Thứ Năm, 7 tháng 3, 2013

Sự TIẾN HÓA của LỊCH SỬ dưới CÁI NHÌN BIỆN CHỨNG của HEGEL

Hegel cho rằng sự tiến hóa của lịch sử luôn luôn trải qua ba giai đoạn :
1/ Chính đề (these ,thesis )
2/ Phản đề (antithese)
3/ Hợp đề ( synthese)
Lịch sử nhân loại tiến hóa theo con đường biện chứng  nói trên . Mọi sự thay ngôi đổi chủ đều được vận hành một cách biện chứng . Biện chứng pháp của Hegel lý giải vì sao có sự thay ngôi đổi chủ trong xã hội loài người .

    Đầu tiên là biện chứng pháp chủ-nô . Hegel cho rằng thoạt kỳ thủy , xã hội loài người được phôi dựng bằng một cuộc đánh nhau chí tử giữa hai con người.Động cơ và mục đích của cuộc ấu đả là tranh giành ngôi chủ . Tâm lý con người ai cũng muốn làm chủ , chẳng ai chịu làm nô .Vì không ai chịu nhường cho ai nên phải thách đấu bằng một cuộc đọ sức để phân thắng bại . Ai thắng sẽ làm chủ , ai thua phải chịu làm nô .
   Có hai điều đáng lưu ý trong sự vụ nầy :một là đánh nhau chí tử mà không để cho đối phương chết ; hai là bên thắng là kẻ không sợ chết .Đánh nhau chí tử mà không để cho chết vì nếu đối phương chết thì lấy ai để công nhận mình là người , thì lấy ai tôn mình làm chủ ?
  Bên thắng trận là người không sợ chết. Vì sao không sợ chết đang khi ham sống sợ chết là bản năng mà ai cũng có ?Phải chăng trong cuộc đánh nhau chí tử nầy kẻ không sợ chết có bản năng quyền lực mạnh hơn là bản năng sợ chết . Thêm vào đó y không có gì để mất - không tài sản không địa vị ...Thông thường trong cuộc ẩu đả kẻ nào tuyên bố ' liều một phen ' , ' thí mạng cùi ' đều làm cho đối phương khiếp sợ và phải đầu hàng .  Bên thua trận vì muốn giữ lại mạng sống , tài sản ,...nên đành chịu thua và đành chấp nhận làm nô , buộc phải công nhận quyển làm người của chủ .  Ông chủ mới truất bỏ quyền làm người của nô .Truất bỏ quyền làm người của nô nhưng vẫn thừa nhận nô là người ; vì chẳng lẽ ông chủ được công nhận quyền làm người bởi một con không phải là con người !
  Sẽ xảy ra sự thể gì đây sau khi đã phân ngôi chủ tớ ?
  Nô với thân phận nô lệ hoàn toàn lệ thuộc vào chủ , sinh mệnh của nô nằm trong tay chủ . Nô trở thành công cụ lao động của chủ - một thứ công cụ sống - Nô bị mất chỗ đứng trong thế giới con người (le monde  humain ). Nô chỉ còn biết chinh phục thiên nhiên , khai thác thiên nhiên để làm chủ trong nhiên giới (le monde  naturel ).Nô phải nai lưng ra làm việc để phục vụ ông chủ . Đất đai là mẹ của tài sản , lao động là cha của tài sản . Nô tác động sức lực và cơ bắp của mình vào đất đai để làm ra tài sản cung phụng cho chủ .Khi cơ bắp được vận dụng thì trí não nô cũng được triển nở phát tiết . Nô làm chủ thiên nhiên và từ đó  bắt đầu phục hồi ý thức làm chủ . Qua lao động con người nẩy sinh ra nhiều sáng kiến ,phát minh để cải tiến lao động . Do nhu cầu nâng cao năng suất , nô buộc phải nghĩ ra những dụng cụ lao động đạt nhiều hiệu quả hơn. Thế là mọi tài sản trong xã hội đều do một tay nô làm ra . Còn chủ thì chỉ ngồi mát ăn bát vàng . Vì chỉ biết hưởng thụ , lười nhác lao động nên càng ngày càng trở nên ù lì trì trệ . Cái mầm của giai đoạn phản đề đã bắt đầu phôi thai .
   Khi xã hội phát triển , biện chứng chủ nô biến dạng thành biện chưng giai cấp thống trị và giai cấp bị trị . Giai cấp thống trị đóng vai trò trung gian nghiểm nhiên hưởng thụ mọi thứ và tài sản càng ngày càng trở nên kếch sù .Giai cấp thống trị giàu có sung mãn ham mê hưởng thụ sinh ra sợ chết . Giai cấp thống trị càng ngày càng củng cố quyền lực để có thể thống trị lâu dài.Giai cấp bị trị dần dần bị tước đoạt hết quyền tự do . Mâu thuẫn giữa hai giai cấp càng ngày càng trở nên sâu sắc và một phản động lực bắt đầu hoạt hiện triển nở . Thế là giai đoạn chính đề đã qua giai đoạn phản đề .Giai cấp bị trị cần thiết phải quật khởi để giành lấy quyền con người , quyền tự do . Tự do hay là chết . Sống cho ra sống hay chấp nhận cái chết .Đó  là một sự lựa chọn mang tính mặc định .Danton , nhà cách mạng Pháp 1789 đã từng than lên rằng :"Ôi!Mỗi bước tiến của thần Tự Do là một viên đá để xây mồ" .Trong cuộc đấu tranh sống mái giữa giai cấp thống trị và giai cấp bị trị , thế tất thắng nghiêng về giai cấp bị trị do các yếu tố sau đây
   - Giai cấp thống trị có nhiều cái để mất :QUYỀN LỰC , TÀI SẢN , DANH VỌNG ,ĐỊA VỊ ...
  - Vì quen lối sống hưởng thụ , lười nhác lao động , ngại khó ngại khổ
  -Sự sợ hải làm cho con người thiếu sáng suốt , mất bình tĩnh và suy yếu ý chí chiến đấu.
  Nhưng , yếu tố quan trọng nhất là sợ chết .
 Trong khi đó giai cấp bị trị không có gì để mất , đã từng kinh qua khó khăn gian khổ , từng làm chủ thiên nhiên , làm chủ khoa học kỹ thuật , lại có lợi thế là chiếm đa số . Thế là kẻ chiến thắng trước đây nay thành kẻ chiến bại . Một tổng hợp đề mới khác ra đời .
  Biện chứng pháp của Hégel có ảnh hưởng không ít về cách tư duy , lập luận của các triết gia sau nầy . Về bản thể luận , Hegel cuối cùng đi đến kết luận yếu tính điều động và chi phối tất cả mọi hiện hữu là ý tưởng tuyệt đối( l'idée absolue).Có lẽ vì vậy mà sau nầy người ta gọi triết học Hegel là triết học duy tâm . Karl Max , học trò của Hegel đã vận dụng biện chứng pháp của thầy mình để luận về chủ nghĩa tư bản  (capitalisme) hình thành một phương pháp biện chứng mới : biện chứng pháp duy vật sử quan . Điều trái ngược giữa  Hegel và Karl Max là một bên cho rằng ý tưởng tuyệt đối , một bên cho rằng vật chất tuyệt đối. Truyền thống triết học tây phương nặng về duy lý :có hoặc không có vấn đề là ở đó ( to be or not to be that question ). Truyền thống triết học đông phương tiêu biểu như Nho , Phật , Lão vượt lên trên hai đầu cực đoan : có hay không có vấn đề không phải ở đó (to be or not to be that not question ). Thuyết trung dung của Khổng Mạnh , thuyết trung đạo của Phật gia và thuyết vô tránh của Lão Trang đều có cái nhìn tổng hòa nhất quán về hiện hữu , tạo ra sự hòa điệu trong mọi sinh thành của vũ trụ và nhân sinh . Từ đó tạo ra sự cân bằng và hòa hợp trong mối quan hệ tứ trụ :THẦN - NHÂN - THIÊN- ĐỊA

   Làm thế nào để hóa giải những mâu thuẫn trầm kha trong lịch sử cũng như trong xã hội để cho lịch sử được tiến hóa trong chiều hướng tích cực . Đây là vấn đề luôn luôn được bỏ ngỏ .














Thứ Sáu, 1 tháng 2, 2013

Bất bình tắc minh

       Hàn Dũ - nhà văn , nhà thơ, nhà triết học đời Đường đã đưa ra một luận điểm mà hầu như ai cũng đồng tình : " bất đắc kỳ bình tắc minh " . Luận điểm nầy có thể hiểu là  :
 - Vật không được bình yên thì kêu lên
 - Vật không được thế quân bình thì phát ra tiếng kêu
   Luận điểm nầy có thể được chứng minh bằng nhiều phương diện : chính trị xã hội , sáng tác văn chương , triết học tôn giáo .

  Trước hết về phương diện chính trị xã hội :  Một chế độ chính trị không đem lại an bình thịnh trị cho dân chúng sẽ nẩy sinh ra những phản động lực . Một xã hội bất công sẽ âm ỉ những tiếng kêu than của những con người thấp cổ bé miệng . Hàng triệu triệu những tiếng kêu đó hợp lực lại thành một tiếng nổ lớn có thể lật đổ cả một chế độ . Bằng chứng là chế độ quân chủ chuyên chế của Pháp bị lật đổ bởi cuộc cách mạng 1789 . Cuộc cách mạng 1789 nổ ra do sự bất công giữa giai cấp quý tộc , tu sĩ với giới bình dân . Mức sống giũa giai cấp quý tộc , tu sĩ so với giới bình dân có một sự chênh lệch quá lớn . Giai cấp quý tộc thì xa hoa phung phí , giai cấp tu sĩ thì hưởng quá nhiều đặc quyền đặc lợi ; trong khi đó thì giới bình dân thì nai lưng ra làm việc mà chẳng hưởng được gì . Sự mất cân bằng nầy làm nẩy sinh ra những tiếng kêu không những của người dân mà còn  cả đến các nhà triết học , các bậc thức giả như Voltaire , Montesquieu , J.J. Rousseau, ...Tư tưởng của các vị nầy về sau có ảnh hưởng rất lớn đến nền dân chủ của nhiều nước trên thế giới .
 Cuộc cách mạng Nga 1917 nổ ra do mâu thuẫn giữa các chủ nhân ông và giai cấp thợ thuyền , giữa địa chủ và nông dân . Các chủ nhà máy  xí nghiệp bóc lột công nhân , các chủ đất áp bức tá điền và " ở đâu có áp bức ở đó có đấu tranh " 
Tiếng kêu lớn của Lenin : " Giai cấp vô sản trên toàn thế giới hãy đoàn kết lại "  cũng đã dấy lên phong trào cách mạng vô sản ở một số nước ...
Trên đây là tiếng kêu phát ra do sự  bất bình trong đời sống chính trị xã hội . Dưới đây là những tiếng kêu phát ra trong lãnh vực sáng tác văn chương . Hàn Dũ cho rằng con người ta vì bất đắc dĩ mới viết văn , làm thơ . Lịch sử văn học đã chứng minh rằng  trong những thời kỳ đen tối nhất , những giai đoạn lịch sử rối ren nhất  đã xuất hiện những tác phẩm có giá trị nhất . Trong thời kỳ vua Lê , Chúa Trịnh , Đàng Trong , Đàng Ngoài , chiến tranh xảy ra liên miên  đã tạo ra một xã hội mục ruỗng , thối nát ; người dân đã phải gánh chịu những nỗi khổ đau cùng cực . Nói như nhà thơ Pháp Alfred de  Musset : " Không có gì làm cho ta trở nên cao đại  bằng một sự đau đớn lớn nhất " ( Nul ne nous rend si grand qu'une grande douleur ) .
Nỗi đau đớn  cùng cực đã phát ra những tiếng kêu . Tiếng kêu đó phải chăng là những  tiếng thơ của Nguyễn Du , của Nguyễn Gia Thiều , của Đoàn thị Điểm , ...Truyện Kiều của Nguyễn Du là tiếng kêu than của một người con gái tài sắc hiếu hạnh bị vùi dập xuống tận bùn đen . Đã bao lần Kiều muốn thoát ra vươn lên nhưng rồi bị thế lực của các nhà quan nhà chứa ấn dúi xuống sâu hơn ...Những ông quan , kể cả những bà quan hùa nhau  xô đẩy Thúy Kiều vào con đường cùng buộc nàng phải bật lên  : " Oan nầy còn một kêu trời nhưng xa "
   Chinh phụ ngâm là tiếng kêu than của người chinh phụ tiễn chồng đi chiến trận   : " Cổ lai chinh chiến kỷ nhân hồi " 
  Cung oán ngâm khúc là tiếng kêu than của người cung nữ nơi cung cấm khi thì được vua yêu quý khi thì bị thất sủng . Ngoài ra những cuộc tình éo le bi đát , oái oăm và ngang trái đã để lại cho đời những thiên tình sử  như "  Sơ kính tân trang " của Phạm Thái , " Hồn bướm mơ tiên " của Khái Hưng , ...
Nỗi đau của những người vợ mất chồng , người chồng mất vợ cũng là những nỗi bất bình phát ra tiếng kêu thương . Đó là Ai Tư Vãn của Ngọc Hân công chúa  , Giọt mưa thu của Tương Phố  , Linh Phượng của Đông Hồ  , Màu tím hoa sim của Hữu Loan ,...
 Bất bình tắc minh còn được chứng minh trong lãnh vực triết học tôn giáo : Bất cứ triết gia nào cũng ít nhiều trầm tư về lẽ sống chết chẳng hạn như " tại sao ta sinh ra  ? tại sao ta chết đi ? " ...Đó là những thắc mắc siêu hình muôn đời là vấn nạn . Trong nhà thiền , liễu sinh tử là động cơ , là nguyên động lực của việc tu thiền . Giáo chủ của đạo Phật là Tất Đạt Đa xưa vì ý thức được nỗi khổ đau của sinh lão bệnh tử nên mới xuất gia cầu đạo . Rõ ràng sự bất bình về cái chết là nguyên động lực đưa con người đến với tôn giáo .

 Suy cho cùng , bất bình tắc minh không chỉ đơn thuần là luận điểm mà còn là đại luật của vũ trụ . Phàm vật gì không cân bằng tất nhiên phải phát ra tiếng kêu ; phàm con người không được bình yên thì tất nhiên phải  cất  tiếng kêu than . Vậy vấn đề là làm thế nào để hạn chế những tiếng kêu than ấy ? Phải chăng  một trong những thuộc tính của nhà hiền triết lãnh đạo là sự hòa hợp tiết độ ( température ),  là  mẫu mực cho sự điều hòa và quân bình ( không bất cập , không thái quá ) .Hiện nay người ta có thói quen sợ hãi về những điều bất cập mà không ai lo lắng về những cái thái quá đang diễn ra tràn lan trong nhiều lãnh vực như thói ham hư vinh , thích chơi trội , lễ nghi quá đà ,...


     Cần thiết phải lắng nghe những tiếng kêu nhỏ và làm quân bình  êm dịu chúng ; nếu không nó hợp lực thành tiếng nổ lớn .Cũng như đám cháy nào cũng bắt đầu từ một que diêm !








Thứ Hai, 28 tháng 1, 2013

Tưởng niệm Phạm Duy

Xưa , Tạ Tỵ nói : " Phạm Duy còn đó nỗi buồn "
Nay , Phạm Hạnh cũng xin nói : " Phạm Duy còn đó nỗi buồn "

Thứ Hai, 31 tháng 12, 2012

Tiếng ta còn , nước ta còn

 "Truyện Kiều còn tiếng ta còn , tiếng ta còn nước ta còn ". Đó là câu nói bất hủ của cụ Phạm Quỳnh khi đánh giá " Truyện Kiều " của cụ Nguyễn Du . Còn Tố Hữu thì cho rằng truyện Kiều là " Tiếng thơ ai động đất trời " ,là tiếng vọng của non nước từ nghìn thu xưa . Và nghìn năm sau truyện Kiều vẫn là "tiếng thương như tiếng mẹ ru những ngày ". Cả hai nhà đều coi truyện Kiều là cái hồn của non sông đất nước bởi vì nó đại diện cho vẻ đẹp trong sáng của tiếng Việt - tiếng mẹ đẻ của người Việt nam . Điều đáng buồn là tiếng Việt ngày nay lâm vào tình trạng xô bồ bát nháo trong cách nói , cách viết của một số người Việt .
  Tình trạng xô bồ bát nháo đó phơi bày đây đó cả trên báo đài , trên các bảng hiệu , biển quảng cáo , tên của các công ty ; thậm chí có mặt cả trong tác phẩm văn chương .
   Ở các thành phố lớn ta thấy  bảng hiệu , bảng quảng cáo người ta đua nhau ghi bằng tiếng nước ngoài , có khi chua thêm vài dòng tiếng Việt ở dưới . Tên công ty thì pha trộn nửa tây nửa ta như công ty Minh Đạt thì là MiDa, công ty Mỹ Tâm thì ghi là MyTa  ,vv...Ngay trong ngôn ngữ nói của phát ngôn viên đài trung ương cũng có chỗ không chuẩn : Chẳng hạn , lẽ ra phải nói : "Chương trình hôm nay có những nội dung chính sau đây... "nhưng vì kiệm lời  phát ngôn viên đó bỏ đi hai tiếng " sau đây " làm cho câu văn trở thành cụt ngủn bất thành câu. Trong văn viết có thể thay thế hai chữ sau đây bằng dấu  hai chấm ( : ) nhưng trong văn nói thì không nên như vậy .
    Không biết từ bao giờ và từ đâu người ta có thói quen tùy tiện ghép từ " Việt " đàng sau một từ . Ví dụ : Bếp Việt ,gạo Việt , văn chương Việt , tâm hồn Việt ,...Tại sao lại cứ phải " Việt " đang khi ta là người Việt nói về một vấn đề của ta ở chính  trên đất Việt của ta ! Ai cũng hiểu từ " Việt " chính là Việt Nam . Những gì có trên đất nước Việt Nam mặc nhiên là " Việt Nam " rồi , hà cớ phải thêm chữ Việt . Nếu là một cộng đồng người Việt sinh sống tại hải ngoại , để phân biệt với các kiều bào khác , có thể gọi thế là đúng . Ví dụ như " phố Việt " , " phố Hoa " , " cơm Việt " , " cơm Tàu " , ...Nhưng gạo do dân ta trồng đương nhiên là gạo Việt Nam rồi , cần gì phải nói " gạo Việt " .  Gọi hàng sản xuất trong nước là hàng nội địa để phân biệt với hàng ngoại nhập là đủ .

  Ngôn ngữ của một nước thể hiện chủ quyền quốc gia của  nước đó . Ta phải  nói đúng , viết đúng tiếng nước ta . Người nước ngoài buộc phải học cách nói cách viết của ta . Ví dụ  buộc họ phải nói " bưởi da xanh " chứ không vì sợ họ không nói được  mà ta lại gọi là " Budaxa ". Ngược lại , ta cần phải viết đúng , phát âm đúng  các tên gọi của nước ngoài chứ không nên phiên âm tùy tiện , dễ dãi . Điều này gây trở ngại vô cùng cho việc tra cứu tìm hiểu . Đến tận bây giờ sách giáo khoa vẫn còn phiên âm một cách ngô nghê . Ví dụ Alsace thì được phiên âm là An dat , Shakespeare thì phiên âm là Sếch-xpia, vv...
    Ngoài ra tình trạng cải biên chữ viết của các bạn trẻ tràn lan trong các văn bản giao tiếp bất chấp luật chính tả và ngữ pháp . Ví dụ : "-»ckuc mn co m0t ngax  nkuj max man nka-" có nghĩa là " chúc mọi người có một ngày nhiều may mắn nha " , vv..
   Ngôn ngữ của một nước là cái hồn , cái hạnh của một nước , là chứng minh thư chứng nhận chủ quyền quốc gia của một dân tộc . Ngôn ngữ có trường tồn thì nền độc lập tự chủ mới trường tồn . " Tiếng ta còn , nước ta còn " , câu nói bất hủ của Phạm Quỳnh có giá trị như một " ghi nhớ " có tính ràng buộc .Tiếng ta tức là tiếng mẹ đẻ . Một đứa bé sinh ra đời bập bẹ tiếng mẹ đẻ ngay từ những tiếng nói đầu đời . Tâm hồn của đứa bé cũng được di dưỡng qua lời ru à ơi của mẹ . Trẻ con học tiếng trước khi học chữ . Chữ viết có thể thay đổi qua nhiều giai đoạn lịch sử nhưng tiếng nói thì không hề thay đổi . Thời nội thuộc phương Bắc ta dùng chữ Hán . Sau nầy , Hàn Thuyên phổ biến ra chữ Nôm . Rồi sau đó nữa là chữ quốc ngữ . Dù là thứ chữ gì thì tiếng nói của người Việt Nam , cái hồn của người Việt Nam vẫn là nguyên vẹn tinh khôi . Tiếng Việt còn hay mất là tùy thuộc vào lòng yêu tiếng Việt , yêu nước Việt .  Yêu tiếng tức là yêu nước , và vì yêu nước mà phải giữ gìn sự trong sáng cho tiếng . Nói theo cách nói của Phạm Duy trong nhạc phẩm  Tình ca :Tôi yêu tiếng nước tôi từ khi mới ra đời ..., tiếng nước tôi tiếng mẹ ru từ lúc nằm nôi...

      Vào thế kỷ thứ mười chín , nước Pháp đã một phen khốn đốn vì cuộc chiến tranh Pháp - Phổ . Nước Pháp thua trận đành phải cắt vùng đất giáp biên giới với Phổ giao cho Phổ . Chính quyền Phổ ra cáo thị vùng đất nầy từ đây  không được dạy tiếng Pháp . Nhà văn Alphonse Daudet kể lại nỗi đau xót của một giáo viên dạy môn tiếng Pháp trong buổi học cuối cùng bằng tiếng Pháp .Buổi học cuối cùng ấy càng lúc càng thu ngắn thời gian lại  trong niềm cảm xúc dâng trào của thầy lẫn trò .
  Ở Việt Nam trong thời Pháp thuộc may mắn còn có trường Đông Kinh Nghĩa Thục dạy Quốc văn giáo khoa thư cho học trò . Quốc văn giáo khoa thư là một bộ sách giáo khoa đầu tiên soạn theo hướng tích hợp : vừa dạy chữ vừa dạy người , vừa dạy trí dục vừa dạy đức dục đan xen lồng ghép trong một bài học.
  Khi ngôn ngữ của một nước bị lai căng pha tạp - không còn chính danh nữa thì cái mầm mất nước đã chực chờ nằm sẵn đâu đó rồi .Thuyết chính danh của Khổng Tử trước hết đặt vấn đề chính danh tự .Chính danh tự là một danh từ phải gọi đúng tên sự việc , phải diễn tả đầy đủ khái niệm về sự vật đó . Sự vật sự việc thế nào thì phải gọi cho đúng bằng một cái tên sát hợp với bản chất của sự vật sự việc đó . Danh có chính thì ngôn mới thuận . Ngôn có thuận thì sự việc mới thành tựu một cách minh nhiên sáng tỏ . Danh mà không chính thì lời nói sẽ lập lờ , lấp liếm , lơ tơ mơ ...Một xã hội mà vấn đề chính danh không được coi trọng thì cái mầm băng hoại đã đương nhiên tiềm ẩn . 

     Có một điều đáng lạc quan tin tưởng là tiếng ta vẫn còn .  Mặc dù có hiện tượng xô bồ tùy tiện song bản chất tiếng Việt bao giờ cũng trong sáng . Nước Việt ta  hiện nay có rất  nhiều học hàm học vị giáo sư tiến sĩ mà tiếc thay ( ! ) lại không có  được một hàn lâm viện để hiệu chỉnh kịp thời những sai trái tùy tiện trong cách dùng tiếng Việt .



.............................................................................................

 Bổ sung ( trích từ comment của bạn Vương Đức Bình )

Con người chân chính nào cũng yêu tiếng mẹ đẻ của họ, đơn giản bởi vì đó chính là tiếng lòng của họ, là tiếng nói của Mẹ, là thứ tiếng ta nghe nhận được từ lòng yêu thương vô bờ của Mẹ ngay cả khi ta chưa biết nói, khi ta còn khóc oe oe đòi bú, là thứ tiếng nói chảy vào lòng ta kèm theo dòng sữa ngọt ngào từ vú mẹ. Ta cảm nhận những âm thanh đó bằng những xúc cảm chân thật nhất trước khi ta biết đến cú pháp của ngôn ngữ. Tiếng của Mẹ trở thành những câu chú thiêng liêng nuôi ta lớn lên. Cũng như sức mạnh của những câu thần chú, đôi khi ta không cần hiểu, ta chỉ cần cảm nhận. Có ai muốn phân tích một lời à ơi trong câu ru của mẹ không!? Ta chỉ mới vài tháng tuổi, ta chỉ cần nghe "À ơi, con ơi con ngủ cho say...." là ta đã yên lòng, cảm thấy bình yên trong vòng tay của Mẹ. Và khi ta lớn lên, khi ta muốn thổ lộ tình yêu với người con gái mà lòng ta tha thiết, và nếu ta là người Việt Nam, ta có muốn nói với bạn tình "I love you..." hay không, hay ta sẽ nói "Anh yêu em"!? Ta sẽ thì thầm điều đó với bạn tình bằng sự rung động tinh tế mà Mẹ đã truyền cho ta từ dòng sữa của Mẹ, bằng chính ngôn ngữ của Mẹ, mặc cho ta có bằng tiến sĩ hay đại loại bằng gì đó về tiếng Anh, tiếng Pháp,... Và nếu không may, nếu bạn tình - cô bạn Việt Nam của ta - trả lời "I love you too!" thì chắc ta phải nghi ngờ tính chân thật của mối tình của cô bạn dành cho ta, rằng câu trả lời đó không xuất phát từ trái tim!

Thứ Hai, 24 tháng 12, 2012

Hoa ngõ hạnh

  Hoa ngõ hạnh ( * )


Trông hoa ngõ hạnh , dàu dàu
tả tơi gió sớm dãi dầu nắng hanh
 đời đang vui cũng cam đành
ngủ yên giấc ngũ trên cành héo hon

Trông tôi , ngày tháng chon von
đam mê khắc khoải mỏi mòn tương lai
đêm nghe vẳng tiếng than dài
tiếc thương như tiếc lâu đài cựu vương !
                                               Trung Vũ ( 1973)

( * ) Cảm tác " hoa ngỏ hạnh ", Bùi Giáng dịch Otello của William Shakespeare

Chủ Nhật, 2 tháng 12, 2012

Giá trị tương đối của văn tự

   Ngôn ngữ , văn tự là phương tiện truyền thông , chuyển tải , mô tả thực tại . Văn tự , ngôn ngữ không phải là  thực tại .

      Đức Phật dạy tất cả kinh giáo là ngón tay chỉ mặt trăng chứ không phải mặt trăng . Chấp , vướng vào văn tự rồi cho đó là thực tại chẳng khác  nào chăm chú nhìn vào ngón tay chỉ mặt trăng mà cho đó là mặt trăng . Ngôn ngữ văn tự chỉ có giá trị tương đối xét như là một giả danh chứ không phải thực danh . Bồ Tát Long Thọ đưa ra biện chứng : Không - giả danh - trung đạo .Ngài khởi đầu biện chứng bằng một vấn nạn : Nếu bảo nhất thiết không , ngôn ngữ cũng nằm trong nhất thiết thì lấy gì bảo rằng không ? Cần hiểu Không ở đây không phải là không đối đãi với có mà Không  có nghĩa  là không  có tự tính , không có thực thể ; do nhân duyên sinh mà sinh , do nhân duyên diệt mà diệt  ( thử hữu tất bĩ hữu , thử vô tất bĩ vô ...) . Để mô tả cái Không  nầy buộc lòng phải dùng văn tự như một phương tiện thiện xảo . Long Thọ gọi đây là  giả danh . Từ đó giáo pháp trung đạo ra đời , còn gọi là Trung quán luận .

      Quá chấp vào văn tự sẽ không bao giờ thấy được thật nghĩa ( đãn hữu văn tự đô vô thật nghĩa ) .Chính Đức Phật đã từng tuyên thuyết :
                                  Tìm ta qua âm thanh 
                                  Tìm ta qua hình ảnh 
                                  Là kẻ hành tà đạo 
                                  Không thể thấy Như Lai

Biện chúng pháp Không -giả danh - trung đạo của Long Thọ cho phép ta không loại trừ văn tự mà vẫn thấy được thật nghĩa ; không động đến chân tướng mà vẫn kiến lập các pháp .
                                Bất đoạn giả danh như kiến thật nghĩa 
                                Bất động chân tướng kiến lập chư pháp 

   Đề cao  văn tự xét như một thực tại tuyệt đối cũng như không tin vào các pháp của Phật đều là thái quá , bất cập , đưa đến chỗ kẹt vướng vào tướng . Trong kinh Kim Cang Phật thuyết : " Không nên kẹt vào pháp , không nên kẹt vào chẳng phải pháp . Các vị tì kheo nên biết pháp ta nói như chiếc bè qua sông . Pháp còn phải bỏ huống hồ gì không phải pháp . "

    Muốn thể nghiệm được thực tại đạt đến cứu cánh giải thoát phải hạ thủ công phu thực tu, thực chứng . Đọc nhiều, hiểu nhiều , kiến giải nhiều giỏi lắm cũng chỉ là học giả chứ không  hẳn là hành giả . Tam Tạng kinh điển được viết bằng nhiều loại ngôn ngữ khác nhau ( Sanskrit , Pali , Hán ) đều như ngón tay chỉ mặt trăng ( Nhất thiết tu đà na giáo như tiêu nguyệt chỉ ).Vậy đừng nên quá suy tôn văn tự ngôn ngữ một cách tuyệt đối hóa mà phải xem đó chỉ  là một thứ giả danh .



Chủ Nhật, 25 tháng 11, 2012

Văn hóa sống và sống văn hóa

      Mọi thứ văn hóa trên đời nhằm phục vụ cho cuộc sống văn hóa . Thứ văn hóa nào không nhằm phục vụ cho cuộc sống văn hóa là phi nhân bản .
    Càng ngày càng xuất hiện nhiều loại hình văn hóa mới : văn hóa giao tiếp , văn hóa ẩm thực , văn hóa đọc , vv...Văn hóa sống ít ai đề cập đến và càng ngày càng bị phai nhạt trong những mối quan hệ giữa cá nhân với cá nhân và giữa cá nhân với cộng đồng. Bao lâu trong mỗi cá nhân không lập được quân bình trong nội tâm , và sự quân bình cho các mối quan hệ xã hội thì bấy lâu cuộc sống văn hóa sẽ bị mai một .
   Có nhiều cách định nghĩa về lẽ sống ở đời như : sống là tranh đấu , sống là chiến đấu , sống là hưởng thụ ,...tất cả những định nghĩa về cuộc sống có thể đúng nhưng không đủ . Văn hóa sống và sống văn hóa không theo một định nghĩa nào nhất định , cũng không rập khuôn theo một học thuyết cứng nhắc nào cả . Nói một cách đơn giản sống là sống với . Trong cuộc "sống với "mỗi cá nhân cần phải tỉnh thức trong từng giây phút hiện tại , phải biết mình đang ở đâu và mình đang là ai .Sống mà không biết mình là ai và mình đang ở đâu là hiện tương vong thân trong cuộc sống .Vong thân là hiện tượng đánh mất chân nhân của mình . Trong tâm lý học có đề cập tới ba loại mặc cảm phức tạp : mặc cảm tự  thấy mình cao hơn người  , mặc cảm tự thấy mình thua kém người  và mặc cảm thứ ba là tự  thấy mình luôn  bằng người trong mọi tình huống .
  Gọi là mặc cảm vì nó mang tính chất phức tạp , không thật như những gì mình có . Mình là mình . Mình không thể đặt mình trong sự so sánh với người khác . Bởi vì mỗi một con người đều có một hoàn cảnh riêng , một điều kiện riêng , một nghiệp quả riêng . Khi bị đắm chìm một trong ba loại mặc cảm ấy thì hiển nhiên sẽ bị vong thân .
   Nhiều khi vì quá tự ti đâm ra tự tôn và ngược lại  . Có nhiều người vì quá tự ti cho mình là thua kém nên cũng thường đi kết thân với người thua kém khác để được tung hô .Đó là những loại tâm lý phức tạp mà những người thiếu tỉnh thức thường hay mắc phải .
     Ngày xưa , đức Khổng Tử dạy học trò bằng Kinh Thi , Kinh Nhạc , Kinh Lễ . Ngài cho rằng : " Hưng ư Thi , hòa ư Nhạc , thành ư Lễ " . Có nghĩa là muốn làm cho lòng người hưng phấn phải nhờ thơ ca ; muốn cho có sự hòa hợp phải nhờ âm nhạc ; muốn có sự thành tâm thành ý thì phải nhờ lễ nghi . Trong văn hóa sống điều quan trọng nhất là chữ lễ . Giữ lễ là cách thể hiện sự thành tâm thành ý . Nếu không thành tâm thành ý là lễ nghi hình thức giả dối . Trên thực tế có những cái bắt tay siết chặt thân tình , có những cái bắt tay hờ hửng chiếu lệ . Chữ lễ hết sức quan trọng trong đời sống văn hóa . Người không biết giữ lễ là người thiếu văn hóa cho dù người đó có địa vị cao hay học thức cao ! Ngày xưa  khách đến , chủ nhà mặc quần áo chỉnh tề ra tiếp khách . Ngày nay người ta vin vào sư thoải mái , xuề xòa để tiếp khách với quần cụt áo lót . Trong cuộc sống ta có thể thiếu thốn nhiều tiện nghi vật chất song không thể thiếu lễ trong từng giờ từng phút .
   Nếu sống có nghĩa là sống với thì văn hóa sống chính là văn hóa làm người . Mọi thứ văn hóa khác đều chỉ phục vụ cho văn hóa làm NGƯỜI.Muốn trở thành con người đích thực cần phải học tám chữ sau đây : Hiếu , Để , Trung , Tín , Lễ , Nghĩa , Liêm , Sĩ . Hiếu là hiếu với cha mẹ ông bà tổ tiên . Để là thuận thảo với anh chị em trong gia đình . Trung là trung thành với tổ quốc , với lý tưởng . Tín là giữ sự tin cậy với mọi người . Lễ là giữ đúng cung cách ứng xử tùy theo vai vế địa vị  . Nghĩa là giải quyết tốt các mối quan hệ cộng đồng  . Liêm là trong sạch không tham lam của công . Sĩ là biết tự biết  xấu hổ khi mắc lỗi .

 Trong tiến trình học làm người không có điểm dừng , cũng không có bằng tốt nghiệp . Có thể sống cả đời người cũng chưa học xong bài học làm người . Làm chính khách , làm doanh nhân , làm thầy giáo , ...trước hết phải làm người . Đạo sư Tĩnh Vân có một người đệ tử , sau khi tốt nghiệp đại học liền theo học thạc sĩ , rồi lại học tiến sĩ  . Sau nhiều năm đèn sách cuối cùng anh cũng hoàn thành luận án tiến sĩ nên vô cùng vui mừng . Một hôm người đệ tử nầy trở về thưa với đạo sư : " Thưa thầy con có học vị tiến sĩ rồi , sau này con sẽ phải học những gì nữa ? " Đạo sư trả lời : " Học làm người , học làm người là phải học suốt đời , chẳng thể nào tốt nghiệp được ".

  Tóm lại , mọi thứ văn hóa trên đời đều nhằm phục vụ cho cuộc sống có văn hóa . Văn hóa học làm người là một thứ văn hóa phục vụ tích cực nhất cho đời sống văn hóa !