phản học thuật . Thuật ngữ tích hợp hoàn toàn xa lạ với việc sát nhập , lồng ghép , Trong giảng dạy bộ môn ,  hai chữ tích hợp được hiểu là phối hợp thành một thể thống nhất tích chứa bao điều có thể mà vẫn lưu giữ được tính đặc thù của phân môn . Hiểu một cách nôm na đơn giản là nhiều phân môn hòa trộn vào nhau , học cái nầy biết cái kia và ngược lại nhưng vẫn giữ được tính độc lập của từng phân môn ; nghĩa là hòa trộn mà không hòa tan .

      Ông Bộ trưởng bộ GD- ĐT cam kết trước Quốc Hội rằng : "Tuy tích hợp nhưng môn lịch sử không bị coi nhẹ và khẳng định được coi trọng hơn  so với chương trình hiện hành " . Ông nói như vậy đúng là ngụy biện . Một khi tên đã không còn là tên riêng nữa thì lấy gì bảo đảm sự tồn tại của môn lịch sử , nói chi đến xem trọng xem khinh . Ba môn Lịch sử , An ninh quốc phòng và Giáo Dục công dân được trộn lại để cho ra môn Công Dân và Tổ Quốc thì môn Lịch sử kể như đã bị khai tử rồi . Tích hợp như cách làm của ban soạn thảo chương trình là hình thức đánh tráo khái niệm tích hợp thành sát nhập lồng ghép .
    Bộ môn Lịch sử chỉ có thể tích hợp với môn Địa lý , Việt sử , Thế giới sử và những vấn đề có liên quan đến văn học , kinh tế , quân sự , tín ngưỡng , tổ chức hành chính ; và đặc biệt là tư tưởng triết học . Tư tưởng triết học chi phối toàn bộ các lãnh vực khác trong cùng một thời đại , một sự kiện lịch sử .
   Việc tích hợp môn Lịch sử với hai môn khác thành môn mới nằm trong ý đồ thực hiện bước cuối cùng trong tiến trình chính trị hóa . Từ lâu , giáo dục , thông tin và truyền thông  đã bị đánh đồng làm một để mở đường cho tiến trình trên . Và cũng đã từ lâu môn Việt sử hiện đại ( Lịch sử Đảng ) được cày sâu cuốc bẩm ; còn Việt sử thời trung đại và cổ đại thì bị hoang hóa . Tại sao chúng tôi nói bỏ môn Lịch sử là bước  cuối cùng trong tiến trình chính trị trị hóa ? Bởi vì Quốc sử , Quốc học chính là cái hồn , cái hạnh của một dân tộc . Một khi môn Lịch sử không còn tên gọi thì còn  biết đâu là nguồn cội . Cớ sự nầy gây ra do lỗi hệ thống .
   Có hai khuynh hướng cực đoan trong đường lối giáo dục trên thế giới :
  - Một là giáo dục con -người- nhân- loại vượt qua mọi giới hạn không gian , thời gian , hoàn cảnh ( như nền Giáo dục của Pháp trước thế chiến II )
 - Hai là giáo dục con -người- công- dân  trong một hoàn cảnh nhất định ; đào tạo theo một khuôn mẫu nhất định ; đáp ứng yêu cầu của một định chế nhất định ( như nền giáo dục của quốc xã thời Hitler hay nền giáo dục của Nga thời Sô Viết ).
  Hai khuynh hướng trên đều cực đoan và không tưởng . Khuynh hướng đầu phi thực tế ,phi dân tộc .
Khuynh hướng sau không chú trọng đến giáo dục con người đích thực có đầy đủ giá trị Chân Thiện Mỹ của con người muôn thuở mà chỉ chú trọng giáo dục con người công cụ .

   Nền giáo dục Việt Nam Cộng Hòa trước đây mang tính trung dung với triết lý giáo dục Nhân Bản -Dân Tộc - Khai Phóng . 
  - Giáo dục nhân bản là lấy con người làm cứu cảnh , đề cao giá trị thiêng liêng của con người , mỗi người và mọi người .
 - Giáo dục dân tộc là đề cao bản sắc dân tộc , bảo đảm sự trường tồn của dân tộc , sự phát triển điều hòa toàn diện của quốc gia .
 - Giáo dục khai phóng có nghĩa là tôn trọng tinh thần khoa học , hướng tới sự tiến bộ , đón nhận tinh hoa văn hóa của thế giới , góp phần phát triển sự tiến bộ , cảm thông và hợp tác quốc tế để tạo điều kiện thăng tiến cho đất nước.

    Nói đến dân tộc là nói đến quá trình phát triển và tiến hóa của dân tộc đó . Và nói đến quá trình phát triển tiến hóa là nói đến lịch sử nước nhà . Những bước đi của lịch sử kết thành những chặng đường phát triển qua các thời kỳ lịch sử . Tính độc lập của môn học nầy vừa hàm nghĩa tính đặc thù bộ môn vừa hàm nghĩa chối từ sự chi phối của bất kỳ xu thế chính trị nào .Thuật lại một sự kiện lịch sử không đơn thuần dựng lại quá khứ mà còn làm sống lại quá khứ trong kinh nghiệm mới mẻ của hiện tại . Đó chính  là ôn cố tri tân .

   "Ý mới rút từ kinh nghiệm cũ 
    Mai tàn lưu lại chút hương xưa "
"Chút hương xưa" ấy là tinh hoa hồn cốt của cả dân tộc , cũng là tư tưởng triết học của người xưa . Nhà sử học Phùng Hữu Lang cho rằng : ' Thuật lại lịch sử của một thời đại , của một dân tộc mà không đề cập đến triết học của thời đại ấy thì chẳng khác nào họa long bất điểm nhãn "  . Và nhà triết học Bacon cũng cho rằng : " Nghiên cứu lịch sử của một thời đại , của một dân tộc mà không đề cập đến triết lý thì khó mà hiểu được triệt để thời đại đó , dân tộc đó " . Xem ra không có triết thì không thể triệt vậy .
  Lịch sử của dân tộc ta đã
" Trải bốn ngàn năm dựng nước nhà 
Sông khoe hùng vĩ núi nguy nga ..." ( Vũ Hoàng Chương )
Trong khoảng thời gian dằng dặc đó trải qua một ngàn năm tranh đấu chống Bắc thuộc ; thời kỳ độc lập tự chủ khởi đầu từ nhà Ngô , nhà Đinh ; rồi hưng thịnh nhất vào thời Lý , Trần . Dưới triều vua Lý Nhân Tông không những giữ yên được bờ cõi , kiên cố phên giậu mà còn bình Chiêm và cả phạt Tống nữa .

      Ơi sử Việt là tranh đấu sử 
      Trước đến sau cầm cự nào ngơi 
      Tinh thần cách mạng sáng ngời 
      Bao người ngã lại bao người đứng lên
                               ( Trả ta sông núi - Vũ Hoàng Chương )

Nền giáo dục xưa không xử lý kỷ thuật , không xây dựng kế hoạch , không công nghệ hiện đại ...nhưng nó đã làm tròn nhiệm vụ của mình ; giữ được vai trò lịch sử của mình ròng rã mấy ngàn năm để nước Việt tồn tại đến tận ngày hôm nay ! 
Bỏ môn lịch sử đồng nghĩa với việc phủ nhận bao công trình huyết hãn của tiền nhân : Bắc đánh Tống , Nam bình Chiêm, diệt Mông Nguyên , giữ yên bờ cõi  . Có được những thành tựu to lớn như vậy là nhờ triết lý giáo dục trung , hiếu , tiết , nghĩa ...chứ không nhờ vào kỹ thuật , kế hoạch giáo dục .

     Để bênh vực việc tạo ra môn học mới , phó GS - TS Bùi Mạnh Hùng đưa ra ý kiến : " Việc tích hợp không chỉ nhắm đến việc nâng cao hiệu quả giáo dục mà còn giải quyết vấn đề kỹ thuật khi xây dựng kế hoạch dạy học " Thì ra ông nầy không phân biệt được đâu là gốc đâu là ngọn ! Đổi mới tư duy giáo dục , đường hướng giáo dục , triết lý giáo dục mới là cái gốc ; còn vấn đề kỹ thuật , kế hoạch kể cả hiệu quả giáo dục chỉ là cái ngọn . Thêm một ý kiến  khác bênh vực cho đề án nầy thì nói  rằng : " Các nước làm như thế và Việt Nam cũng nên làm theo " . Thật là nông cạn và ngớ ngẩn . Các nước tích hợp môn lịch sử với môn địa lý chứ đâu có kiểu tích hợp tùy tiện như dự kiến của các ông !


     Suy cho cùng thì môn Lịch sử không thể nào tích hợp với các môn An ninh quốc phòng , Giáo dục công dân để tạo thành môn học mới cho được . Vì nhiều lý do - trong đó có lý do phản khoa học , phản học thuật và sai nguyên tắc tích hợp là then chốt  . Ngoài ra , việc làm trái khoáy nầy sẽ gây di hại khó lường là việc  chuẩn cấp học ( standard learn ) ở bậc học phổ thông sẽ không thành công . Sau khi ra khỏi nhà trường phổ thông , học sinh sẽ không được trang bị đầy đủ vốn liếng hành trang vào đời  một khi đã bị mất căn bản kiến thức phổ thông trầm trọng . Nguy hiểm nhất là các em sẽ  thiếu tố chất " để cho con người xứng đáng là NGƯỜI " ( nhân chi sở dĩ vi nhân dã ) . Phó GS- TS Phạm Quốc Sử khẳng định : " Người không hiểu sử thì không khác gì con trâu . Con trâu thì ruộng nào cũng cày bởi nó không biết nguồn cội của mình " . Đúng vậy , con trâu chỉ biết cắm cúi cặm cụi kéo cày theo một đường rảnh có sẵn . Kiến thức lịch sử và địa lý vô cùng cần thiết cho con người - cho mỗi người và cho mọi người . Đặc biệt , giới luật gia , chính khách không thể không có hiểu biết về lịch sử và địa lý . Chính khách mà tù mù về kiến thức sử địa thì khi làm cán bộ lãnh đạo dẫn dắt quần chúng chẳng khác nào một người mù dẫn đường  một đoàn người mù .



   

Thứ Hai, 16 tháng 11, 2015

ĐỌC LẠI BÀI HỊCH TƯỚNG SĨ CỦA TRẦN QUỐC TUẤN


   Bài Hịch tướng sĩ ( Dụ chư tỳ tướng hịch văn ) của Hưng Đạo Vương Trần Quốc Tuấn viết cách chúng ta hơn 700 năm mà nay đọc lại vẫn cứ âm vang giai điệu hào hùng và dâng trào tâm tư bi thiết .
   Trong cuộc chiến chống Mông Nguyên lần thứ hai , bài Hịch đã chuyển thế trận của quân Đại Việt từ thu quân , đầu hàng sang quyết chiến quyết thắng . Sức thuyết phục của bài hịch là ở chỗ yếu tố trữ tình bàng bạc , lan tỏa thấm đẩm cả bài văn chính luận . Từ trái tim đến trái tim , từ một tấm lòng đến vạn tấm lòng đã thắp sáng niềm tin , gọi hồn sông núi . Khởi đầu là tấm lòng của chủ tướng . Mục đích yêu cầu của bài hịch -  không dùng đao to búa lớn , lý lẽ suông tình , mệnh lệnh áp đặt hoặc nhân danh này nọ - mà chỉ dùng tình cảm để hiệu triệu , khuyến dụ , khuyên răn , cảnh tỉnh tướng sĩ đang  ham chơi mê ngủ .

    Tháng 12 năm Giáp thân ( 1254 ) hiệu Thiên Bảo năm thứ 6 , đời Trần Nhân Tông , đại binh Thoát Hoan tiến đánh Chi Lăng , Hưng Đạo Vương  thất thế thu quân chạy về Vạn Kiếp . Vua Nhân Tông thấy thế giặc quá mạnh cho mời Hưng Đạo Vương về Hải Dương mà phán rằng :
  -  " Thế giặc to như vậy mà chống với chúng thì dân chúng bị tàn sát , nhà cửa bị phá hết ; hay là trẩm sẽ chịu hàng để cứu muôn dân ".
   Hưng Đạo Vương tâu :
-" Bệ hạ nói câu ấy là lời nhân đức , nhưng tôn miếu xã tắc thì sao ? Nếu bệ hạ muốn hàng thì xin hãy chém đầu thần trước đã " .
Vua Nhân Tông nghe thế yên lòng , Hưng Đạo Vương trở về Vạn Kiếp hiệu triệu 20 vạn quân và thảo ra DỤ CHƯ TỲ TƯỚNG HỊCH VĂN  để khuyên răn , đánh thức các tướng dưới quyền hãy từ bỏ lối sống cầu an , hưởng thụ và lo luyện tập võ nghệ , trau dồi binh pháp để chuẩn bị chiến tranh . Mặt khác vua cho họp các bô lão , mở hội nghị DIÊN HỒNG ,trưng cầu ý dân NÊN HÒA HAY NÊN CHIẾN .
  Lúc bấy giờ vua quan nhà Trần phải đương cự trước một tình thế vô cùng khó khăn .
   Khó khăn lớn nhất là phải chống lại một đạo quân bách chiến bách thắng , một đạo quân mà các sử gia tây phương phải kiêng dè :" Đi đến đâu thì cỏ chết đến đấy" . Nhưng đó chỉ là khó khăn ngoài biên ải , đáng kể nhất là khó khăn nội tại ngay trong triều đình .
   Trong triều đình vẫn có những quan lại vì lợi ích cá nhân mà thông đồng với giặc , thỏa hiệp với kẻ thù . Các quan lại khác thì vì hèn nhát phải khom lưng cúi đầu tiếp đãi ngụy sứ như quốc khách . Những cảnh tượng chướng tai gai mắt ngày ngày vẫn diễn ra trước sự phẫn nộ , căm tức của những con dân yêu nước .    Trong lúc đó ở bên ngoài thì bọn sứ giặc  " đi lại nghênh ngang ngoài đường , uốn lưỡi cú diều mà sỉ mắng triều đình , đem thân dê chó mà bắt nạt tể phụ " . Còn ở bên trong triều đình thì "tấu nhạc Thái Thường để đãi yến ngụy sứ ; làm tướng triều đình mà đứng hầu quân giặc "  .Thật oái oăm thay khi phải đem quốc lễ mà tiếp đón kẻ cướp nước .
  Càng đáng lo ngại hơn nữa là các tướng sĩ trong quân ngũ không ai quan tâm đến hiện tình dầu sôi lửa bỏng của đất nước .Họ bàng quan , thờ ơ trước những chuyện đau lòng đang diễn ra trong triều , ngoài dân chúng .
  Sau khi thắng cuộc trong trận chiến chống Nguyên Mông lần thứ nhất , họ ngủ quên trong chiến thắng ; họ đua nhau hưởng thụ theo sở thích cá nhân : "hoặc lấy việc chọi gà làm vui đùa , hoặc lấy việc đánh bạc làm tiêu khiển , hoặc vui thú ruộng vườn hoặc quyến luyến vợ con ; hoặc nghĩ về lợi riêng mà quên việc nước , hoặc ham săn bắn mà quên việc quân ; hoặc thích rượu ngon , hoặc mê tiếng hát " .
  Thái độ ham mê hưởng thụ xuất phát từ tâm lý chung của những người vừa mới trải qua nhiều thiếu thốn gian khổ .
  Còn thái độ quay lưng lại với thời cuộc với vận mạng của nước nhà là xuất phát từ vô minh , không thấy được mối tương quan , tương liên giữa cá nhân và xã hội , giữa gia đình và Tổ quốc .
   Một khi nước mất là mất tất cả !
   Quốc phá gia vong !
Chủ tướng Hưng Đạo Vương đem lòng đại lượng mà chỉ tỏ cho các tỳ tướng thấy được cái sai cùa mình : " Nếu có giặc đến thì cựa gà trống sao cho đâm thủng áo giáp quân thù , mẹo cờ bạc sao cho dùng nổi được quân mưu ; dẫu rằng ruộng lắm vườn nhiều , tấm thân ấy ngàn vàng khôn chuộc , vả lại vợ bìu con ríu nước nầy trăm sự nghĩ sao ? tiền của dù nhiều cũng không mua được đầu giặc , chó săn ấy thì địch sao cho nổi quân thù , chén rượu ngon không làm cho địch say chết ; tiếng hát hay không làm cho địch điếc tai . Lúc bấy giờ chẳng những thái ấp của ta không còn mà bổng lộc các ngươi cũng hết ; chẳng những gia quyến của ta bị đuổi mà vợ con các người cũng nguy ; chẳng những là ta chịu nhục bấy giờ mà trăm năm về sau tiếng xấu hãy còn mãi mãi ; mà gia thanh cùa các người cũng chẳng khỏi mang tiếng nhơ. Đến lúc bấy giờ các người dẫu muốn vui vẻ , phỏng có được không ? "
  Hậu quả của lối sống hưởng thụ , thái độ vô cảm , bàng quan thờ ơ trước vận nước không những ảnh hưởng đến sự mất còn của quốc gia dân tộc mà còn gây di chứng cho nhiều thế hệ kế tiếp .
    Sau khi chỉ ra cho các tỳ tướng thấy được sai lầm trong hành vi cũng như trong nhận thức của họ ; chủ tướng Hưng Đạo Vương Trần Quốc Tuấn mới bộc bạch tâm tư tình cảm của mình :
   "Ta đây ngày thì quên ăn , đêm thì quên ngủ , ruột đau như cắt , nước mắt đầm đìa , chỉ căm tức rằng chưa được xẻ thịt lột da của quân giặc , dẫu cho thân nầy phơi ngoài nội cỏ , xác nầy gói trong da ngựa , thì ta cũng đành lòng " ,
  Tâm tư, tình cảm của chủ tướng nói gọn lại cô đúc trong bốn chữ : " LO- ĐAU - BUỒN - CĂM ".
  Lo là lo cho vận nước trong cơn nguy khốn
  Đau là đau lòng vì thấy bọn tham quan hại dân bán nước
  Buồn là buồn cho dân tình lơ láo , quân ngũ buông tuồng
  Căm là căm tức thái độ hung hăng ngang ngược của giặc Tàu

 Lo , đau , buồn , căm - tình cảm nào cũng tuyệt đỉnh :
 Lo cho đến nổi quên ăn bỏ ngủ
  Đau như có ai cắt từng khúc ruột
 Buồn đến nổi nước mắt đầm đìa
Căm đến nổi muốn lột da xẻ thịt quân thù cho hả dạ

Tất cả những tình cảm ấy nung nấu thành một ý nguyện hy sinh cũng tuyệt đỉnh : Dẫu cho trăm thân phơi ngoài nội cỏ , nghìn xác gói trong da ngựa thì cũng cam lòng !

   Tại sao tình cảm nào cũng tuyệt đỉnh ?
  Lẽ dễ hiểu là không có nỗi nhục nào lớn hơn nỗi nhục quốc thể ( quốc sỉ ) .
Nỗi nhục bị xúc phạm đến thể diện quốc gia là nỗi nhục lớn nhất .
Ai đó xúc phạm đến danh dự thể diện của cá nhân hoặc dòng họ thì cũng đủ làm cho ta thấy nhục rồi . Huống chi ở đây kẻ thù xúc phạm đến cả tông miếu , triều đình  , xả tắc ...thì chỉ có những con người vô cảm vô sỉ mới không thấy nhục !

   Tấm lòng của chủ tướng đã bộc bạch can trường là thế , còn các tỳ tướng thì sao?

 Đây là câu hỏi vô cùng nghiêm khốc khiến người nghe phải giật mình . Bài hịch chuyển sang giọng nghiêm :
" Nay các ngươi nhìn tủi nhục mà không biết lo , trông thấy quốc sỉ mà không biết thẹn , làm tướng triều đình đứng hầu quân giặc mà không biết tức ; nghe nhạc Thái Thường đãi yến ngụy sứ mà không biết căm ! "  khiến cho các tỳ tướng  không thể không soi lại mình .
  Trong khi chủ tướng vừa lo vừa buồn vừa đau vừa căm thì các tỳ tướng lại điềm nhiên bình chân như vại là nghĩa làm sao . Đã thế mà còn đàn đúm hưởng thụ ăn chơi trụy lạc  . Huống chi tấm lòng của chủ tướng đối với quân sĩ như nghĩa anh em như tình cha con :
  Không có áo thì ta cho áo , không có ăn thì ta cho ăn , quan nhỏ thì ta thăng thưởng ,lương ít thì ta tăng cấp ; đi thủy thì ta cho thuyền , đi bộ thì ta cho ngựa ; lúc hoạn nạn thì cùng nhau sống chết , lúc nhàn hạ thì cùng nhau vui cười ..."

    Chủ tướng không nhân danh cấp trên để hạch hỏi  , cũng không  sỉ mắng chì chiết cấp dưới mà ai nấy cũng tự khắc cảm thấy mình mang tội bất hiếu , bất để , bất trung , bất tín , vô liêm ,  vô sỉ . Bất hiếu với tổ tông ,bất để trong tình huynh đệ chi binh , bất trung với vua , bất tín với xã tắc , vô liêm trong cách hành xử và vô sỉ vì không biết xấu hổ .Cảm được như vậy và hiểu ra như thế các tỳ tướng tự nhiên thấy mình có lỗi mà đem lòng thống hối muốn đái công chuộc tội. Sức thuyết phục của bài hịch ở chỗ không dùng lý lẽ quân pháp mà dùng tình cảm để mưu phạt tâm công . Hiệu quả to lớn của bài hịch nhờ vào cái tài bút pháp đã đành nhưng đặc biệt là nhờ cái tâm của chủ tướng . Nhà văn Ngô Tất Tố cho rằng :" Bài dụ Chư tỳ tướng hịch văn cho thấy không những Hưng Đạo Vương là võ tướng mà ông còn có tài học vấn , đọc nhiều sách và thông hiểu nhiều điển tích kim cổ " còn sử gia Trần Trọng Kim ghi lại trong Việt Nam sử lược : " Binh sĩ nghe lời hịch nức lòng , lấy mực xăm hai chữ Sát Thát lên cánh tay và hết lòng chiến đấu chống giặc " . Kinh nghiệm chống giặc ngoại xâm phương bắc trong suốt chiều dài lịch sử cho thấy yếu tố tất thắng chính là nhờ khối đoàn kết nội tại trong cả nước . Nhưng để huy động được sự đoàn kết ấy cần có nhà lãnh đạo minh triết .

       Hưng Đạo Vương Trần Quốc Tuấn được quốc tế công nhận là một danh tướng thế giới .
   Sau khi mất Ngài được nhân dân phong thánh và lập đền thờ ở khắp nơi .
   Ngài vừa có võ học vừa có văn tài , vừa rành binh pháp vừa giỏi dụng binh .        Nhưng cái đáng tôn sùng và nể trọng  là Ngài đã  biết gạt bỏ thù nhà để lo nợ nước ; biết lấy bản thân làm gương cho binh sĩ .
  Trung thực và công chính chính là bản chất của Ngài .
  Ngài được vua ban cho quyền tiền trảm hậu tấu nhưng chưa một lần dùng đến quyền nầy .
 Ngài được phong thánh không chỉ vì có công lớn đối với quốc gia xã tắc mà còn là vì  sự kỳ vĩ thập thành trong lập ngôn cũng như lập đức .





Chủ Nhật, 25 tháng 10, 2015

CÁI HẠNH CỦA NGƯỜI CẦM BÚT


    Cụ Đồ Chiểu có một câu thơ rất hay -ít nhiều nói lên cái HẠNH của người cầm bút :
         Chở bao nhiêu đạo thuyền không khẳm 
         Đâm mấy thằng gian bút chẳng tà 
Trừ gian diệt ác phải chăng là cái hạnh của người cầm bút . Sứ mệnh của nhà văn , nhà thơ , nhà báo ,...phải chăng là bảo vệ , tôn vinh cái đúng , cái tốt , cái đẹp đồng thời phê phán , chỉ trích , tiêu trừ cái sai , cái ác , cái xấu , ...trong đời sống chính trị xã hội .

    Ba  cột trụ tinh thần của nhân loại là  CHÂN - THIỆN - MỸ  . Cái chân là cái đúng , là  thực tại , chân lý ; cái thiện là đạo đức , luân lý , lòng nhân ái ; cái mỹ là cái vẻ đẹp của thiên nhiên và con người . Đứa bé cắp sách đến trường tức là lên đường đi tìm chân , thiện , mỹ . Nhà trường sẽ dạy trí dục , đức dục và mỹ học . Rồi khi lớn lên một số ít người có năng khiếu thiên bẩm văn chương , chữ nghĩa ...sẽ gia nhập vào nghề cầm bút - không biết chắc là họ đã chọn nghề hay nghề đã chọn họ .Nghề gắn liền với nghiệp , nghề tạo ra nghiệp và nghiệp dẫn dắt nghề trải qua những dằn xôc của số phận . Nghề nào cũng có cái đạo , cái hạnh của nó . Riêng cái nghề cầm bút thì lắm bi kịch . Thứ nhất là giàu tinh thần , giàu chữ nghĩa nhưng nghèo tiền bạc ; thứ hai là vinh nhục khó lường ; thứ ba là khó giữ được toàn thân  ( có khi còn phải vào tù ra khám ). Viên Mai đời nhà Thanh - Trung Hoa đã nói lên bi kịch của nghề cầm bút :
     Mỗi phạn bất vong duy trúc bạch 
     Lập thân tối dĩ hạ văn chương 
( Mỗi bữa không quên ghi sử sách 
 lập thân tệ nhất ấy văn chương )
 Trong ba cái lập : lập ngôn , lập đức , lập công thì lập ngôn tiềm ẩn nhiều rủi ro nhất nhưng lại có tính quyết định nhất . Chính vì vậy mà lập thân bằng con đường ghi chép sử sách , sáng tác văn chương , ...là con đường đầy chông gai , dằn xốc ( tệ nhất ) . Thế mà lạ thay : tới bữa có thể quên ăn , tới giấc có thể quên ngủ , nhưng dứt khoát không thể xao lãng việc trước tác , ghi chép , ...Vinh quang và cảm khái đối với người cầm bút là ở chỗ đó . Đúng là kiếp tơ tằm !
  Tôn trong sự thật lịch sử là cái hạnh của sử gia
  Lịch sử của một dân tộc là ngọn hải đăng , định hướng phát triển của dân tộc đó . Viết sử mà bóp méo sự thật lịch sử là có tội với dân tộc . Quy luật của lịch sử có những nếp gấp ( lặp lại ) mà hậu thế phải biết để rút kinh nghiệm . Dòng họ Tư Mã Thiên nhiều đời làm sử quan bị triều đình ám hại vì không theo ý vua . Đến đời Tư Mã Thiên ẩn nhẫn chấp nhận làm hoạn quan để được sống sót hầu thực hiện sĩ khí của ông cha . Cuốn sử ký Tư Mã Thiên và giá trị của nó có được là nhờ đức tính ẩn nhẫn phi thường của người viết sử .

   Thời nào và ở đâu cũng có những nhà văn , nhà báo kiên trì , ẩn nhẫn trong đấu tranh bảo vệ chân lý . Emil Zole , nhà văn Pháp công khai viết kháng nghị , viết báo để minh oan cho sĩ quan gốc Do Thái . Sau khi ông mất , thủ tướng Pháp - cũng là nhà báo -gọi kháng nghị của ông là TUYÊN NGÔN CỦA TRÍ THỨC ( manifeste des in tellectuel )

  Ở Việt nam , sau cái chết mờ ám của em Đổ Đăng Dư ở Hà Nội , mười mấy luật sư ký tên vào tờ trình báo gởi lên bộ công an đề nghị điều tra xem xét . Sự đoàn kết chung tay góp phần hạn chế những án oan sai bảo vệ dân lành . Ở các nước dân chủ , nhà báo , luật sư có quyền tham gia phá án . Nhà báo , luật sư nếu không được hành nghề , tác nghiệp một cách độc lập thì khó có tự do , công bằng xã hội .
Vừa qua ,giải Nobel văn chương 2015 trao cho Svetlana Alexievich, một nhà báo viết sử bằng cảm xúc của nhà văn . Bà đã đem tâm tình viết lịch sử chiến tranh đổ nát và những số phận con người trong chế độ Xô- Viết  cũ . Viện hàn lâm Thụỵ Điển đã tôn vinh bà như " một tượng đài ẩn nhẫn và quả cảm trong thời đại của chúng ta ". Từ nhiều năm nay bà đã rời bỏ quê hương đất nước Bélarus sang định cư ở Tây Âu vì không chịu nổi chế độ độc tài ở Bélarus.
Năm 2009 , Herta Muller , nữ văn sĩ người Đức cũng nhận giải văn chương Nobel cũng do được tôn vinh đức tính ẩn nhẫn , kiên định với văn chương và thái độ tố cáo tội ác của chế độ độc tài

  Churchill, một nhà quân sự , một chính khách  cũng là thủ tướng nước Anh - là một thủ tướng duy nhất được nhận giải Nobel - là công dân danh dự của Hoa Kỳ -đồng thời cũng từng là một nhà báo với câu nói nổi tiếng : " Một dân tộc tìm cách tránh chiến tranh bằng cái giá của sự nhục nhã thì sẽ nhận lấy cả sự nhục nhã và chiến tranh " Nghề cầm bút tuy có lắm nhọc nhằn , nhiều rủi ro song cũng rất vinh quang khi có được những tác phẩm lớn , những bài viết tốt , những phóng sự phản ảnh trung thực ...Người cầm bút phải thường xuyên luyện văn , mài bút , chắt lọc ngôn từ . 
 Thánh thơ Đỗ Phủ rất quan tâm đến việc dùng từ .
Đối với Đỗ Phủ : " Một chữ mà không lay động được lòng người thì chết không yên giấc " (Ngữ bất kinh nhân , tử bất an ). Nhưng muốn lay động lòng người thì người nghệ sĩ phải có trái tim lớn . Trái tim yêu thương , lòng nhân ái ,... là động cơ mà cũng là nguyên liệu để chế tác ra tuyệt phẩm . Đó cũng là nguyên động lực cho những nhà khoa học trong quá trình phát minh , phát kiến . Bất cứ sáng kiến nào cũng xuất phát từ con tim mới dâng lên khối óc . Nguyễn Du viết nên tuyệt tác Truyện Kiều khởi đi từ "những điều trông thấy mà đau đớn lòng "
 Đặng Trần Côn xót thương nỗi lòng cô phụ có chồng đi chiến trận mà viết " Chinh Phụ Ngâm " 
Ôn Như Hầu vì "kiếp phù sinh trông thấy mà đau " nên mới chia sẻ nỗi bất hạnh của những nàng cung nữ trong cung cấm bằng "Cung oán ngâm khúc "

   Cái hạnh của người cầm bút là dám nói thẳng , nó thật ; yêu sự thật , ghét gian trá ; thẳng thắn , trung thực , ghét a dua nịnh bợ . Nói như cụ  Đồ Chiểu " Ghét kẻ nịnh như nhà nông ghét cỏ "


  Tóm lại , cái hạnh của người cầm bút là thánh hóa cuộc đời bằng cách xiển dương những giá trị chân lý , đạo đức , thẩm mỹ . Văn dĩ tải đạo là tôn chỉ của các cụ đồ xưa . Nhờ vậy mà truyện Kiều của cụ Nguyễn Du , truyện  Lục Vân Tiên của cụ Nguyễn Đình Chiểu là những tác phẩm văn chương có giá trị bất hủ được lưu gữ trong tâm hồn của nhiều thế hệ . Cũng là những cuốn tiểu thuyết đầu tiên viết bằng chữ quốc ngữ mà Tố Tâm của Hoàng Ngọc Phách đã đi vào quên lãng ; còn những tác phẩm của cụ Hồ Biểu Chánh thì chẳng những được truyền đọc mà  còn được  chuyển thể thành phim và được nồng nhiệt đón nhận .
 Trong một xã hội băng hoại về đạo đức , điên chữ , loạn nghĩa ,...thì sứ mệnh thiêng liêng của người cầm bút càng phải được đề cao hơn bao giờ hết .

Thứ Tư, 21 tháng 10, 2015

DỊCH BỆNH ĂN CẮP - ĐÂU LÀ NGUYÊN NHÂN

   Xã hội ta ngày nay tràn lan dịch bệnh ăn cắp . Lớn ăn cắp lớn , nhỏ ăn cắp nhỏ . Quan chức ăn cắp , phóng viên nhà báo ăn cắp , nhân viên hàng không ăn cắp ...xấu hổ nhất là giới văn nghệ sĩ cũng ăn cắp văn thơ ...

Mới đây người ta xôn xao về vụ đạo thơ của một nữ sĩ - vừa được giải thưởng . Nhà báo Hà Quang Minh trong một bài viết tố cáo vụ việc nầy đã nói một câu khẳng khái :  'Tôi không cần sự xin lỗi . Cái tôi cần là một nền văn nghệ công chính . Tôi đòi hỏi những nghệ sĩ phải liêmchính "
    Nhà báo Hà Quang Minh đã nhìn ra gốc rễ của vấn đề . Chúng ta đang sống trong một xã hội mà mọi thứ đều thiếu công chính . Sự không công chính đẻ ra nhiều hệ quả tệ hại : gian dối , trộm cắp , vô liêm sĩ  ....
 Con người là sản phẩm của xã hội , cũng là sản phẩm của nền giáo dục . Nền giáo dục XHCN ra sức đào tạo con người XHCN ! Nền giáo dục ấy không những không thành công trong việc đào tạo chuyên viên mà còn thất bại cả trong đào tạo con người : thiếu trung thực nhưng lại thừa dối trá , thiếu tài năng nhưng lại giỏi luồn lách ; vụng chèo mà khéo chống ,...
   Ngay từ khi còn ngồi trên ghế nhà trường , học sinh đã được Thầy cô truyền cho mánh khoé gian lận trong học tập . Như dạy hs học thuộc bài văn mẫu cũng đồng nghĩa dạy hs đạo văn . Giải trước các bài tập trong các buổi dạy thêm ở nhà tức là khích lệ hs gian dối . Để đạt giải thi viết thư quốc tế ( UPU )nhà trường động viên hs nhờ phụ huynh viết dùm . Thi thuyết trình văn học thì thầy viết sẵn văn bản , còn trò chỉ việc trình bày theo kịch bản của thầy . Nhà trường tổ chức hội nghị công nhân viên chức ở đầu mỗi học kỳ để đề ra các con số chỉ tiêu . Chỉ tiêu bao giờ cũng cao hơn thực tế . Thế mà cuối học kỳ ai nấy cũng đều hoàn thành vượt mức chỉ tiêu - bằng cách cấy điểm , sửa điểm , báo cáo láo ,...Hậu quả là nhiều hs ngồi nhầm lớp .

   Lên đến bậc đại học , có lắm trường hợp sinh viên  học yếu , nợ môn chỉ cần quà cáp - thậm chí mời thầy đi ăn nhậu , trao phong bì ,...là trả được nợ môn !
  Sau Đại học , rất nhiều trường hợp SV cao học , tiến sĩ chỉ cần xào nấu lại các luận án lưu trữ trong thư viện để làm luận án của mình . Đó đích thực là hình thức ăn cắp rồi còn gì ! Một nền giáo dục mà từ dưới lên trên đều gian dối thì khó mà có được chính phẩm ! Đó là chưa kể lớp dạy vét , học vẹt ,...đã thui chột trí sáng tạo , óc tư duy độc lập của trẻ .
     Đó là chưa kể hình thức tổ chức bộ máy tự quản lớp học quá hình thức , quá nhiều chức danh ...vô tình mớm cho trẻ nhỏ có xu hướng ham mê quyền lực . Gần đây nghe nói sắp cải cách chức danh lớp trưởng thành " Chủ tịch " . Giáo dục kiểu nầy hẳn nhiên đào tạo công dân tương lai khao khát quyền lực , khao khát nổi tiếng ...

 Nguyên nhân sâu xa của dịch bệnh ăn cắp là  sự KHÔNG CÔNG CHÍNH .
Về vụ đạo thơ đã có làn sóng lên án , chỉ trích , chê cười , sỉ vả ... Nhưng nếu nhìn sâu vào toàn cảnh xã hội Việt Nam hiện nay thì phạm nhân nầy cũng chính là nạn nhân của một quá trình giáo dục . Và đáng thương hơn nữa là nạn nhân đã  " ma giáo " vụng chống  sau khi đã gian dối vụng chèo !

  Cái lỗi nầy đã có phải chăng cũng bởi những người chấm giải thiếu văn hoá đọc và sức đọc còn yếu !!!
 Không riêng gì nhà báo Hà Quang Minh " cần một nền văn nghệ công chính "mà những người còn lương tri đều cần . Nhưng đòi hỏi "những nghệ sĩ phải liêm chính "thì nhất thiết phải có một NỀN GIÁO DỤC  CÔNG CHÍNH !

Thứ Hai, 12 tháng 10, 2015

NẾP PHONG HOÁ CỦA CON NGƯỜI VIỆT NAM NAY CÒN ĐÂU ?

       Phải thành thực nhìn nhận rằng về  khoa học kỹ thuật , về mức sống đầu người , tiện nghi vật chất , công nghệ thông tin , ...người Việt chúng ta đã vượt xa cha ông mình ngày trước . Thế nhưng về nếp phong hoá của con người nói chung và của người Việt nói riêng thì ta thua xa cha ông mình ngày trước .Nếp phong hoá - một gia tài vô giá - mà cha ông để lại nay còn đâu ?Thật là vô phước  khi con cháu không giữ được nếp nhà , gia bảo , gia phong ...
Kể từ ba bốn chục năm nay , nếp phong hoá của con người Việt dần dà bị phân hoá , phân huỷ bởi lối sống nặng mùi vật chất , khát thèm hưởng thụ , coi nhẹ tâm linh , sa sút nghĩa tình . Dân ta chưa bao giờ vong thân thảm hại như ngày nay . Phẩm giá , phong thái của người Việt dần bị người nước ngoài coi thường rẻ rúng , thậm chí không cho nhập cảnh . Nhiều nước tiên tiến trên thế giới như Mỹ , Nhật , Hàn Quốc ,...đạt được các thành tựu to lớn về khoa học , điện toán , ...song dân tộc họ vẫn còn bảo lưu nếp phong hoá do tiền nhân để lại . Chỉ có Trung Quốc sau " cách mạng văn hoá "đã không giữ được bản sắc của dân tộc Trung Hoa cổ thời .
   Hai chữ văn hoá trong xã hội ta ngày nay bị vật thể hoá trong các cụm từ thông tin văn hoá , văn hoá thể thao , văn hoá giải trí , văn hoá ẩm thực , ...Sau năm 1975 , còn có cụm từ bổ túc văn hoá  (*)! Lẽ ra văn hoá phải đi liền với giáo dục . Hai chữ văn hoá có một nội hàm rất lớn bao gồm giáo dục , triết học , ngôn ngữ , chính trị , học thuật , văn chương , phong tục tập quán ...Phong tục tập quán là một nét văn hoá tạo ra nếp sống phong hoá của con người . Trong nhiều thập niên qua , nếp phong hoá của người Việt Nam ta đã bị mai một do ma chiết với  môi trường sống nặng mùi vật chất , khao khát hưởng thụ , chạy theo tiền tài quyền bính .... Niềm tin tôn giáo biến thành mê tín dị đoan , buôn thần bán thánh .Bacột trụ tinh thần của nhân loại không còn được coi như cốt lõi của xã hội văn minh văn hoá . Dù là ý hệ gì , chủ nghĩa nào nếu không có CHÂN , THIỆN , MỸ làm cột trụ chống đỡ thì sớm muộn gì cũng tiêu vong sụp đổ . Cái ĐÚNG ( chân ), cái TỐT ( thiện ) cái ĐẸP  ( mỹ )mãi mãi là những giá trị tinh thần bất diệt .
 Chân là một giá trị về cái đúng , về thực tại , về sự thật , là chân lý . Ngày nay sự thật , chân lý bị đánh tráo bằng ngôn ngữ quỷ biện , gọi là đánh tráo khái niệm . Sự bưng bít , trí trá , gian dối , láo toét ,...chế ngự chân lý , bóp méo sự thật . Cho dù trình độ và nghệ thuật nói láo có đạt đến đỉnh cao trí tuệ cũng không thành công mãi được . Cây kim trong túi lâu ngày cũng lòi ra  .Sự dối lừa , nguỵ tạo tràn lan , phổ biến có lôi kéo được sự đồng lòng đồng thuận thì cũng trong giai đoạn nhất thời mà thôi .Một khi sự dối trá hiện nguyên hình thì con người bị mất niềm tin . Mất niềm tin là mất tất cả !

   Thiện là cái tốt , là đạo đức luân lý .Cái tốt tỷ lệ thuận với mức độ tiệm cận với cái đúng (  chân ). Càng gần với chân lý thì càng đạo đức . Xa rời chân lý là phi đạo đức .
Trong đạo Phật , ai hiểu đúng được lý nhân duyên , luật nhân quả thì là thiện nhân .Kẻ nào không thấy không biết lẽ vô thường , không tin nhân quả thì không có việc gì mà hắn không làm ( vô sở bất vi ). Lối sống vô luân , vô phép vô tắc là hệ quả của sự dối trá , lừa lọc , mất niềm tin .
  Đắm chìm vật dục là gốc rễ của đau khổ và tội lỗi . Vì khao khát hưởng thụ nên phải nổ lực kiếm tiền càng nhiều càng tốt - có khi không từ cả đồng tiền bất chánh ; chỉ có cách kiếm tiền bất chánh mới nhanh có tiền nhiều ! Hoa hậu , người mẫu bán dâm không phải vì đói cơm thiếu áo mà vì đua đòi hưởng thụ . Ngược lại những đại gia mua dâm cũng chỉ đáp ứng nhu cầu hưởng thụ .
  Giàu có tiền tài không phải không tốt . Không biết xài tiền đúng mục đích ấy mới là tội lỗi .Shakespeare cho rằng "Khi không còn biết dùng tiền vào việc gì cho phải ấy là lúc người ta bắt đầu làm bậy "
    Người Việt Nam sau nhiều cuộc chiến tranh dai dẳng chịu nhiều đau thương , nghèo khổ , chết chóc . Khi hoà bình lập lại thì nẩy sinh tâm lý hưởng thụ , tâm lý cầu an , tâm lý sợ chiến tranh dù là cuộc chiến tranh vệ quốc .

  Sau cùng là cái đẹp . Cái đẹp là nguyên động lực sáng tác văn chương nghệ thuật nói chung . Cái đẹp là hoa trái của quá trình thăng hoa từ " CON " đến " NGƯỜI" . Con và người là hai thực thể tồn tại : CON : tồn tại thú  vật ; NGƯỜI : tồn tại từ con hướng đến chân thiện mỹ . Nói như Pascal: "Con người chẳng phải thú vật mà cũng chẳng thiên thần " ( L' homme est ni ange ni bête),
   Nếu không thăng hoa , hướng thượng  mà cứ đắm chìm chạy đua theo vật dục thì CON vẫn chỉ là con chứ không thể là người đích thực , Khi trở về làm con thì con người có khi còn hiểm ác bạo tàn hơn loài dã thú .

   Nói đến nét phong hoá của con người nói chung là nói đến chân thiên mỹ ,cốt lõi của văn minh văn hoá . Nếp phong hoá lại là hoa trái của một nền giáo dục . Nền giáo dục của miền Nam trước năm 75 với triết lý NHÂN BẢN - DÂN TỘC - KHAI PHÓNG  đã sản sinh ra người có nếp phong hoá kế thừa truyền thống  của cha ông ta  ngày trước . Nền giáo dục hiện nay nặng xu hướng đào tạo nhẹ về giáo huấn , khai phóng con người theo hướng chân thiện mỹ .
   Chính vì vậy mà  nếp phong hoá của người Việt Nam nay không còn nữa !


(*) Sau này đã đổi thành " bồi dưỡng thường xuyên "