Thiền sư Phước Hậu có hai câu thơ nói về nghịch lý của việc tu rồi và chưa tu . Khi chưa vào chùa khoác áo cà sa thì hiềm vì đa sự nhưng khi đã vào chùa khoác áo cà sa thì sự cánh đa
Vị trước cà sa hiềm đa sự
Đắc trước cà sa sự cánh đa
Khi chưa khoác áo cà sa thì đa sự là lẽ thường tình . Cuộc đời vốn dĩ phiền toái đa đoan nhiễu sự . Với cái thân ngũ uẩn loay hoay trong sáu căn sáu thức sáu trần cộng với tám ngọn gió phân biệt xúy động từng giờ con người có vô vàn những lo âu sợ hãi , khổ đau phiền muộn . Đó là hoàn cảnh giới hạn (situation limite ) mà con người luôn luôn tìm cách thoát ra . Đó cũng là cái đang là ( hiện hữu ) mà con người muốn tìm một lối thoát . Có nhiều lối thoát khác nhau nhưng chung quy cũng chỉ để chạy trốn hiện hữu :ví dụ như chọn một lý tưởng , một ý hệ , một định chế chính trị , một tín ngưỡng vân vân ... Đi tu cũng là một trong các lối thoát trên . Nhưng điều oái oăm , đầy nghịch lý là tất cả những lối thoát đều là sản phẩm của tư duy và ngã chấp . Rốt cùng con đường thoát đó là tư duy , mà hễ còn tư duy là còn lối thoát , còn bám víu , còn vướng mắc ...vô hình trung tự tạo ra những dây trói thắt chặt mình . Giải thoát ra khỏi những trói buộc là giải thoát khỏi tư duy . Tâm thể ly niệm , hoàn toàn vắng lặng thì thực tại mới hiển bày . Tìm một lối thoát để thoát ra khỏi cái đang là chẳng khác nào sóng đi tìm nước đang khi sóng chính là nước . Sóng đang là cái mà nó muốn tìm vì trong sóng đã có nước . Anh chính là cái mà anh muốn trở thành ( you are alredy what you want to become). Đi tu khoác áo cà sa rồi mà còn mãi tư duy , phân biệt thị phi , ôm giữ giáo điều thì chẳng những không phải là người vô sự mà sự còn nhiều hơn . Bàn về việc tìm cầu lối thoát bằng một lý tưởng - xét như một thiên đường huyễn hoặc - bằng những lý luận vụn vặt ,Tuệ Sỹ viết ; " Trước đại dương mênh mông của máu và nước mắt , trước những cuồng phong lửa dữ , trước những dòng xoáy kinh hoàng của sinh tử của biến dịch vô thường ...tất cả đều bị dao động , bị chấn động mạnh . Với những kẻ hèn yếu không tìm ra lối thoát , tự thấy mình hèn yếu bất lực thì hoặc tự trang bị những mẫu lý luận vụn vặt để chối bỏ hiện thực , hoặc tự vẽ cho mình một thiên đường huyễn hoặc . Những người ấy thiếu cả hai : thiếu sự rung động của trái tim và thiếu sự nhạy bén của trí não " . Thiếu sự rung động của trái tim và thiếu sự nhạy bén của trí não tức là thiếu từ bi và trí tuệ . Nói khác nữa là thiếu bồ đề tâm . Và như vậy , nguyên động lực của người xuất gia vào đạo là phát bồ đề tâm .Bài kệ xuất gia sau đây nói rõ nguyên động lực nầy :
Hủy hình phi pháp phục
Cát ái từ sở thân
Xuất gia thành Phật đạo
Nguyện độ nhất thiết nhân
Mục đích của việc bỏ cái đẹp trần thế, khoác chiếc áo cà sa , cắt đứt dây tình ái là trên cầu Phật đạo , dưới độ chúng sanh . Phật đạo là đạo bồ đề , đạo từ bi và trí tuệ . Áo cà sa là áo pháp ( pháp phục ). Áo pháp là áo giải thoát , áo thanh tịnh , áo giới luật , áo vô phân biệt . Mặc áo cà sa rồi mà còn vướng mắc , còn phiền não ...thì sự còn nhiều hơn là điều tất yếu . Chiếc áo không phải là con người mặc nó . Con người cũng không phải là chiếc áo . Cho nên mặc áo cà sa rồi chưa chắc trở thành bậc chân tu , người vô sự . Ngạn ngữ tây phương có câu : "Chiếc áo không làm nên thầy tu " ( Clothe no do monks).
Trong thời buổi như hiên nay đồ giả nhiều hơn đồ thiệt . Kinh sư dễ kiếm , chân sư khó tìm . Không ít những người đội lốt nhà sư nhập vai đóng giả làm người tu hành lại giữ những chức sắc trong giáo hội để theo đuổi một ý đồ thế tục . Hoặc không ít những kinh sư chuyên nghiệp mượn chiếc áo để làm giàu cho cá nhân ... Tất cả những người này đều là giấy bạc giả của nhà chùa . Họ là những con vi trùng trong thân sư tử mà ngày xưa đức Phật đã từng cảnh báo : " Sư tử trùng đục sư tử nhục " . Hạng người này ta không cần bàn đến ở đây . Ở đây ta chỉ nói đến những bậc xúât gia đã từng phát bồ đề tâm , đã từng bi thiết khẩn trương tìm cầu giải thoát như " Cứu cái đầu của mình sắp bị lửa cháy sém ". Những vị này sau khi mặc áo cà sa vẫn còn sự mà đôi khi sự còn nhiều hơn . Trong " Thiền luận " , Suzuki có kể kinh nghiệm của một người tu đạo qua ba giai đoạn :
- Khi chưa vào đạo tu tập tôi thấy núi là núi sông là sông
- Khi đã vào đạo tu tập tôi thấy núi không phải là núi sông không phải là sông
- Và khi tôi đã giác ngộ rồi thì núi vẫn là núi sông vẫn là sông
Khi chưa quán niệm sâu sự vật ta thấy sự vật chỉ là sự vật như nó vốn có . Nhưng khi quán niệm sâu vào sự vật ta thấy sự vật không có tự tính , tự thể mà do tương tức tương nhập mà có ( tương tức là caí nầy có vì cái kia có , cái nầy không vì cái kia không còn tương nhập là cái nầy có trong cái kia ) . Như vậy núi không phải là núi sông không phải là sông . Bởi vì núi được cấu thành bởi những yếu tố không phải núi và sông cũng được cấu thành bởi những yếu tố không phải sông .Theo nguyên tắc tương nhập núi đã đi vào sông và sông đã đi vào núi . Nhưng khi đã ngộ đạo rồi và trở về với thế giới sinh hoạt hằng ngày thì núi vẫn là núi sông vẫn là sông . Và như vậy ta muốn tắm phải lội xuống sông , muốn hái củi phải leo lên núi . Người mới khoác áo cà sa mới vào đạo thì thấy núi không phải là núi sông không phải là sông mới chỉ là bước đầu của quá trình tu tập chuyển hóa . Bước nầy làm cho hành giả cảm thấy rối rắm hoài nghi , khởi nghi tình sinh ra lắm chuyện . Cũng giai đoạn nầy , hành giả hoang mang đặt ra nhiều nghi vấn , nhiều vấn đề . Ví dụ : đặt câu hỏi con chó có Phật tính không ? Ý của tổ sư Đạt Ma qua Đông Độ là gì ?
Hoặc một thiền sinh năm mươi tuổi đạo đến hỏi Shinkan , một thiền sư tu chứng , rằng :
- Tôi đã học ở Tendai về tư tưởng khi tôi còn bé , nhưng có một điều tôi không hiểu được . Tendai dạy rằng đến cỏ cây cũng sẽ giác ngộ . Đối với tôi điều này có vẻ kỳ lạ quá .
Shinkan trả lời :
- Bàn luận về cỏ cây sẽ giác ngộ thế nào có ích chi đâu . Vấn đề là làm sao chính ông có thể giác ngộ được , ông có xét thấy điều nầy không ?
Mặc áo cà sa rồi mà vẫn còn đa sự là do tập khí tư duy , biện biệt , tìm cầu bên ngoài mình . Tệ hại hơn nữa là ôm chặt những giáo điều, định kiến . Đời Đường Trung Quốc có một gia đình gồm có ba thành viên đều tu tại gia . Đó là gia đình của cư sĩ Bằng Uẩn . Một hôm ông chồng xướng thoại đầu : Khó , khó , khó một tạ dầu mè trên đầu cây vuốt .
Bà vợ : Dễ, dễ, dễ trăm đầu ngọn cỏ ý tổ sư .
Con gái : Cũng không khó , cũng không dễ , đói ăn cơm , mệt ngủ khì
Thì ra mọi con đường hàng ngày đều là con đường vào đạo : gánh nước, bửa củi, đói ăn , khát uống , mệt nghỉ đều là đạo :
Nhật dụng vô phi đạo
Tâm an tức thị thiền
Núi vẫn là núi sông vẫn là sông là tuệ giác của nhà thiền . " Không tư duy là yếu chỉ của việc tọa thiền .
Không ai trên đời muốn đa đoan đa sự . Dù là đa sự ngoài thế tục hay đa sự trong chốn thiền môn đều phiền não như nhau . Ái và kiến là hai mặt của phiền não . Tu mà còn bận bịu , còn lo lắng , còn nhiều vấn đề , còn nhiều dự án thì làm sao trở thành người vô sự được . Người vô sự là người không đâu để đến , không chi để làm ; nhưng lại đi đâu cũng tới thấy chi cũng làm . Làm rất nhiều mà xem như không làm chi cả . Lấy cái làm mà không làm , lấy cái không làm mà làm .
Trơ trơ không tu thiện
Lăng xăng không tạo ác
Giải trừ tâm phân biệt
Lộ lộ tâm vô trước
Khi tiếp xúc với ngoại cảnh bằng cách nhìn sâu và lắng nghe với cái tâm không chấp trước , không phân biệt thì tất cả pháp đều là Phật pháp vậy !
Thứ Bảy, 31 tháng 12, 2011
Thứ Hai, 12 tháng 12, 2011
Lập đông
Lập đông nầy bửa hôm nay
Trời se thắt lạnh mới hay thu tàn
Nghe từ viễn mộng mơ màng...
Trong tro lạnh.. vẫn còn than lửa hồng
Trời se thắt lạnh mới hay thu tàn
Nghe từ viễn mộng mơ màng...
Trong tro lạnh.. vẫn còn than lửa hồng
Thứ Bảy, 26 tháng 11, 2011
Khổ nhi tri
Khổ nhi tri hay khốn nhi tri là do khốn khổ cùng cực mà thấu hiểu lẽ trời lẽ đạo . Sách trung dung dành riêng một phần quan trọng ( chương XXIII) để bàn về phương pháp học hỏi . Trước hết là bàn về cách BIẾT . Có ba cách BIẾT :Một là sinh ra đã biết ( sinh nhi tri ) cái biết do thiên bẩm của bậc thượng trí ; thứ hai là học mà biết ( học nhi tri ) là cách biết bậc thứ của người bình thường và thứ ba là do chịu khốn cùng khổ sở , nhờ vào kinh nghiệm mà biết ( KHỔ nhi tri ). Dù biết bằng cách nào thì kết quả vẫn như nhau . Sự liễu ngộ trong đạo Phật bắt đầu từ liễu sinh tử . Chấp nhận sự thật khổ đau ( khổ đế )để tìm hiểu nguyên nhân khổ đau ( tập đế )và rồi chọn con đường tu tập ( đạo đế )để chấm dứt khổ đau ( diệt đế ) ." Đời là bể khổ" câu nói dân gian này phát ra từ cửa miệng của những người lâm vào cảnh khổ . Sinh lão bệnh tử khổ , cầu bất đắc khổ , ái biệt ly khổ oán tắng hội khổ , ...Không ai tránh được khổ .Nói như cách nói của một nhà thơ nào đó :
"Thuyền ai ngược gió ai xuôi gió
Cũng chỉ trong vòng bể thảm thôi "
Tuy nhiên , nói như vậy không có nghĩa là ai ai cũng khổ . Nhờ y báo , phước báo thừa hưởng nhân lành kiếp trước nên có người gặp nhiều may mắn , được sung sướng hạnh phúc . Song dù vậy họ vẫn không thoát được sinh lão bệnh tử . Nói về người chịu cảnh khổ sẽ có hai thái độ khác nhau
1/ Chấp nhận sự thật một cách hoan hỹ . người này kham nhẫn chịu đựng kết quả của nghiệp NHÂN kiếp trước ( Đức Phật dạy rằng chúng sinh là kẻ thừa tự những hành động mà y đã gây ra trong quá khứ).Kham nhẫn là chịu đựng được những gì tưởng chừng không thể chịu đựng . Kinh qua được khổ đau cùng cực người này sẽ thấu hiểu được lẽ vô thường vô ngã .
2/ Chịu hoàn cảnh khổ đau một cách buông xuôi , tha hồ để buồn đau gậm nhấm ,tàn hại thân tâm . Họ để cho nỗi khổ đau đè nặng lên thân phận rồi than thân trách phận , than trời trách đất , hờn cha oán mẹ .Họ không nghĩ quả đời này chính là nhân đời trước . Nói như cụ Nguyễn Du :
Đã mang lấy nghiệp vào thân
Cũng đừng trách lẫn trời gần trời xa
Cái khổ nào rồi cũng giống cái khổ nào . hoàn cảnh thì không khác chỉ khác nhau ở thái độ của con người trước hoàn cảnh mà thôi . Do cái nhìn phân biệt mà nẩy sinh ra các hoàn cảnh khác nhau : " Tôi khổ đau vì tôi nhìn thấy hoàn cảnh của tôi khác hoàn cảnh của người kia , họ có phước hơn tôi , con họ thành đạt hơn con tôi ..vv... Với cái nhìn và thái độ ấy đương sự trước sau gì cũng chìm trong bể khổ . Nhưng nếu chấp nhận SỰ THẬT ( khổ ) một cách hoan hỹ , kham nhẫn , chịu đựng ...thì con người trong cảnh khổ này sẽ ngộ ra chân lý cuộc đời : Khổ- vô thường - vô ngã-.Vì quá đau khổ ta thấu hiểu được rằng ĐỜI LÀ KHỔ . Hiểu được khổ ta dễ dàng chấp nhận vô thường và vì vô thường nên mới vô ngã . Khổ nhi tri
Chịu đựng được điều tưởng chừng như không thể chịu đựng được gọi là nhẫn ba la mật . Kinh Kim Cang gọi là đắc thành ư nhẫn ..
Tu là phải rèn luyện trong sự đau khổ ( khổ tu ) . Tu sĩ Phật giáo tự xưng là bần tăng chứ không ai xưng là phú tăng . Ngày nay ít thấy ai xưng bần tăng vì đa số có khá nhiều tư hữu .. Khổ đau khốn đốn là nghịch cảnh của người TU . "Tu trong nghịch cảnh chẳng khác nào nồi lửa bỏng mà rèn luyện thành kim cang bất hoại .". Thiền sư Hoàng Bá cho rằng để có được mùi hương thơm ngát vào mùa xuân thì hoa mai phải biết chịu cái rét buốt của đêm đông hôm trước :
Chẳng trãi một phen xương lạnh buốt
Hoa mai đâu dễ ngát hương đưa
Khổ nhi tri là một cách biết , cách học hỏi để biết từ thế bị động biến thành chủ động - Vật cùng tất biến, biến cùng tất thông -. Trong lịch sử trong văn chương và cả trong thực tế cuộc sống liên tục xảy ra đây đó hiện tượng nầy . Ta thử đơn cử vài ví dụ :
Vua Trần Thái Tông tức Trần Cảnh bị chú ruột của mình là Trần Thủ Độ bức ép lấy chị dâu ( vợ Trần Liễu ) đang có mang . Trần Cảnh đau khổ buồn bã, chán ngán trước cảnh thương luân bại lý đã bỏ cung điện ngôi báu như vứt " đôi giày rách " đang đêm qua sông Bình Than vào chùa Hoa Yên núi Yên Tử phát nguyện xuất gia cùng thiền sư Phù Vân . Vua nói : Ta đến đây chỉ cầu làm Phật không cầu gì khác ( duy cầu tác Phật bất cầu tha vật ) . Thiền sư khuyên vua : Bệ hạ nên trở về để thực hiện Đạo trong Đời . Trong núi không có Phật .Phật ở tại trong tâm .Tâm yên tỉnh mà giác ngộ ấy là Chân Phật .
Và như vậy từ nỗi đau khổ bị bức ép mà Trần Cảnh đã giác ngộ được điều thứ nhất trong tám điều giác ngộ của bậc đại nhân ( bát đại nhân giác ) .*
Trần Thủ Độ vì muốn gầy dựng nghiệp đế cho nhà tần nên bất chấp mọi thủ đoạn . Thủ Độ ép Lý huệ tông phải vào chùa . Trong hoàn cảnh bị bức ép , đau khổ , Lý huệ Tông không có tâm thế sẵn sàng chịu đựng nên khi nghe Thủ độ dọa " nhổ cỏ tận gốc "thì bèn ra sau chùa thắt cổ tự tử . Vì đã vào chùa nhưng chưa đắc thành ư nhẫn nhà vua cuối cùng của họ Lý phải chịu sự bức tử !
Xem ra khổ và chịu khổ là hai thái độ khác nhau . Khổ là để cho nỗi đau tha hồ gậm nhấm , tàn hại thân tâm . Còn chịu khổ là kham nhẫn chấp nhận thực tại khổ đau , giáp mặt cuộc đời tìm ra lẽ đạo :
"Bắt phong trần phải phong trần
Cho thanh cao mới được phần thanh cao "
Hai câu trên làm ta liên tưởng đến thân phận nàng Kiều trong truyện Kiều của Nguyễn du . Trải qua Mười lăm năm bị trôi giạt , dập vùi , tủi nhục ê chề Kiều đã ngộ ra một điều : " tu là cõi phúc , tình là dây oan ".Trong buổi Kim Kiều tái hợp , cả nhà ai cũng động viên khích lệ Kiều chấp nối mối tình dang dở với Kim Trọng . Thế nhưng Kiều một mực chối từ và xin lập một am tranh sau vườn để tu cho hết kiếp phong trần .
Thì ra , hạt giống Bồ Đề cho dù bị vùi lấp trong bùn đen tanh tưởi vẫn còn khả tính triển nở , nẩy mầm , để rồi vươn lên cao vút .... Tuy cũng có lúc Thúy Kiều buông tay trước số phận :
"Thân lươn bao quản lấm đầu
Chút lòng trinh bạch từ sau xin chừa "
Sao lại chừa chút lòng trinh bạch ? Đó là bi kịch muôn thuở của con người bị o ép trước hoàn cảnh . Vì hoàn cảnh mà con người muốn sống lương thiện , hiền lương cũng không xong . Xưa nay người ta xin chừa những thói hư tật xấu chứ nào ai nói xin chừa lòng trinh bạch ?! Không phải Thúy kiều đổ thừa hoàn cảnh để ra tiếp khách làng chơi mà vì nàng biết rất rõ khung hình phạt đối với tội " bỏ nhà theo trai "trong bối cảnh xã hội bấy giờ . Lỗi không phải ở nàng mà ở tên Sở Khanh đểu cáng trân tráo . Hắn ta đã cấu kết với tú bà dụ cho Kiều bỏ trốn rồi chỉ điểm cho tú bà bắt lại .Điều đáng quý là mặc dầu " thanh y hai lượt thanh lâu hai lần "nhưng Kiều vẫn giữ được một " chữ Trinh " ( chữ trinh còn lại chút này ) . Chữ trinh ở đây chính là" nhất phiến băng tâm "là giác tính là lương thức trong " linh khâm " của mỗi con người . Như nữ sĩ Hồ Xuân Hương đã nói :
"Rắn nát mặc dầu tay kẻ nặn
Mà em vẫn giữ tấm lòng son "
Nhờ vào giác tính lương thức ấy mà Kiều ngộ ra được vô thường vô ngã . . Nhìn sâu vào khổ đau ta thấu hiểu được lẽ vô thường , hiểu được vô thường là chấp nhận vô ngã và vô ngã dẫn ta đến niết bàn !Niết bàn có nghĩa là dập tắt , tắt ngấm những khổ đau phiền muộn , đạt trạng thái an lạc diệt độ .
Vào những năm 80 , nhiều người Việt Nam tìm đủ mọi cách vượt biển để tìm đến miền đất mà họ muốn đến . Họ đã phải chịu bao nhiêu nguy hiểm , gian truân lẫn máu và nước mắt trong chuyến đi này . Nào là sóng to gió dữ nào là hải tặc hung hãn hiếp người cướp của ...nào là đói , khát , nào là thuyền bị chết máy giữa biển...Có gia đình năm người sau chuyến đi chỉ còn một người sống sót . Người phụ nữ nầy đã may mắn sống sót trong khi chồng chị , hai con chị và đứa em của chị đã không còn nữa . Đây là hoàn cảnh khổ đau tưởng chừng như không thể chịu đưng nổi ! Nhưng chị ấy đã vượt qua nhờ pháp âm , hải triều âm đã cảm ứng đạo giao. Khi đã chịu đựng tận cùng nỗi khổ chị đã ngộ được lẽ đời lẽ đạo . Chị dùng gần hầu hết đồng tiền kiếm được gởi về quê nhà cho gia đình và nhờ các em đi làm việc từ thiện .Chị muốn chia sẽ một phần với những mảnh đời khốn khó ;chị muốn nhờ bàn tay nối dài xoa dịu những nỗi lòng đau khổ . Đúng là " đoạn trường ai có qua cầu mới hay ".
Về tiến trình tâm , có bốn giai đoạn đạt trạng thái đoạn, hoặc ,chứng ,chân , chuyển mê thành ngộ . Đó là thấy , biết , sáng đạt .Riêng về cái biết có ba cách biết như đã nói ở trên . Đối với bậc thượng trí sinh nhi tri như Tổ Huệ Năng chỉ cần nghe một câu trong kinh Kim Cang là đã ngộ . Có người miệt mài kinh giáo mới được ngộ như ngài Thần Tú . Cũng có người do giáp mặt với những khổ đau cùng cực mà tự ngộ ra lẽ đời lẽ đạo . Ấy gọi là khổ nhi tri . Nhưng không phải hể khổ là biết . Muốn biết, người chịu khổ phải có thái độ chấp nhận sự thật" một cách hoan hỷ", phải biết kham nhẫn để chuyển hóa hoàn cảnh . Nỗi khổ đau là bậc thang cho người trí dũng nhưng là vực thẳm cho kẻ yếu mềm bi lụy . Alfred de Musset, một nhà thơ Pháp , đã nói :" Không có gì làm cho ta trở nên kỳ vĩ cao đại bằng một nỗi đau đớn lớn nhất " ( Rien ne nous rend si grand qu'une grande douleur).
__________________________________________________________________________________________________________
.*Điều thứ nhất trong tám điều giác ngộ của bậc đại nhân : Cuộc đời là vô thường , cấu tạo các đại đều rỗng , ngũ ấm không có thực ngã . Tâm không tạp loạn . Thân không tham dục
"Thuyền ai ngược gió ai xuôi gió
Cũng chỉ trong vòng bể thảm thôi "
Tuy nhiên , nói như vậy không có nghĩa là ai ai cũng khổ . Nhờ y báo , phước báo thừa hưởng nhân lành kiếp trước nên có người gặp nhiều may mắn , được sung sướng hạnh phúc . Song dù vậy họ vẫn không thoát được sinh lão bệnh tử . Nói về người chịu cảnh khổ sẽ có hai thái độ khác nhau
1/ Chấp nhận sự thật một cách hoan hỹ . người này kham nhẫn chịu đựng kết quả của nghiệp NHÂN kiếp trước ( Đức Phật dạy rằng chúng sinh là kẻ thừa tự những hành động mà y đã gây ra trong quá khứ).Kham nhẫn là chịu đựng được những gì tưởng chừng không thể chịu đựng . Kinh qua được khổ đau cùng cực người này sẽ thấu hiểu được lẽ vô thường vô ngã .
2/ Chịu hoàn cảnh khổ đau một cách buông xuôi , tha hồ để buồn đau gậm nhấm ,tàn hại thân tâm . Họ để cho nỗi khổ đau đè nặng lên thân phận rồi than thân trách phận , than trời trách đất , hờn cha oán mẹ .Họ không nghĩ quả đời này chính là nhân đời trước . Nói như cụ Nguyễn Du :
Đã mang lấy nghiệp vào thân
Cũng đừng trách lẫn trời gần trời xa
Cái khổ nào rồi cũng giống cái khổ nào . hoàn cảnh thì không khác chỉ khác nhau ở thái độ của con người trước hoàn cảnh mà thôi . Do cái nhìn phân biệt mà nẩy sinh ra các hoàn cảnh khác nhau : " Tôi khổ đau vì tôi nhìn thấy hoàn cảnh của tôi khác hoàn cảnh của người kia , họ có phước hơn tôi , con họ thành đạt hơn con tôi ..vv... Với cái nhìn và thái độ ấy đương sự trước sau gì cũng chìm trong bể khổ . Nhưng nếu chấp nhận SỰ THẬT ( khổ ) một cách hoan hỹ , kham nhẫn , chịu đựng ...thì con người trong cảnh khổ này sẽ ngộ ra chân lý cuộc đời : Khổ- vô thường - vô ngã-.Vì quá đau khổ ta thấu hiểu được rằng ĐỜI LÀ KHỔ . Hiểu được khổ ta dễ dàng chấp nhận vô thường và vì vô thường nên mới vô ngã . Khổ nhi tri
Chịu đựng được điều tưởng chừng như không thể chịu đựng được gọi là nhẫn ba la mật . Kinh Kim Cang gọi là đắc thành ư nhẫn ..
Tu là phải rèn luyện trong sự đau khổ ( khổ tu ) . Tu sĩ Phật giáo tự xưng là bần tăng chứ không ai xưng là phú tăng . Ngày nay ít thấy ai xưng bần tăng vì đa số có khá nhiều tư hữu .. Khổ đau khốn đốn là nghịch cảnh của người TU . "Tu trong nghịch cảnh chẳng khác nào nồi lửa bỏng mà rèn luyện thành kim cang bất hoại .". Thiền sư Hoàng Bá cho rằng để có được mùi hương thơm ngát vào mùa xuân thì hoa mai phải biết chịu cái rét buốt của đêm đông hôm trước :
Chẳng trãi một phen xương lạnh buốt
Hoa mai đâu dễ ngát hương đưa
Khổ nhi tri là một cách biết , cách học hỏi để biết từ thế bị động biến thành chủ động - Vật cùng tất biến, biến cùng tất thông -. Trong lịch sử trong văn chương và cả trong thực tế cuộc sống liên tục xảy ra đây đó hiện tượng nầy . Ta thử đơn cử vài ví dụ :
Vua Trần Thái Tông tức Trần Cảnh bị chú ruột của mình là Trần Thủ Độ bức ép lấy chị dâu ( vợ Trần Liễu ) đang có mang . Trần Cảnh đau khổ buồn bã, chán ngán trước cảnh thương luân bại lý đã bỏ cung điện ngôi báu như vứt " đôi giày rách " đang đêm qua sông Bình Than vào chùa Hoa Yên núi Yên Tử phát nguyện xuất gia cùng thiền sư Phù Vân . Vua nói : Ta đến đây chỉ cầu làm Phật không cầu gì khác ( duy cầu tác Phật bất cầu tha vật ) . Thiền sư khuyên vua : Bệ hạ nên trở về để thực hiện Đạo trong Đời . Trong núi không có Phật .Phật ở tại trong tâm .Tâm yên tỉnh mà giác ngộ ấy là Chân Phật .
Và như vậy từ nỗi đau khổ bị bức ép mà Trần Cảnh đã giác ngộ được điều thứ nhất trong tám điều giác ngộ của bậc đại nhân ( bát đại nhân giác ) .*
Trần Thủ Độ vì muốn gầy dựng nghiệp đế cho nhà tần nên bất chấp mọi thủ đoạn . Thủ Độ ép Lý huệ tông phải vào chùa . Trong hoàn cảnh bị bức ép , đau khổ , Lý huệ Tông không có tâm thế sẵn sàng chịu đựng nên khi nghe Thủ độ dọa " nhổ cỏ tận gốc "thì bèn ra sau chùa thắt cổ tự tử . Vì đã vào chùa nhưng chưa đắc thành ư nhẫn nhà vua cuối cùng của họ Lý phải chịu sự bức tử !
Xem ra khổ và chịu khổ là hai thái độ khác nhau . Khổ là để cho nỗi đau tha hồ gậm nhấm , tàn hại thân tâm . Còn chịu khổ là kham nhẫn chấp nhận thực tại khổ đau , giáp mặt cuộc đời tìm ra lẽ đạo :
"Bắt phong trần phải phong trần
Cho thanh cao mới được phần thanh cao "
Hai câu trên làm ta liên tưởng đến thân phận nàng Kiều trong truyện Kiều của Nguyễn du . Trải qua Mười lăm năm bị trôi giạt , dập vùi , tủi nhục ê chề Kiều đã ngộ ra một điều : " tu là cõi phúc , tình là dây oan ".Trong buổi Kim Kiều tái hợp , cả nhà ai cũng động viên khích lệ Kiều chấp nối mối tình dang dở với Kim Trọng . Thế nhưng Kiều một mực chối từ và xin lập một am tranh sau vườn để tu cho hết kiếp phong trần .
Thì ra , hạt giống Bồ Đề cho dù bị vùi lấp trong bùn đen tanh tưởi vẫn còn khả tính triển nở , nẩy mầm , để rồi vươn lên cao vút .... Tuy cũng có lúc Thúy Kiều buông tay trước số phận :
"Thân lươn bao quản lấm đầu
Chút lòng trinh bạch từ sau xin chừa "
Sao lại chừa chút lòng trinh bạch ? Đó là bi kịch muôn thuở của con người bị o ép trước hoàn cảnh . Vì hoàn cảnh mà con người muốn sống lương thiện , hiền lương cũng không xong . Xưa nay người ta xin chừa những thói hư tật xấu chứ nào ai nói xin chừa lòng trinh bạch ?! Không phải Thúy kiều đổ thừa hoàn cảnh để ra tiếp khách làng chơi mà vì nàng biết rất rõ khung hình phạt đối với tội " bỏ nhà theo trai "trong bối cảnh xã hội bấy giờ . Lỗi không phải ở nàng mà ở tên Sở Khanh đểu cáng trân tráo . Hắn ta đã cấu kết với tú bà dụ cho Kiều bỏ trốn rồi chỉ điểm cho tú bà bắt lại .Điều đáng quý là mặc dầu " thanh y hai lượt thanh lâu hai lần "nhưng Kiều vẫn giữ được một " chữ Trinh " ( chữ trinh còn lại chút này ) . Chữ trinh ở đây chính là" nhất phiến băng tâm "là giác tính là lương thức trong " linh khâm " của mỗi con người . Như nữ sĩ Hồ Xuân Hương đã nói :
"Rắn nát mặc dầu tay kẻ nặn
Mà em vẫn giữ tấm lòng son "
Nhờ vào giác tính lương thức ấy mà Kiều ngộ ra được vô thường vô ngã . . Nhìn sâu vào khổ đau ta thấu hiểu được lẽ vô thường , hiểu được vô thường là chấp nhận vô ngã và vô ngã dẫn ta đến niết bàn !Niết bàn có nghĩa là dập tắt , tắt ngấm những khổ đau phiền muộn , đạt trạng thái an lạc diệt độ .
Vào những năm 80 , nhiều người Việt Nam tìm đủ mọi cách vượt biển để tìm đến miền đất mà họ muốn đến . Họ đã phải chịu bao nhiêu nguy hiểm , gian truân lẫn máu và nước mắt trong chuyến đi này . Nào là sóng to gió dữ nào là hải tặc hung hãn hiếp người cướp của ...nào là đói , khát , nào là thuyền bị chết máy giữa biển...Có gia đình năm người sau chuyến đi chỉ còn một người sống sót . Người phụ nữ nầy đã may mắn sống sót trong khi chồng chị , hai con chị và đứa em của chị đã không còn nữa . Đây là hoàn cảnh khổ đau tưởng chừng như không thể chịu đưng nổi ! Nhưng chị ấy đã vượt qua nhờ pháp âm , hải triều âm đã cảm ứng đạo giao. Khi đã chịu đựng tận cùng nỗi khổ chị đã ngộ được lẽ đời lẽ đạo . Chị dùng gần hầu hết đồng tiền kiếm được gởi về quê nhà cho gia đình và nhờ các em đi làm việc từ thiện .Chị muốn chia sẽ một phần với những mảnh đời khốn khó ;chị muốn nhờ bàn tay nối dài xoa dịu những nỗi lòng đau khổ . Đúng là " đoạn trường ai có qua cầu mới hay ".
Về tiến trình tâm , có bốn giai đoạn đạt trạng thái đoạn, hoặc ,chứng ,chân , chuyển mê thành ngộ . Đó là thấy , biết , sáng đạt .Riêng về cái biết có ba cách biết như đã nói ở trên . Đối với bậc thượng trí sinh nhi tri như Tổ Huệ Năng chỉ cần nghe một câu trong kinh Kim Cang là đã ngộ . Có người miệt mài kinh giáo mới được ngộ như ngài Thần Tú . Cũng có người do giáp mặt với những khổ đau cùng cực mà tự ngộ ra lẽ đời lẽ đạo . Ấy gọi là khổ nhi tri . Nhưng không phải hể khổ là biết . Muốn biết, người chịu khổ phải có thái độ chấp nhận sự thật" một cách hoan hỷ", phải biết kham nhẫn để chuyển hóa hoàn cảnh . Nỗi khổ đau là bậc thang cho người trí dũng nhưng là vực thẳm cho kẻ yếu mềm bi lụy . Alfred de Musset, một nhà thơ Pháp , đã nói :" Không có gì làm cho ta trở nên kỳ vĩ cao đại bằng một nỗi đau đớn lớn nhất " ( Rien ne nous rend si grand qu'une grande douleur).
__________________________________________________________________________________________________________
.*Điều thứ nhất trong tám điều giác ngộ của bậc đại nhân : Cuộc đời là vô thường , cấu tạo các đại đều rỗng , ngũ ấm không có thực ngã . Tâm không tạp loạn . Thân không tham dục
Thứ Hai, 21 tháng 11, 2011
Phép lạ
Lời qua tiếng lại mà chi
Cũng không cứu vãn được gì nữa đâu
Chi bằng hít thở cho sâu
Rỗng rang mỉm miệng mời nhau nụ cười
Cũng không cứu vãn được gì nữa đâu
Chi bằng hít thở cho sâu
Rỗng rang mỉm miệng mời nhau nụ cười
Thứ Ba, 15 tháng 11, 2011
Đường đi vào đạo
Không ít người cho rằng đường đi vào đạo là đại tạng kinh điển , là các lớp học giáo lý , là đường đến chùa , đường lên núi Thướu , đường đến núi Bà , đường ra Tịnh Xứ , đường xuống biển Nam ,...Thật ra mọi con đường hàng ngày là con đường vào đạo đấy thôi .
Ngài Huệ Trung Thượng Sĩ nói : " Hoa đào đâu phải cội bồ . Linh Vân sao lại tìm vô đạo tràng ? " . Hòa thượng Linh Vân là học trò ngài Quy Sơn bỏ hết sách vở kinh kệ đi chơi rong tình cờ bắt gặp hoa đào nở liền hốt nhiên đại ngộ.Ngài làm bài thi kệ sau đây :
Tam thập niên lai tầm kiếm khách
Kỷ hồi lạc diệp hựu trừu chi
Tư tòng nhất kiến đào hoa hậu
Trực chỉ như kim cánh bất nghi
Dịch :
Ba chục năm rồi tìm kiếm khách
Mấy hồi lá rụng cành cây khô
Một lần chợt thấy hoa đào ấy
Nghi vấn xưa nay thấy rụng rời
Đúng là hoa đào không phải là cội bồ đề bởi vì đã là Linh Vân rồi thì không cần phải đến đạo tràng.
Như vây con đường vào đạo , ngộ đạo không nhất thiết là con đường vào chùa , không nhất thiết là con đường đến các trường trung cấp ,cao đẳng , đại học Phật giáo , cũng không nhất thiết là những con đường hành hương lễ Phật . Bởi vì mọi con đường hàng ngày đều là con đường vào đạo . Hòa thương Linh Vân nhìn thấy hoa đào mà lòng bừng sáng diệu tâm của mình . Đó là phút giây bừng thức, phút giây đại ngộ . Trong nhà thiền không ít những bậc đại sư miệt mài giáo điển, tụng đọc kinh luận , đi thăm vấn hết thầy nầy đến thầy kia mà vẫn chưa ngộ . Thế rồi một ngày kia không tìm mà được , không đi mà đến như ngài Đức Sơn , ngài Hương Nghiêm.Ngài Đức Sơn đứng hầu thầy tới khuya không chịu về . Thầy bảo về đi . Đức Sơn chạy ra ngoài rồi chạy vào nói trời tối quá . Thầy bảo đốt đuốc lên mà đi . Thế là Đức Sơn bừng ngộ . Còn ngài Hương Nghiêm rời bỏ kinh sách , lấy chổi quét sân chùa , bỗng nghe tiếng sỏi va vào bụi trúc hốt nhiên đại ngộ . Như vậy những việc làm hàng ngày như xem hoa nở như quét sân chùa đều là con đường vào đạọ.
Tuệ Trung Thượng Sĩ viết trong ngữ lục :
Đi cũng thiền ngồi cũng thiền
Trong lò lửa đỏ một cành sen
Ý khí mất đi thêm ý khí
Được an tiện đấy cứ tiện an
Đó cũng là tư tưởng tùy xứ tác chủ . Có nghĩa là ở đâu ta cũng làm chủ , ở đâu ta cũng có chủ quyền của mình , ở đâu ta cũng sống thành thật với chính mình . Sống trong chánh niệm ta chế tác ra được rất nhiều năng lượng . Với năng lượng nầy giúp ta khai mở , triển nở , hiển lộ những điều mới mẽ trong cuộc sống . Mọi con đường hàng ngày là con đường vào đạo với điều kiện là người đi trên con đường ấy phải chánh niệm . Niệm sinh ra Định ,Định sinh ra Tuệ . Trước hết là niệm . Khi ta chánh niệm ta biết ta là ai , ta biết cái gì đang xảy ra . Trong niệm có định ,trong niệm cũng có huệ . Ngài Huệ năng nói : " Định và Tuệ đừng tưởng đó là hai cái .Định tức là Tuệ " .Đi cũng thiền ,nằm cũng thiền . Nói nín động tĩnh thể an nhiên .Khi đã chánh niệm thì mọi con đường hàng ngày là con đường vào đạo . Ở trong phòng mà chánh niệm là Phật , ngồi giữa đạo tràng mà tà niệm vẫn là ma . Chánh niệm giúp ta làm mới từng giây phút hiện tại .Trúc Lâm đạo sĩ núi Yên Tử nói : " Nhất hồi niêm xuất nhất hồi tân ( Mỗi lần bàn đến lại thành mới tinh ).Thiền sư Nhất Hạnh nói : "Khi ta làm mới lại con người của ta trong từng giây phút hiện tại tức thì ta cảm thấy mát mẽ, dễ chịu đối với mọi người ; và khi ta đổi mới ta rồi thì nhìn mọi vật đều mới "
Đem tâm về với thân bằng hơi thở nhiếp niệm . Hơi thở có ý thức tạo ra sự hòa điệu giữa thân với tâm : Thân tâm nhất như .
Chánh niệm chánh tâm giúp ta làm chủ được mọi cảnh ngộ , mọi tình huống .Chí sĩ Phan Bội châu , một nhà thơ nho học , cũng phải công nhận sức mạnh vô địch của chánh tâm : " Muốn làm thánh triết cốt ở chánh tâm . Đánh được giặc tâm mới là danh tướng "
Ngày nay người ta tu hành theo phong trào hành hương lễ Phật cầu phước . Họ rũ nhau đi cầu lộc ở núi Bà , cầu phước ở núi Yên tử ...mà quên những bước đi chánh niệm . Đi trong chánh niệm là con đường hàng ngày đưa ta vào đạo . Đi trong chánh niệm là nẻo về của ý . Đi trong chánh niệm là dập tắt những nóng bức sân hận , những hờn giận ganh đua để đến tịch diệt niết bàn.
Bài thi kệ Thiền hành sau đây giúp ta thấy được lợi lạc của việc đi trong chánh niệm:
Ý về muôn vạn nẻo
Thiền lộ tâm an nhiên
Từng bước gió mát dậy
Từng bước nở hoa sen
Ngài Huệ Trung Thượng Sĩ nói : " Hoa đào đâu phải cội bồ . Linh Vân sao lại tìm vô đạo tràng ? " . Hòa thượng Linh Vân là học trò ngài Quy Sơn bỏ hết sách vở kinh kệ đi chơi rong tình cờ bắt gặp hoa đào nở liền hốt nhiên đại ngộ.Ngài làm bài thi kệ sau đây :
Tam thập niên lai tầm kiếm khách
Kỷ hồi lạc diệp hựu trừu chi
Tư tòng nhất kiến đào hoa hậu
Trực chỉ như kim cánh bất nghi
Dịch :
Ba chục năm rồi tìm kiếm khách
Mấy hồi lá rụng cành cây khô
Một lần chợt thấy hoa đào ấy
Nghi vấn xưa nay thấy rụng rời
Đúng là hoa đào không phải là cội bồ đề bởi vì đã là Linh Vân rồi thì không cần phải đến đạo tràng.
Như vây con đường vào đạo , ngộ đạo không nhất thiết là con đường vào chùa , không nhất thiết là con đường đến các trường trung cấp ,cao đẳng , đại học Phật giáo , cũng không nhất thiết là những con đường hành hương lễ Phật . Bởi vì mọi con đường hàng ngày đều là con đường vào đạo . Hòa thương Linh Vân nhìn thấy hoa đào mà lòng bừng sáng diệu tâm của mình . Đó là phút giây bừng thức, phút giây đại ngộ . Trong nhà thiền không ít những bậc đại sư miệt mài giáo điển, tụng đọc kinh luận , đi thăm vấn hết thầy nầy đến thầy kia mà vẫn chưa ngộ . Thế rồi một ngày kia không tìm mà được , không đi mà đến như ngài Đức Sơn , ngài Hương Nghiêm.Ngài Đức Sơn đứng hầu thầy tới khuya không chịu về . Thầy bảo về đi . Đức Sơn chạy ra ngoài rồi chạy vào nói trời tối quá . Thầy bảo đốt đuốc lên mà đi . Thế là Đức Sơn bừng ngộ . Còn ngài Hương Nghiêm rời bỏ kinh sách , lấy chổi quét sân chùa , bỗng nghe tiếng sỏi va vào bụi trúc hốt nhiên đại ngộ . Như vậy những việc làm hàng ngày như xem hoa nở như quét sân chùa đều là con đường vào đạọ.
Tuệ Trung Thượng Sĩ viết trong ngữ lục :
Đi cũng thiền ngồi cũng thiền
Trong lò lửa đỏ một cành sen
Ý khí mất đi thêm ý khí
Được an tiện đấy cứ tiện an
Đó cũng là tư tưởng tùy xứ tác chủ . Có nghĩa là ở đâu ta cũng làm chủ , ở đâu ta cũng có chủ quyền của mình , ở đâu ta cũng sống thành thật với chính mình . Sống trong chánh niệm ta chế tác ra được rất nhiều năng lượng . Với năng lượng nầy giúp ta khai mở , triển nở , hiển lộ những điều mới mẽ trong cuộc sống . Mọi con đường hàng ngày là con đường vào đạo với điều kiện là người đi trên con đường ấy phải chánh niệm . Niệm sinh ra Định ,Định sinh ra Tuệ . Trước hết là niệm . Khi ta chánh niệm ta biết ta là ai , ta biết cái gì đang xảy ra . Trong niệm có định ,trong niệm cũng có huệ . Ngài Huệ năng nói : " Định và Tuệ đừng tưởng đó là hai cái .Định tức là Tuệ " .Đi cũng thiền ,nằm cũng thiền . Nói nín động tĩnh thể an nhiên .Khi đã chánh niệm thì mọi con đường hàng ngày là con đường vào đạo . Ở trong phòng mà chánh niệm là Phật , ngồi giữa đạo tràng mà tà niệm vẫn là ma . Chánh niệm giúp ta làm mới từng giây phút hiện tại .Trúc Lâm đạo sĩ núi Yên Tử nói : " Nhất hồi niêm xuất nhất hồi tân ( Mỗi lần bàn đến lại thành mới tinh ).Thiền sư Nhất Hạnh nói : "Khi ta làm mới lại con người của ta trong từng giây phút hiện tại tức thì ta cảm thấy mát mẽ, dễ chịu đối với mọi người ; và khi ta đổi mới ta rồi thì nhìn mọi vật đều mới "
Đem tâm về với thân bằng hơi thở nhiếp niệm . Hơi thở có ý thức tạo ra sự hòa điệu giữa thân với tâm : Thân tâm nhất như .
Chánh niệm chánh tâm giúp ta làm chủ được mọi cảnh ngộ , mọi tình huống .Chí sĩ Phan Bội châu , một nhà thơ nho học , cũng phải công nhận sức mạnh vô địch của chánh tâm : " Muốn làm thánh triết cốt ở chánh tâm . Đánh được giặc tâm mới là danh tướng "
Ngày nay người ta tu hành theo phong trào hành hương lễ Phật cầu phước . Họ rũ nhau đi cầu lộc ở núi Bà , cầu phước ở núi Yên tử ...mà quên những bước đi chánh niệm . Đi trong chánh niệm là con đường hàng ngày đưa ta vào đạo . Đi trong chánh niệm là nẻo về của ý . Đi trong chánh niệm là dập tắt những nóng bức sân hận , những hờn giận ganh đua để đến tịch diệt niết bàn.
Bài thi kệ Thiền hành sau đây giúp ta thấy được lợi lạc của việc đi trong chánh niệm:
Ý về muôn vạn nẻo
Thiền lộ tâm an nhiên
Từng bước gió mát dậy
Từng bước nở hoa sen
Thứ Hai, 14 tháng 11, 2011
TẬP ĐI
Mỗi bước chân đặt trên mặt đất
Như ấn tín của quốc vương in trên chiếu chỉ
Từng bước
Từng bước đi
Nhiếp niệm
Khoan thai
Vững chãi
Trên trái đất nầy cùng hơi thở vào ra
Thở vào
Ta đếm
Một hai
Thở ra
Ta bước một hai hài hòa
Những bước chân nối nhau cùng nhịp thở
Như sợi chỉ xâu những viên ngọc trai thành chuổi hạt
Thân, Tâm ta chẳng rơi vãi, bung thùa ...
Là ta có mặt
Ở đây
Bây giờ
An trú
Còn Em ở đâu ?
Hãy cùng ta có mặt !
Trên trái đất nầy trong mỗi phút giây
Bây giờ hay chẳng bao giờ
Cùng đi và không đến
Như ấn tín của quốc vương in trên chiếu chỉ
Từng bước
Từng bước đi
Nhiếp niệm
Khoan thai
Vững chãi
Trên trái đất nầy cùng hơi thở vào ra
Thở vào
Ta đếm
Một hai
Thở ra
Ta bước một hai hài hòa
Những bước chân nối nhau cùng nhịp thở
Như sợi chỉ xâu những viên ngọc trai thành chuổi hạt
Thân, Tâm ta chẳng rơi vãi, bung thùa ...
Là ta có mặt
Ở đây
Bây giờ
An trú
Còn Em ở đâu ?
Hãy cùng ta có mặt !
Trên trái đất nầy trong mỗi phút giây
Bây giờ hay chẳng bao giờ
Cùng đi và không đến
Thứ Ba, 25 tháng 10, 2011
Phải chăng xã hội Trung Quốc hiện nay là một xã hộị lý ?
Hôm thứ sáu ngày 21/10/2011 báo đài đưa tin một bé gái (TQ )2 tuổi bị 18 người qua đường phớt lờ sau khi bị xe tải cán và bị thương nặng trên đường phố .Bé Duyệt bị một chiếc xe tải đâm ngã ra đường , rồi sau đó bị một chiếc xe tải khác lớn hơn cán ngang qua người lần nữa tại thành phố Phật Sơn thuộc tỉnh Quảng đông . Mãi đến người thứ mười chín - một người dọn rác -mới đưa cháu bé vào vỉa hè và kêu gọi mọi người giúp đỡ .Cũng ở TQ vào năm 2006 một người đàn ông đã tìm cách giúp một người phụ nữ lớn tuổi bị ngã ,sau đó ông bị truy tố với lý do sự can thiệp của ông vào thời điểm đó là vi phạm các qui định của chính phủ về trình tự xử lý nạn nhân trong các vụ tai nạn .Xâu chuỗi các vụ việc trên đây ta có thể hình dung xã hội TQ hiện nay là một xã hội lý
Trước hết thế nào là một xã hội lý ?Ta có thể tạm thời định nghĩa xã hội lý là một xã hội duy lý một cách độc đoán .Trong xã hội duy lý chỉ có suy tư thiếu cảm xúc và đời sống thật .Con người trong kiểu xã hội nầy chỉ cần thành công chứ không cần thành nhân .Thậm chí cũng không có con người đích thực . Nói như cách nói của Emerson" Chúng ta chưa từng được thấy một NGƯỜI "trong khi một con người toàn diện và đích thực phải hội đủ ba phương diện :Ý-tình -chí (lý trí ,tình cảm và hành động ).Con người trong xã hội lý là con người của những phần mãnh manh mún (framents). Về phần lý trí thì đó là loại lý trí kê tính đo lường ; về hành động thì đó là hành động duy ý chí , xem mọi phương tiện đều tốt cho mục đích cứu cánh (tous les moyens sont bons).Thời phong kiến người ta gọi mô thức nầy là bá đạo thay vì vương đạo .Mô thức xã hội nầy dựa vào pháp trị thay vì nhân trị .Nhà cầm quyền dựa vào luật pháp , vào thuyết lý , ý hệ chứ không dựa vào kinh điển .Ở TQ thời tiên Tần các vua chúa dựa vào tứ thư ngũ kinh của nho gia đặc biệt là kinh dịch để xếp đặt giềng mối kỷ cương cho quốc gia xã tắc .Các danh sĩ, hiền tài dựa vào kinh điển để đi du thuyết . Kịp đến thời Tần Thỉ hoàng có chủ trương đốt sách chôn nho rồi dựa vào học thuyết pháp trị của Lý Tư và Hàn Phi để cai trị . Thành công của Tần Thỉ hoàng là thống nhất được sáu nước và xây được Vạn lý trường thành . Nhưng thất bại chua xót nhất của xã hội Trung Hoa thời ấy là thiếu tình người , thậm chí thiếu cả tình máu mủ ruột thịt .Hàn Phi và Lý Tư chế định ra một thứ pháp chế quá lạnh lùng khắc nghiệt và tàn nhẫn để trị an xã tắc . Hai ông nầy mượn sách của Hoàng Đế Lão Tử chủ trương rằng đối với người dân chỉ có thể làm cho họ giống nhau răng rắc chứ không cần cho họ hiểu biết nhiều ( dân khả sử do bất khả sử tri ).Đó là một chánh sách ngu dân .
Thời đại ngày nay nhiều quốc gia xây dựng nhà nước pháp quyền, dùng luật pháp để quản lý xã hội .TQ đất rộng người đông muốn bình thiên hạ không có con đường nào khác hơn là dùng pháp quyền . Đó là điều hiển nhiên . Thế nhưng luật pháp dù có chặt chẻ và nghiêm minh đến đâu vẫn có nhiều kẻ hở . Chính những nhà làm luật La Mã sau khi viết xong một bộ luật luôn có kèm theo một câu :" Hãy coi chừng ! Quá công bình quá bất công ". Vì vậy trong hệ thống tư pháp luôn luôn có luật sư bào chữa cùng với nhà văn nhà báo phóng viên ...để chế tài sự cứng nhắc của luật pháp .Nhưng những luật sư và những người cầm bút có phát huy được tác dụng của mình hay không còn tùy thuộc vào mức độ độc lập trong tác nghiệp . Học gỉa Nguyễn Hiến Lê trong hồi ký của mình đã viết :Trong một xã hội mà nghề luật sư và nghề cầm bút không phải là nghề tự do thì xã hội ấy không phải là xã hội tự do ". TQ vào thời kỳ cách mạng văn hóa đã tẩy chay Khổng giáo , xóa sạch kinh điển tạo ra lổ hỗng to lớn về đạo đức làm người - giữa con người với con người sống với nhau bằng lý chứ không bằng tình . Hai chữ nhân nghĩa của Khổng Mạnh nói lên quan hệ tốt đẹp giữa con người với con người , giữa cá nhân và cộng đồng ( chữ nhân được cấu thành bởi bộ nhân đứng và chữ nhị , còn chữ nghĩa cấu thành bởi chữ dương -bầy đàn-và chữ ngã - cá nhân -).Nhờ có kinh điển mà đời sống tâm linh được di dưỡng , triển nở và bảo tồn. Tâm linh là cái gì mang tính phổ quát xét như là bản thể của vũ trụ ( numen). Tâm linh là cái gì huyền bí đáng sợ nhưng có sức lôi cuốn hấp dẫn . Kinh dịch cho Thần là vô phương tức là không có phương nào nhất định nhưng lại vô sở bất tại tức là không đâu không có . Thời phong kiến các quan lại không dám làm việc xấu ác vì sợ Thần, dân oán giận .Trong kinh phật coi tâm linh là bản thể chân như tức là Như lai tạng :
Tại thế vi nhân thân
Tâm vi Như Lai tạng
Chiếu diệu thả vô phương
Tầm chi cánh tuyệt khoáng
(Ở đời làm thân người Tâm là Như Lai tạng Chiếu rọi phắp muôn phương Nếu tìm không thấy bóng ).
Đời sống người dân trong một xã hội lý nghèo nàn tâm linh vì không có kinh điển làm chỗ sở y . Và hệ quả tất yếu là trở nên vô cảm vô tình vô tâm như ta đã thấy . Ngay như đồ ăn thức uống cũng bị pha chế bằng những thứ dơ bẩn , đồ chơi trẻ em thì có chất độc hại ...; chưa kể nạn hàng giả hàng nhái hàng dởm tràn lan . Một xã hội mà sự lừa đảo dối trá được xã hội hóa thì không việc gì người ta không làm . Án tử hình tăng nhưng tội phạm thì không giảm . Miễn là qua mặt được luật pháp thì không còn sợ gì cả .Bởi vì họ không tin quỷ Thần , không trọng hiền Thánh , không sợ quả báo...Xã hội Âu Mỹ vẫn coi trọng pháp quyền, quản lý xã hội bằng pháp chế song bên cạnh đó họ có luật sư hành nghề tự do và đặc biệt họ cũng có kinh thánh . Kinh Thánh tuy chưa phải là kinh điển song cũng thay thế được kinh điển để quan phòng những việc xấu , ác .Họ làm gì cũng " vì Chúa ". Tổng Thống khi tuyên thệ nhậm chức cũng phải đặt tay lên kinh Thánh . Thì ra tôn giáo , tín ngưỡng cũng hổ trợ một cách đắc lực cho chính quyền trong việc hiền lương hóa con người , lành mạnh hóa xã hội . Như Nguyễn Du đã nói " Ngoài thì là lý nhưng trong là tình " . Một trong những yếu tố để trở nên con người đích thực là lương thức và lòng trắc ẩn . Sự việc một em bé 2 tuổi nằm bất tỉnh trên vũng máu mà người qua kẻ lại không ai quan tâm đoái hoài là hiện tượng băng hoại của một xã hội duy lý . Ở các nước văn minh tiến bộ có luật phạt tù kẻ thấy người lâm nạn mà không cứu giúp . Nhưng ở TQ lại có luật truy tố người có hành vi can thiệp xử lý nạn nhân trong các vụ tai nạn với tội danh :Vi phạm các quy định của chính phủ về việc trình tự xử lý nạn nhân .Cứu người như cứu hỏa mà làm theo "trình tự " thì quá muộn rồi !Em bé Duyệt Duyệt tử vong là do con người mất tính người , do không có lòng trắc ẩn , do máu lạnh...Con người có máu lạnh là sản phẩm của một xã hội lý .Về mặt pháp lý không có quyền trừng phạt những người không giúp đỡ Duyệt Duyệt .Cư dân mạng TQ có người đưa ý kiến "sẽ thích hợp hơn nếu làm ra luật thưởng chứ không trừng phạt những người không giúp đỡ " Một người khác cảnh báo " Sự cố Duyệt Duyệt nhắc chúng ta rằng TQ đang ở đâu trong bậc thang đạo đức !". Một người khác chua chát :" Vĩnh biệt bé và đừng có sinh ra ở TQ vào kiếp sau nữa " .Mới đây, các nhà lãnh đạo TQ tuyên bố với thế giới rằng sẽ xây dựng nền văn hóa TQ thành siêu cường văn hóa trên thế giới ...Không biết cái siêu cường văn hóa đó dựa vào đâu ?!
Trung Hoa là một đất nước đáng tự hào về một nền văn minh tối cổ ngang tầm với Hy lạp , Ấn độ ...Đất nước nầy đáng tự hào bởi có những nhà tư tưởng vĩ đại có tầm ảnh hưởng chẳng những đến khu vực mà còn ảnh hưởng cả thế giới . Đó là chưa kể đến những áng thơ Đường uyên thâm , trác việt .Nhưng TQ ngày nay đạo đức xuống cấp - sự gian dối thành dịch bệnh , tình người thì bị gọt giũa nhiều góc cạnh . Phải chăng xã hội TQ quá sùng bái pháp chế thay vì sùng bái kinh điển như các vương triều xưa cũ . Xã hội lý đã biến con người thuộc giống hữu tình thành giống vô tình :
Giang hà nhật hạ nhân ô trọc
Thiên địa lô trung thục hữu tình *
* Nước sông mỗi ngày mỗi cạn , người người ô trọc . Trong cái lò của trời đất biết ai là giống hữu tình đây ?!
Trước hết thế nào là một xã hội lý ?Ta có thể tạm thời định nghĩa xã hội lý là một xã hội duy lý một cách độc đoán .Trong xã hội duy lý chỉ có suy tư thiếu cảm xúc và đời sống thật .Con người trong kiểu xã hội nầy chỉ cần thành công chứ không cần thành nhân .Thậm chí cũng không có con người đích thực . Nói như cách nói của Emerson" Chúng ta chưa từng được thấy một NGƯỜI "trong khi một con người toàn diện và đích thực phải hội đủ ba phương diện :Ý-tình -chí (lý trí ,tình cảm và hành động ).Con người trong xã hội lý là con người của những phần mãnh manh mún (framents). Về phần lý trí thì đó là loại lý trí kê tính đo lường ; về hành động thì đó là hành động duy ý chí , xem mọi phương tiện đều tốt cho mục đích cứu cánh (tous les moyens sont bons).Thời phong kiến người ta gọi mô thức nầy là bá đạo thay vì vương đạo .Mô thức xã hội nầy dựa vào pháp trị thay vì nhân trị .Nhà cầm quyền dựa vào luật pháp , vào thuyết lý , ý hệ chứ không dựa vào kinh điển .Ở TQ thời tiên Tần các vua chúa dựa vào tứ thư ngũ kinh của nho gia đặc biệt là kinh dịch để xếp đặt giềng mối kỷ cương cho quốc gia xã tắc .Các danh sĩ, hiền tài dựa vào kinh điển để đi du thuyết . Kịp đến thời Tần Thỉ hoàng có chủ trương đốt sách chôn nho rồi dựa vào học thuyết pháp trị của Lý Tư và Hàn Phi để cai trị . Thành công của Tần Thỉ hoàng là thống nhất được sáu nước và xây được Vạn lý trường thành . Nhưng thất bại chua xót nhất của xã hội Trung Hoa thời ấy là thiếu tình người , thậm chí thiếu cả tình máu mủ ruột thịt .Hàn Phi và Lý Tư chế định ra một thứ pháp chế quá lạnh lùng khắc nghiệt và tàn nhẫn để trị an xã tắc . Hai ông nầy mượn sách của Hoàng Đế Lão Tử chủ trương rằng đối với người dân chỉ có thể làm cho họ giống nhau răng rắc chứ không cần cho họ hiểu biết nhiều ( dân khả sử do bất khả sử tri ).Đó là một chánh sách ngu dân .
Thời đại ngày nay nhiều quốc gia xây dựng nhà nước pháp quyền, dùng luật pháp để quản lý xã hội .TQ đất rộng người đông muốn bình thiên hạ không có con đường nào khác hơn là dùng pháp quyền . Đó là điều hiển nhiên . Thế nhưng luật pháp dù có chặt chẻ và nghiêm minh đến đâu vẫn có nhiều kẻ hở . Chính những nhà làm luật La Mã sau khi viết xong một bộ luật luôn có kèm theo một câu :" Hãy coi chừng ! Quá công bình quá bất công ". Vì vậy trong hệ thống tư pháp luôn luôn có luật sư bào chữa cùng với nhà văn nhà báo phóng viên ...để chế tài sự cứng nhắc của luật pháp .Nhưng những luật sư và những người cầm bút có phát huy được tác dụng của mình hay không còn tùy thuộc vào mức độ độc lập trong tác nghiệp . Học gỉa Nguyễn Hiến Lê trong hồi ký của mình đã viết :Trong một xã hội mà nghề luật sư và nghề cầm bút không phải là nghề tự do thì xã hội ấy không phải là xã hội tự do ". TQ vào thời kỳ cách mạng văn hóa đã tẩy chay Khổng giáo , xóa sạch kinh điển tạo ra lổ hỗng to lớn về đạo đức làm người - giữa con người với con người sống với nhau bằng lý chứ không bằng tình . Hai chữ nhân nghĩa của Khổng Mạnh nói lên quan hệ tốt đẹp giữa con người với con người , giữa cá nhân và cộng đồng ( chữ nhân được cấu thành bởi bộ nhân đứng và chữ nhị , còn chữ nghĩa cấu thành bởi chữ dương -bầy đàn-và chữ ngã - cá nhân -).Nhờ có kinh điển mà đời sống tâm linh được di dưỡng , triển nở và bảo tồn. Tâm linh là cái gì mang tính phổ quát xét như là bản thể của vũ trụ ( numen). Tâm linh là cái gì huyền bí đáng sợ nhưng có sức lôi cuốn hấp dẫn . Kinh dịch cho Thần là vô phương tức là không có phương nào nhất định nhưng lại vô sở bất tại tức là không đâu không có . Thời phong kiến các quan lại không dám làm việc xấu ác vì sợ Thần, dân oán giận .Trong kinh phật coi tâm linh là bản thể chân như tức là Như lai tạng :
Tại thế vi nhân thân
Tâm vi Như Lai tạng
Chiếu diệu thả vô phương
Tầm chi cánh tuyệt khoáng
(Ở đời làm thân người Tâm là Như Lai tạng Chiếu rọi phắp muôn phương Nếu tìm không thấy bóng ).
Đời sống người dân trong một xã hội lý nghèo nàn tâm linh vì không có kinh điển làm chỗ sở y . Và hệ quả tất yếu là trở nên vô cảm vô tình vô tâm như ta đã thấy . Ngay như đồ ăn thức uống cũng bị pha chế bằng những thứ dơ bẩn , đồ chơi trẻ em thì có chất độc hại ...; chưa kể nạn hàng giả hàng nhái hàng dởm tràn lan . Một xã hội mà sự lừa đảo dối trá được xã hội hóa thì không việc gì người ta không làm . Án tử hình tăng nhưng tội phạm thì không giảm . Miễn là qua mặt được luật pháp thì không còn sợ gì cả .Bởi vì họ không tin quỷ Thần , không trọng hiền Thánh , không sợ quả báo...Xã hội Âu Mỹ vẫn coi trọng pháp quyền, quản lý xã hội bằng pháp chế song bên cạnh đó họ có luật sư hành nghề tự do và đặc biệt họ cũng có kinh thánh . Kinh Thánh tuy chưa phải là kinh điển song cũng thay thế được kinh điển để quan phòng những việc xấu , ác .Họ làm gì cũng " vì Chúa ". Tổng Thống khi tuyên thệ nhậm chức cũng phải đặt tay lên kinh Thánh . Thì ra tôn giáo , tín ngưỡng cũng hổ trợ một cách đắc lực cho chính quyền trong việc hiền lương hóa con người , lành mạnh hóa xã hội . Như Nguyễn Du đã nói " Ngoài thì là lý nhưng trong là tình " . Một trong những yếu tố để trở nên con người đích thực là lương thức và lòng trắc ẩn . Sự việc một em bé 2 tuổi nằm bất tỉnh trên vũng máu mà người qua kẻ lại không ai quan tâm đoái hoài là hiện tượng băng hoại của một xã hội duy lý . Ở các nước văn minh tiến bộ có luật phạt tù kẻ thấy người lâm nạn mà không cứu giúp . Nhưng ở TQ lại có luật truy tố người có hành vi can thiệp xử lý nạn nhân trong các vụ tai nạn với tội danh :Vi phạm các quy định của chính phủ về việc trình tự xử lý nạn nhân .Cứu người như cứu hỏa mà làm theo "trình tự " thì quá muộn rồi !Em bé Duyệt Duyệt tử vong là do con người mất tính người , do không có lòng trắc ẩn , do máu lạnh...Con người có máu lạnh là sản phẩm của một xã hội lý .Về mặt pháp lý không có quyền trừng phạt những người không giúp đỡ Duyệt Duyệt .Cư dân mạng TQ có người đưa ý kiến "sẽ thích hợp hơn nếu làm ra luật thưởng chứ không trừng phạt những người không giúp đỡ " Một người khác cảnh báo " Sự cố Duyệt Duyệt nhắc chúng ta rằng TQ đang ở đâu trong bậc thang đạo đức !". Một người khác chua chát :" Vĩnh biệt bé và đừng có sinh ra ở TQ vào kiếp sau nữa " .Mới đây, các nhà lãnh đạo TQ tuyên bố với thế giới rằng sẽ xây dựng nền văn hóa TQ thành siêu cường văn hóa trên thế giới ...Không biết cái siêu cường văn hóa đó dựa vào đâu ?!
Trung Hoa là một đất nước đáng tự hào về một nền văn minh tối cổ ngang tầm với Hy lạp , Ấn độ ...Đất nước nầy đáng tự hào bởi có những nhà tư tưởng vĩ đại có tầm ảnh hưởng chẳng những đến khu vực mà còn ảnh hưởng cả thế giới . Đó là chưa kể đến những áng thơ Đường uyên thâm , trác việt .Nhưng TQ ngày nay đạo đức xuống cấp - sự gian dối thành dịch bệnh , tình người thì bị gọt giũa nhiều góc cạnh . Phải chăng xã hội TQ quá sùng bái pháp chế thay vì sùng bái kinh điển như các vương triều xưa cũ . Xã hội lý đã biến con người thuộc giống hữu tình thành giống vô tình :
Giang hà nhật hạ nhân ô trọc
Thiên địa lô trung thục hữu tình *
* Nước sông mỗi ngày mỗi cạn , người người ô trọc . Trong cái lò của trời đất biết ai là giống hữu tình đây ?!
Đăng ký:
Bài đăng (Atom)