Thứ Sáu, 26 tháng 10, 2012

Nhãn tuyến về lẽ sinh tử trong ca từ của nhạc Trịnh công Sơn


   Cuộc đời là giả tạm , thân phận con người là hữu hạn - đó là số phận nghiệt ngã của kiếp người .Con  người không thay đổi được số phận nhưng có thể thay  đổi  được thái độ trước số phận . Đó là cái nhìn hoặc thái độ khác nhau  trước hoàn cảnh của cuộc sống  : phiền não , thống trách , sợ hãi hay an nhiên . An nhiên là là thái độ khôn ngoan của nhà hiền triết . Trịnh công Sơn đã có một thái độ như vậy.

  Nỗi ám ảnh về sự vắng bóng con người là nỗi ám ảnh thường trực trong các nhạc phẩm của anh . Ngay từ năm 15 tuổi , cái tuổi trở mình thành người lớn , Trịnh công Sơn đã phải chứng kiến cái chết của cha -trong một tai nạn xe cộ . ; chứng kiến cảnh góa bụa của  mẹ , cảnh côi cút của đàn em nhỏ ..Trịnh công Sơn thấu hiểu một điều : trần gian là cõi tạm .Tất cả không thoát ra khỏi quy luật của sự chuyển dịch và tàn hoại theo thời gian  . Thời gian nghiền nát tất cả . Ý thức về sự giới hạn của con người trong cuộc đời không phải để phó mặc cho đời , để sống buông thả hay sống vội theo kiểu hiện sinh . Ý thức trước hoàn cảnh giới hạn để sống an nhiên trong từng phút giây hiện tại . Hạnh phúc chỉ có mặt trong từng khoảnh khắc hiện tại trong thời gian vô thỉ vô chung .Cuộc sống cho dù khó sống cũng phải ráng sống . " khó nhọc qua ngày ráng sống " ( Nguyễn Trãi ). Trịnh công Sơn ca hát nhảy múa trong dòng lưu dịch một cách hồn nhiên như một đứa trẻ thơ "bên đời hiu quạnh "mà  " lòng vẫn bình yên "
   Trịnh công Sơn ôm trọn hai thái cực tương quan đối đãi giữa lạc quan và bi quan , giữa sống và chết giữa tồn sinh và hủy diệt
 "Lòng thật bình yên mà sao buồn thế
. Giật mình nhìn tôi ngồi hát bao giờ .."( bên đời hiu quạnh ) . .
Bình yên và thấu hiểu cảnh đời dâu bể đầy mất mát và hư hao ; buồn vì không còn nấn ná lâu hơn trong cõi tạm nầy :
   "   Rồi một ngày kia khăn gói đi xa
     Tưởng rằng được quên thương nhớ nơi quê nhà.... "
   Muốn quên cũng không dễ gì quên; quê hương đích thực vẫn mãi mãi là mộng viễn trình . Cho nên " lòng thật bình yên mà sao buồn thế .."để rồi " giật mình nhìn tôi ngồi khóc bao giờ ". Nhưng không khóc một cách bi đát mà khóc một cách bi tráng : " dù thật lệ rơi lòng không buồn mấy " . Trong một khoảnh khắc tỉnh thức trở về với  thực tại bỗng " giật mình tỉnh ra ồ nắng lên rồi ".
  Trong  ca từ nhạc Trịnh ngồn ngộn những bóng nắng , bóng mặt trời , mây trắng , ngọ trưa ...những hình ảnh biểu tượng của HIỆN TẠI ngọt ngào cháy bỏng .
  Mặc cho phận người lênh đênh , mong manh , tàn phai ,..Trịnh công Sơn trực nhận trong diễn trình hủy diệt vẫn có mầm sống , sức sống dâng trào . Anh giống như một người bị hổ dữ rượt đuổi rơi xuống vực sâu và một tay bu bám cành dâu bên bờ vực , một tay an nhiên hái những trái dâu chín và cảm thấy hạnh phúc bởi vị ngọt của dâu !
   Hạnh phúc khi có khi không , khi còn khi mất . Và mất là tất yếu .
   Trăng tròn rồi lại khuyết , hoa nở để rồi tàn ...Một  "bóng hồng  thấp thoáng nẻo xa " cũng có nghĩa là sẽ quay gót ra đi ..Có cái nhìn biến dịch như vậy mới thấu hiểu được cõi đời giả tạm , cõi người mong manh .
   Cuộc đời là một dòng sông . Con người đi qua cuộc đời như một lưu lượng nước liên lỹ trên dòng sông đó . . Trịnh công Sơn tự nguyện làm khách lãng du rong  chơi trên cõi đời nầy mà  vẫn không biết đâu nguồn cội .  "  Em đi qua chuyến đò thấy con sông đang nằm ngủ
   Con sông là quán trọ và trăng tên lãng du ..."
  Ngươi khách lãng du đó tự nhận là quá nhiều nợ nần với cuộc đời
  " Trăng ơi trăng rất tệ ...mày đi nhớ chóng về .."

  Con người luôn luôn bận bịu với cuộc sống - vội vã , hối hả , lăng xăng ..và sẵn sàng vong thân . Như hòn đá cuội trôi lăn trong lòng khe suối bị giủa mòn góc cạnh , nhưng cuội muôn đời vẫn là đá ; suối muôn đời vẫn là suối :
" Tôi xin làm đá cuội và lăn theo gót hài .."
Trịnh công Sơn , một tên lãng tử ca hát nghêu ngao , rêu rao cái điều đáng sống trong cõi đời trong khuôn khổ giới hạn của cõi người .
Vạn vật sinh sôi nẩy nở theo tứ thời bát tiết . Người nghệ sĩ  hơn ai hết , nhận ra cái đẹp của sự biến dịch , cái sinh cơ của tạo hóa .
Cái đức "Trinh " của tạo hóa là sự thành tựu , sự sinh sôi của vạn vật . Người nghệ sĩ hòa nhập với lẽ tự nhiên - vui thú lắng nghe nhịp thở của đất trời , bước đi của thời gian , sự vận hành của trời đất
"Bốn  mùa như gió , bốn mùa như mây
Những dòng sông nối đôi tay liền với biển khơi ..."
      Những ưu tư phiền muộn , tị hiềm , thù hận ...chỉ là những con sóng trên bề mặt . Sự lắng lòng , tỉnh thức mới là mạch sóng ngầm giữa lòng sâu ; bảo tồn một hơi ấm , điều hòa cả bốn mùa tám tiết được bền lâu .
   " Bốn mùa thay lá thay hoa thay mãi đời ta "
  Một ngày là một đời sống mới . Trong không gian vô cùng vô tận và thời gian vô thỉ vô chung , sự có mặt của con người là một mầu nhiệm đối với ai biết giữ cho mình một nụ cười .
  Hạnh phúc đến trong những khoảnh khắc tình cờ ngẫu nhỉ . Giữ lại nụ cười giữa muôn vàn đổi thay ; Hạnh phúc trong tay  ta sá gì dâu bể .
  Ta hãy nghe Trịnh công Sơn bộc bạch : "Trước cũng như sau 15 năm tôi luôn luôn thấy mình là một con người ấy . Tôi mãi mãi ước mơ được lưu giữ cho riêng mình một nụ cười không đoạn tuyệt .Tôi đã hứng giữ lại trên vai mình những gánh nặng của cuộc đời với lòng bình an không sầu thảm cũng như sống những tháng ngày trên cổ xe nhân hậu của tình người và hoan lạc vô bờ ...Chỉ có một dòng đời trôi chảy miên man ...Mỗi ngày tôi gạn lọc mình để trở thành một ánh nắng tinh khiết vô nhiểm ."
Đêm chờ ánh sáng , mưa đợi cơn nắng
Mặt trời lấp lánh trên cao vừa xa vừa gần 

   Sống, chết là cặp phạm trù khó dung nạp mà cũng khó phân ly  . Với Trịnh công Sơn thì sống trong nỗi chết và chết trong nỗi sống .  Sống trong nỗi chết là ý thức rất rõ về sự tồn sinh hủy diệt của vạn hữu . Vạn hữu giai không . Vì không có tự tính nên các duyên hợp lại thì còn mà các duyên tan rã thì  mất . Một hơi thở ra nếu không còn đủ điều kiện hít vào là chết . Cảm nhận sự chết trong lúc sống là sẵn sàng chấp nhận sự tìm về với hư không . Trở về một mình trong nỗi cô đơn chất ngất .Bởi vì ai cũng ra đi một mình và trở về một mình  . Ý thức được điều đó mới có thái độ an nhiên khi trở về . Triết gia Heideguer khẳng định : " Kẻ nào cảm nhận được chết trước khi nó chết thì nó mới không chết khi nó chết "
    Riêng với Trịnh công Sơn thì  :
   "Trời cao đất rộng một mình tôi đi
 Đời như vô tận một mình tôi về với tôi ..."















   















Thứ Ba, 28 tháng 8, 2012

Với Từ Hải

                                                                      

           Anh từ biển rộng sông dài 
      Mon men đến chốn trần ai làm gì ?
          Vung gươm lên để được chi ? 
       Bất công vẫn mãi muôn đời bất công
          Nỗi niềm chi với non sông
      Gươm đàn nửa gánh - tay không : một giờ ! 
          Hồ Công tráo trở ai ngờ
     Rừng gươm núi giáo phục chờ tướng quân
          Anh Từ ơi ! kiếp giang hồ 
    "Mười năm sự nghiệp bây giờ là đây "!(1)
         Nỗi niềm riêng có ai hay ?
     Nặng  tình với Thúy - dỡ hay cũng đành 
             Thúy rằng :"  cỏ nội hoa hèn 
     Chút thân bèo bọt dám phiền mai sau " (2)
                                                          Từ rằng : Hải lượng thiên ân 
                                                        Cho em ngần ấy có cần chi hơn

                                                          Từ quân ơi cũng một đời !
                                                        Trăm năm đại nghiệp đổi lời tri âm 
                                                          Báu chi danh tướng cát lầm
                                                    Ngàn thu há dễ " ngàn tầm ...tùng quân"(2 )

                                                         Chỉ vì  một ngọn gió giông
                                                      Gốc tùng xiêu đổ- cát đằng bơ vơ .


 (1)
Thơ Nguyễn Đình Toàn - Khúc ca Phạm Thái 
(2 )Thơ Nguyễn Du - Truyện Kiều 

Thứ Bảy, 25 tháng 8, 2012

Một sự kiện đáng mừng cho đaọ pháp và dân tộc

            wthaytamman_______ng_Nguy___n_V__n_c_____63__447147717 (3).jpg


     Có một sự kiện quan trọng làm xôn xao dư luận trong giới phật tử : Đó là đại nguyện của Đại Đức Thích Tâm Mẫn phát dậy Bồ Đề tâm làm một cuộc hành hương  nhất bộ nhất bái từ chùa Hoằng Pháp ( Saigòn ) đến núi Yên Tử  ( Quảng Ninh ) . Cuộc hành trình khởi đầu từ mồng 2 tết Kỷ Sửu ( 2009 ) . Tính đến nay thầy đã đi được gần bốn năm , đã đến địa phận tỉnh Bắc Ninh , gần hoàn thành  ý nguyện . Trong các bản tin , vidéo người ta thấy hình ảnh của thầy mặc áo tràng nâu , đắp y vàng , lạy sát đất trên đường phố đông người và xe cộ qua lại . Hình ảnh nầy gợi chúng ta nhớ đến hình ảnh tương phản của một nhà sư lái xe hơi , tay lái quá đà nên bị lật ngửa ở một vòng xoay giữa phố Saigon  ( câu chuyện nầy được đưa lên báo vào những ngày giáp tết năm Nhâm Thìn 2012 ) . Đem hai hình ảnh và hai sự kiện nầy đặt cạnh nhau ta thấy có nhiều điều để nói về hiện trạng và tương lai đạo pháp .

  Hành hương , kinh hành , thiền hành là truyền thống tu trì của Phật giáo . Hành hương về đất Phật , đi bộ từng bước vững chãi là phép tu rèn luyện tâm ý :
 "Ý về muôn vạn nẻo 
 Thiền lộ tâm an nhiên 
 Từng bước gió mát dậy 
 Từng bước nở hoa sen "
                 ( luật Tì Ni )

  Vừa đi vừa điều nhiếp hơi thở , tâm ý đạt đến trạng thái an nhiên tuyệt niệm .
Lạy sát đất cũng là pháp tu địa xúc . Tiếp xúc với đất để quét sạch ý niệm ngã và ngã sở trong niềm sám hối thống thiết , thành khẩn để được chở che , ôm ấp gọi là sám pháp địa xúc . Đất vốn dày và rộng , chứa đựng và ôm ấp , cho nên tiếp xúc với đất sẽ được an lành ( địa quãng hàm tàng , xúc chi tất an ) .
    Vừa đi bộ vừa lạy trên đường hành hương về đất Phật không phải là chuyện lạ lẫm cũng chẳng phải là cuồng thiền hay là mê tín . Chữ Hành ( ) trong tiếng Hán vừa là đi , vừa là làm mà cũng là đức hạnh nết na hạnh kiểm . Khác một điều là nếu làm với tâm náo loạn , tham dục , ái nhiễm thì là tâm hành  ; còn làm với tâm thanh tịnh trong sạch thì là pháp hành . Hành hương về đất Phật là pháp hành . Trong thế kỷ trước , bên Trung Quốc có Hòa thượng Hư Vân lập nguyện báo ân hiếu mẫu bằng một cuộc hành hương tam bộ nhất bái từ Phổ Đài Sơn đến Ngũ Đài Sơn . Chuyến đi trong ba năm ròng rã , công đức của ngài mới thành tựu viên mãn . Ngũ Đài Sơn là thánh địa , là đạo tràng của ngài Văn Thù Sứ Lợi . Ngài Hư Vân vừa đi vừa lạy , tới sông Hoàng Hà thì gặp trời đổ mưa tuyết , ngài bèn tạm trú trong một căn lều .  Vừa đói vừa lạnh , thân thể mất hết cảm giác , ngài bất tỉnh nhân sự .Tỉnh dậy ngài thấy có người nấu cho một nồi cháo . Ăn xong ngài được lại sức và tiếp tục cuộc hành trình . Tới Ngũ Đài Sơn ngài mới hay người nấu cháo chính là hóa thân của Bồ Tát Văn Thù . Trong tất cả những cuộc hành trình cầu pháp với lòng chí thành chí thiết dù có gặp tai ương kiếp nạn , nhưng trong chốn vô hình vẫn có Chư Bồ Tát , Chư Thần Hộ Pháp ủng hộ . Ví như cuộc du hành thỉnh kinh của Đường tăng Tam Tạng vậy .
   Cuộc hành trình của Đại Đức Thích Tâm Mẫn đến nay đã gần bốn năm trời và thầy đã sắp về đến đích .Lập nguyện của thầy là cầu cho quốc thái dân an . Đó là điều đáng mừng cho dân tộc . Còn về phương diện đạo pháp thì đây là đại hạnh nguyện buông bỏ tứ đại , dũng mãnh thực hành lý vô ngã . Ai mục kích hoặc nghe thấy việc làm của Thầy cũng phải chửng lại để có dịp tự soi lại mình .



wthaytamman_______ng_Nguy___n_V__n_c_____63__447147717.jpg


  Xưa nay ta vẫn tin nhiều người lập được những thành tích  phi thường  như một phụ nữ vượt Đại Tây Dương bằng một chiếc du thuyền , hoặc một người đàn ông bay qua nhiều châu lục chỉ bằng một khinh khí cầu ...Thế nhưng khi nghe câu chuyện một nhà sư làm cuộc hành hương nhất bộ nhất bái trên một chặng đường gần hai ngàn kilômét thì ai cũng tưởng là chuyện hoang đường . Nhưng đây tuy là chuyện khó tin mà có thật . Vâng ! Nó có thật giữa lòng một thời đại mà phương tiện cơ giới đã đạt đến trình độ siêu tốc ; nó có thật giữa một xã hội chuộng kim tiền , vật chất , ai nấy lăng xăng , dáo dác , đôn đáo , bon chen luồn lách ...tìm đủ mọi mánh khóe để thu gom thật nhiều tiền của về phía mình ; nó có thật giữa những đại gia ném tiền qua cửa sổ ,du hí ăn chơi hưởng thụ ; nó cũng có thật trong thời mạt pháp mà mọi sinh hoạt của Giáo Hội cũng bị lây bệnh thành tích chủ nghĩa . Đó là chưa kể đến những những giấy bạc giả của nhà chùa lạm dụng phương tiện , mượn đạo tạo đời .

  Cốt tủy của đạo Phật là tu hành và tự mình thể hiện chân lý .Ai tu nấy chứng . Nói đến tu hành là nói đến rèn luyện , thực tập ( training ) chứ không phải là sở học ( learning ). Ngày xưa trong các thiền viện , người theo học đạo với thầy được gọi là hành giả .Hành giả phải tự hạ thủ công phu , tự tu tự chứng . Kinh giáo và sư thầy chỉ đóng vai trò trợ lực , khai tâm . Hành giả phải tự thắp sáng ngọn đèn trong tâm của mình . Phật dạy các đệ tử hãy tự thắp đuốc lên mà đi . Ngày xưa có một ông mù đến chơi nhà ban ; khi về thì trời đã tối . Chủ nhà cho ông mù mượn chiếc lồng đèn . Ông ấy nói không cần vì ông không thấy ánh sáng . Người bạn bảo để người đi đường thấy mà tránh . Trên đường đi , ông mù va phải người đi đường vì ngọn đèn của ông đã tắt tự bao giờ mà ông không hay .
          Phần lớn người đời vay mượn ánh sáng của người khác nên thường bị va vấp mà chẳng biết . Thắp sáng ngọn đèn trong tâm là thường xuyên , chuyên nhất thực hành lời giáo huấn của chư Phật :
    Chư ác mạc tác 
    Chư thiện phụng hành 
    Tự tịnh kỳ tâm 
    Thị chư Phật giáo 
 ( không làm mọi điều ác
 thành tựu các hạnh lành
 tâm ý giữ trong sạch 
chính lời chư Phật dạy )

     Cụm từ " giữ tâm trong sạch " ta thấy nói thì dễ mà làm thì khó .
   Đại đức Tâm Mẫn phát dậy Bồ Đề tâm làm cuộc hành hương nhất bộ nhất bái để rèn luyện tâm ý kiên định , củng cố niềm tin xác tín đối với Chư Phật . Ý nghĩa cuộc hành trình nầy không nằm ở điểm đến hoặc mục đích đến mà nắm ở chỗ đang đi . Đành rằng  có đi thì sẽ đến , có cầu ắt sẽ được . Hình ảnh của một người trẻ tuổi lạy sát đất giữa đường phố người , xe tấp nập lăng xăng bươn bả là hồi chuông cảnh tỉnh mọi người dừng lại trong giây lát , làm sạch tâm ý mình . Mỗi bước đi với mỗi cái lạy của Thầy đều trong cảnh giới nhất niệm bất sinh . Gieo mình năm vóc sát đất là hành động buông bỏ tứ đại , kể cả ngã và ngã sở . Nói như Huệ Trung Thượng Sỹ trong " Phóng cuồng ca " :
     Buông bỏ tứ đại hề đừng nắm bắt 
     Tỉnh một đời hề thôi chạy quàng 
     Thỏa nguyện ta hề được ngã sở 
     Sống chết bức nhau hề ta vẫn coi thường . 

  Tóm lại , toàn bộ câu chuyện về chuyến hành hương đến xứ Phật của Thầy Tâm Mẫn là một tin vui đối với dân tộc và Đạo Pháp . Thì ra Đạo Pháp vẫn còn những bậc chân tu , những chủng tử Bồ Đề phát tâm đại nguyện để duy trì chánh pháp . Trong cuộc hành trình của đạo pháp và dân tộc , Phật giáo luôn luôn tiềm ẩn trong mạch sống của dân tộc . Đạo Pháp tuy không bước cùng nhịp , đồng hành với thời đại song luôn luôn cọng hưởng cùng dân tộc trong cuộc hành trình  miên viễn .


Thứ Ba, 14 tháng 8, 2012

Làm từ thiện với tâm bồ đề

Không Phát Tâm Bồ Đề Không Vãng Sanh    Nguyên động lực của việc đi làm từ thiện là từ bi và trí huệ  ( hiểu và thương ) .  Trí huệ và từ bi là hai mặt của tâm Bồ Đề  ( Bohdicitta) . Đi làm từ thiện mà đánh mất tâm Bồ Đề thì việc làm đó trở nên vô bổ và có nguy cơ tạo nghiệp . Kinh Hoa Nghiêm cảnh báo :
Vong  thất Bồ Đề tâm , tu chư thiện pháp , thị danh ma nghiệp "
 ( quên mất tâm Bồ Đề , tu các thiện pháp , đều là việc làm của ma  ) . Trong luật sa di cũng có câu : " Kim nhân bất năng như thị hành từ " ( Người đời nay không biết thực hành lòng yêu thương một cách như vậy ) . Chữ "như vậy"  ở đây có nghĩa là không kiên cố Bồ Đề tâm .
    Thế nhưng Bồ Đề tâm là gì ?

 Bồ Đề tâm là lòng Bồ Đề , là tâm Phật , là lòng giác ngộ . Hiểu hết ý nghĩa phong phú của Bồ Đề tâm là đạt đến giác ngộ viên mãn . Chính Bồ Đề tâm làm cho Bồ Tát thành Bồ Tát , làm cho Phật thành ra Phật . Không có Bồ Đề tâm sẽ không có cái gọi là giáo hội ,  tăng đoàn ; ngay cả các hoạt động từ thiện cũng trở nên vô nghĩa .
    Bồ Đề tâm có hai mặt : Từ Bi , Trí huệ . Từ bi được hoạt hiện bằng phương tiện thiện xảo qua năm ba la mật : bố thí , trì giới , nhẫn nhục , tinh tấn , thiền định . Phương diện này thuộc về tục đế .
   Còn trí huệ ba la mật còn gọi là Bát Nhã ba la mật , hay còn gọi là  Không tính . Phương diện này thuộc về chân đế .
   Trong sáu ba la mật nói trên thì trí huệ ba la mật là bình chứa của tất cả ba la mật khác . Nếu bình chứa không được nung kỹ thì tất cả những thứ được  chứa trong đó sẽ bị rò rỉ . Nói tắt , trí huệ ba la mật là căn bản của sáu ba la mật .
  Bồ Đề tâm nói gọn lại là từ bi và trí huệ , là tâm bồ tát , là tâm Phật . Tâm Phật khác với tâm chúng sinh ở chỗ tâm chúng sinh  ( gọi là nhất thiết chủng trí ) có đầy đủ yêu thương , hờn giận , si mê, trí lực , khổ đau , hạnh phúc . Còn tâm Phật gọi là bình đẵng tánh trí : Không còn phân biệt , không kẹt vào tướng , không kẹt vào khái niệm , không kẹt về ngã , về nhân , về chúng sanh , về thọ giả ...
  Tán thất Bồ Đề tâm tức là đánh mất tâm Phật , mất cả Bồ Tát hạnh . Đi làm từ thiện là thực hiện hạnh Bồ Tát . Một cư sĩ bình thường có thể thọ Bồ Tát giới và thực hành hạnh Bồ Ttrong thế giới tục đế . Bồ Tát đi thánh hóa cuộc đời nhưng nếu đánh mất Bồ Đề tâm thì sẽ bị đời tục hóa . Kinh Phổ Minh Bồ Tát nêu ra bốn điều khiến cho Bồ Tát đánh mất Bồ Đề tâm như sau :
   1/ Lường gạt thầy dạy đạo của mình , không tôn kính những pháp môn và những kinh Phật mà mình đã được truy dạy
  2/ Gây tạo sự ngờ vực không xác đáng và sự ân hận hối tiếc vô cớ vào trong lòng người khác
  3/ Chửi rủa phỉ báng những kẻ cầu đạo đại thừa  , rồi bêu xấu họ khắp nơi
  4/  Xun xoe nịnh hót và lòng dạ quanh co , không được thẳng thắn thật lòng khi tiếp xúc tùng sự với người đời .
     Một khi phạm vào các điều nói trên ( trong kinh Phổ Minh ) thì các hành giả đã đánh mất Bồ Đề tâm của mình . Và như vậy thì việc bố thí , trì giới , ....đều trở nên vô nghĩa .
   Đi làm từ thiện thì cần phải kiên cố Bồ Đề tâm , phải có tâm bình đẵng , tánh trí , vô phân biệt trí . Bài thi kệ của Lục Tổ Huệ Năng sau đây nói về tâm vô trước trong cảnh hồng trần :

   Ngột ngột bất tu thiện 
  Đằng đằng bất tạo ác 
  Tịch tịch đoạn kiến văn
   Đảng đảng  tâm vô trước 

Tạm dịch :

     Trơ trơ không tu thiện 
     Lăng xăng không tạo ác 
     Tẩy trừ tâm phân biệt 
     Hiển bày tâm vô trước 

       Tâm vô trước là tâm không còn phân biệt . Đi làm từ thiện mà còn vướng , còn chấp , còn nhân , còn ngã , ....thì vô tình đã đánh mất  hết Bồ Đề tâm !





Thứ Bảy, 28 tháng 7, 2012

Trung Quốc xưa và nay

  
Nhân đọc một bài xã luận của nhà báo Chu phương - biên tập viên đối ngoại của Tân hoa xã  - đăng trong blog cá nhân của ông  tôi trực nhận sự dị biệt to lớn giữa Trung Quốc cổ đại và Trung Quốc đương đại . Chu Phương đã khẳng định : " Trung Quốc cổ đại và chính quyền Trung Quốc hiện nay không phải là một quốc gia . Giữa hai thực thể nầy ngoài việc kế thừa ở một chừng mực nhất định nào đó về văn hóa ra , căn bản không có một tí liên hệ nào cả " . Phải chăng về mô thức xã hội , định chế chính trị của Trung Quốc ngày xưa đã hoàn toàn biến thái từ một xã hội tình sang một xã hội lý . Đó là một hiện tượng vong thân trong  chính trị .Chính vì vậy mà TQ dần dần bớt bạn thêm thù . Chu Phương cũng như các bậc thức giả khác của Trung Quốc hiện nay đang rất quan ngại về mưu đồ bành trướng của chính quyền Trung Quốc . Sự kiện nầy dễ dẫn đến chiến tranh  , mà chiến tranh thì ai cũng sợ hãi  vì chiến tranh là con yêu tinh tàn hại gieo rắc đau thương và chết chóc .. Trừ những chủ đầu tư và những kẻ buôn bán vũ khí thì không ai muốn chiến tranh cả . Nguyên nhân nào khiến cho TQ cổ đại và TQ ngày nay  không còn " một tơ hào quan hệ nào cả ? " ?

      Tôi còn nhớ hai câu thơ của một tác giả xứ Quảng viết sau cuộc chiến vệ quốc chống giặc xâm lăng biên giới phía Bắc vào cuối thập niên 70 : " tôi yêu Trung Hoa vì một lẽ sau cùng , đất nước có thơ Đường và liễu rũ ". Đó là cách nói hình tượng của thi ca . Thật ra Trung Quốc cổ đại không chỉ có " thơ đường và liễu rũ " mà có cả một nền văn minh tối cổ , một hệ thống tư tưởng triết học ngang tầm với buổi triêu dương của triết học Hy Lạp . Triết học Hy Lạp có tầm ảnh hưởng đối với châu Âu giống như triết học Trung Quốc có tầm ảnh hưởng sâu rộng đối với châu Á . Tiếc thay những tinh hoa của Nho , Phật , Lão đã không được kế thừa phát huy trong đời sống xã hội Trung Quốc mà lại bị thay thế bằng một thứ chủ nghĩa vay mượn của phương Tây . Tất cả những học thuyết chủ nghĩa của Tây phương đều là sản phẩm của của một loại triết học phạm trù  ( philosophie cathégorique )thiên về lý niệm  ( concept). Những thứ chủ nghĩa bắt đầu bằng chữ duy ( ism) là căn nguyên nguồn cội của những định kiến , cố chấp .Trong khi Tây phương hành trình về Đông phương để tạo lập lại cân bằng trong tư tưởng triết học thì đông phương - cụ thể là TQ- lại du nhập một sản phẩm ý thức hệ của Tây phương ! Cuộc cách mạng văn hóa diễn ra ở TQ đã tẩy trừ những tinh hoa của Trung Hoa cổ đại .Dọn cỏ mà không trồng hoa đã là tệ hại ; dọn hoa mà không trồng lại loại cây thích hợp với thổ nhưỡng thổ ngơi còn tệ hại hơn . Tên nước Trung Hoa thể hiện lòng tự hào về một quốc gia trung tâm của những tinh hoa nhân loại .Đó là sở trường , là điểm mạnh mà cũng là quốc bảo của  dân tộc Trung Hoa .Phật giáo du nhập vào Trung Hoa làm cho văn hóa của đất nước này thêm phong nhiêu đa dạng .Đạo lý nhân nghĩa của Khổng Mạnh được xem như một căn bản đạo đức trong đời sống xã hội . Khổng tử đi du thuyết khắp thiên hạ để đề cao chữ Nghĩa trong khi ai nấy đều nghĩ đến cái Lợi. Khổng Tử không coi thường cái lợi mà cho cái lợi phải theo sau cái nghĩa !: " Nghĩa trước mà lợi sau là vinh , lợi trước mà nghĩa sau là nhục " . Mạnh Tử sau này khẳng định : " Nếu chỉ nghĩ đến cái lợi trước thì kẻ nầy cướp hết đất của người kia mới hả dạ  " . Người chính danh quân tử là người chí nhân chí nghĩa . Nhân là mối quan hệ đẹp lành giữa ngừơi với người ; Nghĩa là mối quan hệ nhu thuận hòa hợp giữa cá nhân và cộng đồng , quốc gia xã tắc .( Trong cấu tự chữ Hán thì  Nhân gồm có  bộ nhân đứng và chữ nhị  ; Nghĩa gồm có bộ dương và chữ ngã   ).Xưa , Nguyễn Trãi dương cao lá cờ khởi nghĩa của Lê Lợi bằng hai chữ nhân nghĩa : " Đem đại nghĩa để thắng hung tàn ,lấy chí nhân để thay cường bạo "
                                                                          
 Nay chính quyền Trung Quốc với bản đồ lưỡi bò đã có ý đồ tóm thâu vùng Đông hải  thành Nam hải , lấn chiếm biển đảo của các nước lân bang , đó là hành động bất nghĩa , bất nhân  và phi pháp . Vùng biển đông ngoài hải phận của các nước còn có vùng ' công hải ' . TQ làm như vậy là hám  cái lợi trước mắt mà bỏ đi cái nghĩa lâu dài  . Hành động này của Trung Quốc đi ngược lại tuyên ngôn của chủ nghĩa cộng sản :"Giai cấp vô sản trên toàn thế giới đoàn kết lại ". Đó là tinh thần quốc tế vô sản . Cộng sản Trung Quốc sau khi thống nhất đất nước , tóm thâu quyền lực đã không là cộng sản quốc tế mà đã Trung Quốc hóa cọng sản . Các nước cọng sản đàn em của TQ ngây thơ cả tin vào ông anh xấu bụng rồi ra sẽ mất cả chì lẫn chài . Kết nghĩa với người anh thuộc loại Lý Thông thì sớm muộn gì cũng bị lợi dụng .
    Thông thường khi chưa nắm quyền lực , các chính trị gia liên minh với kẻ yếu ; nhưng khi nắm quyền lực rồi , họ lại trở thành kẻ mạnh hiếp yếu . 
 Chính quyền TQ muốn bành trướng , chinh phục các nước nhỏ bằng sức mạnh quân sự là một sai lầm lớn . Đế quốc Mông Cổ đã từng dẫm đạp lên nửa thế giới dưới gót giày chinh phạt ; bây giờ lại bị nội thuộc Trung Quốc  .
  Điểm mạnh của TQ là văn hóa . Tại sao TQ không phát triển thành  cường quốc văn hóa ? !
Khi đã là cường quốc văn hóa thì sẽ có đủ tác nhân để trở thành cường quốc kinh tế ! Hàn Quốc , Nhật Bản ảnh hưởng sâu đậm văn hóa Trung Hoa cổ thời đã phát triển kinh tế bằng bản sắc văn hóa dân tộc . Xem phim Hàn Quốc người ta thích dùng sản phẩm của quốc gia nầy vì sắc thái văn hóa dân tộc của Hàn  bộc lộ qua phim ảnh . Sắc thái văn hóa của một dân tộc làm nên bản sắc dân tộc và sức mạnh của dân tộc đó .
   Thiền sư Thích Nhất Hạnh đã nói : " Sẽ không có hạnh phúc nếu tự mình nhổ ra khỏi gốc rễ của truyền thống ". TQ ngày nay đã tự nhổ ra khỏi gốc rễ của truyền thống văn hóa cổ thời nên không còn được sự ngưỡng mộ của các nước lân bang . Tệ hại hơn nữa là TQ trở thành mối nguy   cơ đe dọa an ninh quốc gia lân bang trong khu vực và trên thế giới .

   "Trong một thời gian dài , thủ đoạn chinh phục duy nhất của TQ đó là dùng văn hóa , bây giờ là kinh tế ...nhưng sẽ không bao giờ là quân sự ...Bởi vì đạo lý Khổng Mạnh không cho phép ; bản tính của người dân Trung Quốc cũng không cho phép "( Chu Phương )

       Đúng vậy , nếu TQ dùng quân sự để chinh phục các nước yếu là nghịch với ý trời , với lòng dân và với công ước quốc tế về sự bình đẵng giữa các dân tộc . Nghịch với lòng dân thì sớm muộn gì cũng sẽ tiêu vong . Bởi vì dân là nước , nước làm cho thuyền nổi mà cũng có thể làm cho lật thuyền !




Thứ Năm, 19 tháng 7, 2012

tản mạn ký ức về Bùi Giáng



tranh của họa sĩ Đinh Cường 
       Đức Khổng Phu Tử cho rằng ở đời có ba hạnh phúc lớn nhất :
  - Một là cha mẹ còn sống , anh em hòa thuận
  -Hai là được gần gũi với những thiện trí thức
  - Ba là nhìn lên không thẹn với trời , ngó xuống không hổ với người và nhìn lại trong lòng mình không có gì tội lỗi .
   Tôi may mắn có được hạnh phúc thứ hai , nghĩa là có dịp gần gũi với các bậc  thiện trí thức như Bùi Giáng , Phạm công Thiện , Nguyễn Đăng Thục ,...
   Trong những năm học phổ thông tôi đã rất mê đọc Bùi Giáng :  Mưa nguồn , Lá hoa cồn , Mùa thu thi ca , Sa mạc phát tiết , ...Nhưng mãi đến năm 1969- 1970 tôi mới được gặp và làm quen với một Bùi Giáng bằng xương bằng thịt - đó là lúc tôi mới bước chân vào Đại học Vạn Hạnh -Có ai đó cho rằng : " Các cô gái tốt thì tìm đọc những quyển sách hay , còn các bậc thánh nữ thì tìm cách ngủ với tác giả của nó " .Tôi tuy không phải là thánh nữ nhưng cũng tìm mọi cách " ăn nằm " với Bùi Giáng . Mặc dù trong giới phê bình thời đó có người lên án : " Bùi Giáng và Phạm công Thiện là hai con rắn ẩn náu trong trong Đại học Vạn Hạnh chuyên phun nọc độc ..".Nọc rắn làm chết người nhưng cũng là dược tố cứu người . Thượng tọa viện trưởng viện Đại học Vạn Hạnh dường như thấy được dược tính của hai loại rắn này nên mời hai vị này cọng tác giảng dạy tại viện . Nagaruna ( Long Thọ bồ tát ) cũng đã từng phun nọc độc về tánh không luận .Phạm công Thiện thì chịu cọng tác với viện ở cương vị là khoa trưởng phân khoa văn học và khoa học nhân văn . Nhưng còn họ Bùi thì vốn ghét cay ghét đắng kiến thức kinh viện , triết lý nhà trường nên một mực từ chối .Tuy vậy , thầy viện trưởng vẫn sắp xếp cho Bùi Giáng một phòng đối diện với phòng của Phạm công Thiện gần tòa viện trưởng . Ý thầy viện trưởng là không muốn cho họ Bùi giong rủi ,lang thang trên khắp phố thị Sài Gòn và có chỗ ổn định để trước tác , dịch thuật . Phải nói là viện trưởng thực là có con" mắt xanh "  nhận ra thiên tài dịch thuật của họ Bùi . Những danh tác của Shakespeare, của André Gide , Saint Ext, Hermann Hesse , Nietzche, Heidegger vv...lần lượt được họ Bùi chuyển dịch sang tiếng Việt bằng một ngôn ngữ dịch thuật điêu luyện đến mức không còn thấy dấu vết của sự điêu luyện .. Lâu nay người ta chỉ biết Bùi Giáng là một thi sĩ điên gàn , ít có ai ngờ rằng Bùi Giáng còn là  một nhà dịch thuật , một nhà tư tưởng và là một nhà hội họa . Bùi Giáng thường hay nói đến nàng Kim Cương trong thơ chỉ vì Bùi Giáng rất mê kinh Kim Cương của nhà Phật . Chỉ một cuốn kinh Kim Cương đã chi phối toàn bộ tư tưởng của họ Bùi . Mỗi lần đến thăm chơi với Bùi Giáng tôi đều bắt gặp ông đọc bộ kinh Kim Cương nguyên bản chữ Hán nét chữ nhỏ liu riu như con kiến .Gian phòng rộng và thoáng nhưng sàn nhà thì vương vãi tàn thuốc ...Bùi Giáng trong tư thế nửa nằm nửa ngồi , lựng dựa vào tường ; dưới cặp kính dày như hai đít chai là hai con mắt thao láo chăm chú vào trang sách , không cần biết có ai ở kế bên cả . Tôi bỗng có cảm giác như đang thấy một con gà đang ấp trứng ...hay một con mèo đang rình chuột vậy .
   Xưa , tổ Huệ Năng cũng nhờ nghe một câu  ( Ưng vô sở trụ nhi sanh kỳ tâm )trong kinh Kim Cương mà ngộ . Với Bùi Giáng thì nguồn cảm hứng thi ca về nàng Kim Cương cũng tuôn trào từ đó . . Và điều trùng hợp lý thú là Phạm Công Thiện đang tu tại một chủng viện ở Đà Lạt bay về Nha Trang sau khi viết cuốn " Ý thức mới trong văn nghệ và triết học " ; tại Phật học viện Hải Đức Nha Trang Phạm công Thiện được Tuệ Sỹ giới thiệu cho cuốn Kim Cương ; đọc xong bộ kinh , Phạm công Thiện cởi chiếc áo dòng , cạo đầu và ...mặc vào chiếc áo nâu sòng !
  Không cần phải đọc nhiều , học nhiều , chỉ cần ngộ ra một điều là thông suốt tất cả ! "Nhất ánh xuân quang xứ xứ hoa " ( Tuệ Trung Thượng Sỹ ) Chỉ cần một tia nắng của mùa xuân thì đâu đâu cũng nở hoa xuân .
   Sau năm 1975 tôi gặp Bùi Giáng ( lần cuối ) trước cổng trường Đại học Vạn hạnh . Tiên sinh đội một cái sọt rác trên đầu , khoác chiếc áo choàng của phụ nữ , dắt theo mấy con chó .Nghe nói mấy con chó nầy đi đâu ông cũng dẫn theo làm sủa vang các hẻm đường .; có hồi ông dồn tất cả vào bao bố và vác trên lưng làm chúng ngộp thở ngất ngư chỉ còn kêu hực hực trong bao .Đàn chó nầy mỗi con đều có một cái tên . Và có người kinh hoàng khi nghe ông gọi  tên con chó  xấu xí , nhếch nhác nhất trong đám bằng cái tên  nhân vật số một của lịch sử hiện đại .Tôi mời ông ghé lại quán cà phê Nha tu thư của Viện Đại học Vạn Hạnh để thăm hỏi , hàn huyên . Câu chuyện đang vui vẻ bỗng nhiên tôi vô tình nhắc đến một cái tên khiến tiên sinh bất thình lình nổi đóa la hét chửi bới ...làm tôi hoảng hốt lính quính thiếu điều quên trả tiền cà phê ...Ra tới đường , tôi nhìn theo tiên sinh , thấy tiên sinh đang bước những bước khoan thai trên hè phố - những bước chân xem ra vững chải như ngọc tỷ của Quốc Vương in lên tờ chiếu chỉ . Tôi bỗng nhớ mấy câu thơ của ông mà tôi đã từng mê :
      Đường phố thị cũng xa bay như gió
      Cộ xe nhiều cũng nhảy bỗng như hươu
      Bờ cõi dựng xuân xanh em còn đó
      Bến đào nguyên anh khoác áo khinh cừu

   Ông La Toàn Vịnh , cựu sinh viên trường Mỹ thuật Gia Định , trên số báo kinh tế ngày 17/10/1998 có nhắc chỗ ông Xuân Diệu diễn thuyết trong khuôn viên trường Mỹ thuật , Bùi Giáng đi tới đi lui ngoài cổng trường và chửi đổng : " Mẹ mày Xuân Diệu ...Mẹ mày Xuân Diệu ..." Nhớ đến đây tôi không thể không bật cười mà tưởng tượng ra cái dáng đi , cái điệu nói , tiếng cười và cả giọng chưởi của ông ...

     Vào ngày 17/ 8 năm Mậu Dần ( 7/ 10/ 1998 ) tôi bàng hoàng khi hay tin Bùi Giáng đã ra đi . Vì xa xôi cách trở nên tôi không về được Sài Gòn để dự đám tang của tiên sinh tại chùa Vĩnh Nghiêm . Sau đó , tôi được một người bạn trao cho tập kỷ yếu Bùi Giáng . Lần này tôi lại nao lòng hơn khi bắt gặp đôi mắt của Bùi sau làn kính cận in trên trang bìa của tập sách . Ôi ! đôi " biệt nhãn " đó đã từng rình rập từng chữ , từng câu trong bộ kinh Kim Cương, làm tôi lại nghe rúng động với cái cảm giác thấy mèo rình chuột ,thấy  gà ấp trứng năm nào ! Bùi Giáng đã ra đi,  nhưng ,  những đấng tài hoa như tiên sinh thì " thác là thể phách , còn là tinh anh " .

      Trong thế kỷ XX , ở Việt nam xuất hiện hai thiên tài : Một là Bùi Giáng diễn đạt tư tưởng bằng thi ca , dịch thuật , phê bình , khảo luận ; hai là Trịnh công sơn diễn đạt tư tưởng bằng âm nhạc với những ca từ giàu chất thơ . Đó là những minh triết của thời đại chúng ta . Có lẽ , phải đợi một thế kỷ sau thì hào quang của hai con người ấy mới len lõi đến mọi ngỏ ngách của tư tưởng con người Việt Nam

                            Bài viết vào cuối năm Mậu Dần (1998)

Thứ Tư, 4 tháng 7, 2012

Khát vọng làm người

         
                             
                 Tập tễnh làm thơ tập tễnh yêu 
                 Tập tễnh sương mai đến nắng chiều
                 Tập tễnh cả đời còn tập tễnh 
                 Tập tễnh làm người tập tễnh yêu .( Nguyên Âm )

  Làm người thì ai cũng  muốn nhưng muốn hoàn thiện nhân cách đích thực của một con người đúng nghĩa NGƯỜI  ( viết hoa ) thì phải dày công thực tập chuyển hóa dần dần . Trước khi trở thành một chức danh gì đó phải là con người đúng nghĩa . Làm gì cũng được - làm chính khách , làm nhà doanh nghiệp , kỹ sư , bác sĩ ...hay làm một dân thường- nhưng trước hết phải làm người cho ra người . Khổng Tử từng dạy : " làm người khó lắm " . Bài thơ " Tập tễnh " của Nguyên Âm nói lên khát vọng của một con người như thế .
   Bài thơ làm cho người viết nhớ đến quẻ " vị tế " trong kinh dịch . Vị tế là chưa xong : vạn sự trên đời đều là chưa xong . Chính vì chưa xong nên còn phải tiếp tục , cố gắng làm cho xong . Cái chết đến với con người giữa lúc công việc còn dang dỡ , thậm chí có ngừơi chết khi chưa ăn xong bửa cơm . Không ai bảo chắc rằng mình làm xong mọi việc trước khi nhắm mắt . Vì không có gì gọi là xong nên mọi việc trên đời đều phải bắt đầu trở lại và cứ thế tập tễnh mày mò , thực tập . Cái tứ của bài thơ là khát vọng hoàn thiện , hoàn mãn cái đạo làm người nhưng đây không chỉ đơn thuần khát vọng suông mà còn thực hành liên tục , bền bĩ mỗi ngày từ sớm mai cho đến chiều tà .
                    Tập tễnh làm thơ tập tễnh yêu 
                     Tập tễnh sương mai đến nắng chiều 
Chủ thể trữ tình của bài thơ thiên về khuynh hướng hành động , thực tập hơn là lý trí biện giải . Khuynh hướng lý trí làm cho  chúng ta tiêu hao khá nhiều thời giờ vào việc học hỏi , thu nạp kiến thức , bình luận phê phán .Học nhiều biết nhiều mà không thực hành chẳng khác gì thuộc lòng sách nấu ăn mà không bao giờ xuống bếp . Hai chữ tập tễnh ở đầu mỗi câu thơ như muốn nói lên tính thực hành liên tục , bất tận trên cuộc hành trình tiến tới con người đích thực . Nhưng sao phải tập làm thơ ? Phải chăng là cho dù có là thi hào thi bá ...hoặc đã để lại cho đời cả một núi thơ thì chắc gì đã bay vào không gian vô tận . Thơ đưa ta bay lên bằng đôi cánh của vần điệu . Mộng ước của thi nhân là bay lên thật cao , lánh cuộc hồng trần , xa vòng tục lụy .Đó là khát vọng thăng hoa .Sống là là trên mặt đất ( terre à terre )thì thật là chán . Thi sĩ Tản Đà có lần muốn lên trăng vì trần thế em nay chán nửa rồi nhưng muốn bay thật cao phải biết rũ bỏ những hệ lụy , triền phược của cuộc đời đa đoan . Hàng ngày phải sống cuộc đời khinh an , buông bỏ . Tập làm thơ tức là tập thăng hoa vì  cuộc sống vốn dĩ có quá nhiều đeo mang , ràng buộc .
    Ngoài tập tễnh làm thơ còn phải tập tễnh yêu . Không nhất thiết là tình yêu đôi lứa  .Tập yêu là tập trải lòng mình trước cái đẹp , tập cho con tim biết rung động đúng lúc .Tình yêu làm cho cuộc đời vui tươi , ấm áp .Không có tình yêu cuộc đời sẽ băng giá . Con người vốn là giống hữu tình nhưng vì vật dụng , tham lam...đã trở nên vô tình .
                 Giang hà nhật hạ nhân ô trọc 
                 Thiên hạ lô trung thục hữu tình 
Sông nước mỗi ngày mỗi cạn , người người đều ô trọc . Trong cái lò của trời đất , ai là giống hữu tình đây ? Thi sĩ vốn dĩ đa tình .Yêu rất nhiều nhưng độc chiếm chẳng bao nhiêu. Khác với kẻ quyền uy trọc phú , vợ quá nhiều nhưng chẳng biết yêu ai . Có một câu đối treo trước thiền phòng đáng được suy ngẫm :
                          Bất tục tất tiên cốt 
                          Đa tình thị Phật tâm 
               ( không tục là cốt tiên , đa tình là tâm phật )  .
     Tình yêu là năng lượng được chế tác từ lòng bi mẫn đối với vạn vật .Tình yêu làm cho con  người chìm đắm vấy bùn được gọi tên là bể ái . Còn tình yêu chắp cánh cho con người bay vào không gian vô tận được gọi là đại bi .
  Khó khăn lắm mới hóa được kiếp người . Thế mà khi chào đời lại cất tiếng khóc oa oa . Ấy là vì con người rồi ra sẽ không biết thực tập chuyển hóa , không biết chế tác năng lượng tình yêu bằng chất liệu từ . Vậy phải sống làm sao để khi chết không khóc mà cười .
                    Sống sao khi chết khóc - cười đổi ngôi ( Nguyên Âm )
    Có lẽ phải thực tập cả một đời người mới có được cái chết khinh an như vậy .
                   Tập tễnh cả đời còn tập tễnh 
                   Tập tễnh làm người tập tễnh yêu 
 Bài thơ có cái âm điệu hối hả khẩn trương vì e rằng không còn thời gian tập tễnh . Cả bài thơ xoay quanh ba động từ chỉ động thái : làm thơ , yêu , làm người . Ở mỗi đầu câu thơ là hai từ tập tễnh . Hình thức kết cấu và nghệ thuật ngôn từ nói lên khát vọng làm người trên con đường thực tập , thể nghiệm , kinh qua .nếm trải...thậm chí có khi phải hứng chịu bao nỗi trần phiền .

 Sống phải biết thăng hoa , phải biết nhìn đời bằng con mắt thương ( thay vì mắt xanh xét nét ). Sống như vậy may ra mới sống được cuộc đời của một con người đích thực . Ước mơ này dẫu gửi phía chân trời  nhưng mãi mãi vẫn là mơ ước muôn đời của con người nghìn thuở hướng vươn lên .