Thứ Tư, 7 tháng 3, 2012

Căn nguyên ý thức hệ dân tộc thời nhà Lý

     Nhà Lý khởi nghiệp từ vua Lý Thái Tổ ( Lý Công Uẩn ) đã mở ra cho dân tộc Việt Nam một thời đại mới, một kỷ nguyên mới, một vận hội mới mà các sử gia về sau xem như là một trong các thời đại hoàng kim của lịch sử nước ta. Từ khi Lý Công Uẩn lên ngôi, xây dựng đế nghiệp cho nhà Lý, đất nước ta có nhiều thay đổi lớn : dời đô về Thăng Long, đặt ra các định chế chính trị và mô thức xã hội mới. Đặc biệt là thay đổi tư tưởng lãnh đạo quốc gia. Các vị vua kế nghiệp như Thái Tông , Thánh Tông ...đã kế thừa và phát huy tư tưởng của ông cha mình nên đã giữ được nền độc lập tự chủ lâu dài, tạo ra một xã hội rộng mở, đoàn kết, một đất nước an bình thịnh trị . Riêng đối với vua Lý Thánh Tông "là vua ta đầu tiên có óc lập một đế quốc có danh ngang với một nước thiên tử . Vua đặt quốc hiệu là Đại Việt , các vua trước là Thái Tổ, Thái Tông coi các nước là chư hầu và muốn ngăn cấm Chiêm Thành thần phục Tống " ( theo Giáo sư Hoàng Xuân Hãn ). Điều đó chứng tỏ các vua đầu nhà Lý nhất quán một tư tưởng chủ đạo xét như một chiến lược lâu dài, một ý hệ quốc gia . Ngày nay chúng ta ôn lại lịch sử không đơn thuần là dựng lại quá khứ mà làm cho quá khứ sống lại trong kinh nghiệm mới mẽ của hiện tại . Vậy tư tưởng lãnh đạo quốc gia cũng như ý thức hệ chính trị của các vị vua đầu nhà Lý là gì ? 


Nói một cách ngắn gọn cô đúc thì đấy là tư tưởng tri hành hợp nhất , vạn pháp nhất lý ảnh hưởng bởi nhiều nền văn minh, văn hóa mà chất men nối kết là thiền hành động . Tư tưởng nầy không phải vay mượn của ai mà cũng không phải ngẫu nhiên tự phát. Nó được phôi thai bén rễ trong môi trường văn hóa của đất Giao Châu thời ấy. Nó là hoa trái của một quá trình tiếp thu có sáng tạo, có chọn lọc và là kết tinh của tổng hòa văn hóa dân tộc. Nói đến văn hóa là phải nghĩ đến các lãnh vực: Tôn giáo, tín ngưỡng, học thuật, ngôn ngữ, triết học, giáo dục, chính trị ...Đất Giao Châu ngày ấy là ngã tư của các dân tộc và các nền văn minh ( carefour de people et de civilication ). Đương thời nhà Lý (thế kỷ XI- XII) các xứ lân bang đang trong thời kỳ cực thịnh, văn hóa phát triển rực rỡ : Ở phương bắc Trung Quốc đang thừa hưởng văn minh đời Đường kết hợp với học thuật Tống Nho ; ở phương nam  Chiêm Thành , Chân Lạp chịu ảnh hưởng văn minh Ấn Độ . Trong bối cảnh ấy việc tiếp thu tư tưởng ngoại nhập là tất yếu, tiếp thu mà không mất gốc là nhờ biết giữ lại những gì đã có sẵn bên trong. Cái có sẵn ấy là tín ngưỡng quốc gia qua hai nền văn minh Đồng Cổ và Cổ Mộ (Đông Sơn , Lạch Trường) cộng với tín ngưỡng đa thần giáo phổ biến trong xã hội nông nghiệp thời ấy . 
   Về mặt tư tưởng ta chịu ảnh hưởng bởi hai nền văn minh tối cổ : văn minh Trung Hoa với tư tưởng nhập thế thực tiễn và văn minh Ấn độ với tư tưởng xuất thế, duy lý, suy tưởng. Do vậy nẩy sinh ra hai khuynh hướng đối lập : khuynh hướng nhập thế tích cực và khuynh hướng tư duy cá nhân và cũng từ đó có sự mâu thuẫn giữa tri và hành, xuất và xử, cá nhân và cộng đồng , thiên nhiên và con người , tâm linh và hành động . Trong tình cảnh  ấy , các lãnh đạo nhà Lý đã hóa giải , dung hợp các mâu thuẫn trên bằng chất men nối kết gì ? Đó là tư tưởng vạn pháp nhất lý , tri hành hợp nhất của thiền , là yếu chỉ của kinh Hoa Nghiêm , là tinh mật của kinh Kim Cang ( bản vô nhị pháp, tâm Phật nhất như ) và cũng là tánh Không  của trung quán luận .
        Nhưng thiền là gì ? 
       Thiền khởi nguồn từ thái độ niêm hoa vi tiếu của Phật Tổ Như Lai tâm đắc ở ngài Ca Diếp. Từ đó tôn chỉ của thiền là giáo ngoại biệt truyền trực chỉ nhân tâm, kiến tánh thành Phật. Rồi từ Ca Diếp đến Bồ Đề Đạt Ma tính ra hai mươi tám vị . Đạt Ma sang Đông Độ truyền cho Huệ Khả. Từ đó truyền mãi đến Huệ Năng là sáu đời. Đó là thiền Trung Hoa còn tổ sư thiền Việt Nam là ai ? Tổ sư thiền Việt Nam là Ti ni -đa - lưu- chi ( Vinitracuci ) được truyền thừa bởi tổ Tăng Xán. Sau khi đắc thiền Tì- ni -đa -lưu- chi được thầy khuyên sang phương nam hóa đạo không nên ở lại Trung Hoa làm gì. Ngài vâng mệnh thầy sang Giao Châu hoằng hóa . Sự kiện nầy chứng tỏ rằng tinh thần thuần túy tâm linh của người Ấn có thể dung hợp được với tinh thần nhập thế tích cực của người Hoa. Đất Giao Châu là nơi "đắc địa" để cho thiền hành động bám rễ . Thiền khi đến Việt Nam đã trở nên thiền hành động . Vì sao tổ Tăng Xán khuyên đệ tử của mình đến đất Giao Châu để hoằng hóa ? Phải chăng vì tâm lý của người Việt không quá duy lý như người Ấn và cũng không quá thực tế như người Hoa . Không quá duy lý vì mang sẵn tín ngưỡng đa thần , lại phải hành động để chống giặc ngoại xâm phương bắc và mở rộng bờ cõi về phương nam . Không quá thực tiễn vì cần có nguyên lý hướng dẫn hành động . Do vậy nhà lãnh đạo quốc gia đời Lý tất nhiên phải có nhu cầu toàn diện . Thiền hành động vì thế đã có đất để bám rễ .
    Đương thời nhà Lý, các thiền sư tiêu biểu cho thiền hành động đều là đệ tử của thiền sư Tì -ni- đa-lưu -chi như Pháp Thuận, Khuông Việt, Vạn Hạnh. Đặc biệt là thiền sư Vạn Hạnh được xem là đại biểu cho dòng thiền nầy. Thiền sư Vạn Hạnh vừa lo đạo vừa lo đời vừa nhập định theo lối THIỀN TÔNG vừa tụng chân ngôn theo lối mật tông, vừa hành động vừa thiết lập cái toàn thể nhất quán để hướng dẫn hành động, vừa xuất, vừa xử vừa đi ra thiên nhiên vừa đi vào sinh hoạt cộng đồng vừa dấn thân giúp đời lại vừa giữ được Không lý (thánh hóa cuộc đời mà không bị đời tục hóa ). Nhân vật điển hình , được cụ thể hóa lý tưởng của Vạn Hạnh thiền sư chính là Lý Công Uẩn. Vì vậy cho nên chúng ta  không lấy làm lạ rằng vị vua đầu nhà Lý là nhân vật lãnh đạo đầu tiên trong lịch sử Việt Nam có dáng dấp phong tháí của một hiền triết lãnh đạo  ( philosopher king ) theo quan niêm của Platon.
   Theo các sử liệu xác tín thì Lý Công Uẩn được nhà sư Khánh Vân nuôi dưỡng và được sư Vạn Hạnh dạy dỗ. Trong cuốn " các triều đại Việt Nam" của Quỳnh Cư và Đỗ Đức Hùng đã ghi chép về nhân vật Lý công Uẩn như sau : "Vốn thông minh bẩm sinh lại được nhập thân văn hóa ở một vùng đất văn minh văn hiến, lại được sự nuôi dạy của các vị cao tăng xuất chúng, Lý Công Uẩn là một người con ưu tú của dân tộc, ông đã cùng triều Lý làm rạng danh nước Đại Việt, viết nên những trang sử oanh liệt về dựng nước và giữ nước." 
     Lý Công Uẩn do Khánh Vân nuôi , Vạn Hạnh dạy , cho đến năm ba mươi lăm tuổi mới xuất chính . Nhờ có võ công kiệt xuất nên Lý công Uẩn làm đến chức Tả thân vệ điện tiền chỉ huy sứ ( duới thời Lê Long Đỉnh) .Long Đỉnh là một ông vua vô cùng bạo ngược , độc ác , hoang dâm vô độ . Trong bốn năm làm vua vì dâm dục quá sức nên mắc bệnh nặng và chỉ ngọa triều . Long Đỉnh chỉ sống được hai mươi bốn tuổi  ; khi mất triều thần đồng tâm nhất trí tôn phò Lý Công Uẩn lên làm vua vì xét thấy con người nầy văn võ song toàn, có tài, có đức lại có lòng nhân được dân yêu mến . Việc nhà Lê đổ nhà Lý lên cũng là việc thuận với lòng trời lại hợp với ý dân ( thuận hồ thiên nhi ứng hồ nhân ). Đó là lẽ tồn vong của nho gia (thuận thiên giã tồn , nghịch thiên giã vong). Kinh nghiệm cho thấy, triều đại nào quá nhiễu nhương khiến cho dân tình ta thán, thần, người oán giận thì sớm muộn gì cũng tiêu vong .
     Sau khi lên ngôi, nhà vua thấy đất Hoa Lư là nơi chật hẹp không thể mở mang thành nơi đô hội nên dời đô về Thăng Long. Sau đó nhà vua bắt tay vào việc chấn hưng đất nước dưới sự cố vấn của quốc sư Vạn Hạnh . Các việc làm của Lý Thái Tổ mang ý nghĩa xây nền đặt móng cho các triều đại kế tục : 
  * Xác lập quan hệ ngoại giao với Tống ở phương bắc, dẹp yên sự khuấy nhiễu của Chiêm Thành ở phương nam bắt Chiêm Thành và Chân Lạp phải sang triều cống .
  * Sai người sang Trung Quốc thỉnh bộ kinh Tam Tạng 
  * Cho xây chùa đúc chuông, tạc tượng, trọng đãi những nhà tu 
   Ngoài những công tích trong buổi đầu khởi nghiệp nói trên , một sự kiện có ý nghĩa đặt mầm móng cho chính sách thân dân sau nầy, đó là việc xây cung Long Đức cho thái tử ở ( ngoại thành Thăng Long ) . Nhà vua muốn cho lớp người kế vị sau này phải rời xa nếp sống xa hoa, sung mãn, để sống chung cùng với dân thường . Có gần gũi tiếp xúc với dân Thái tử mới thấu hiểu được cảnh cơ hàn , oan khuất , bất công trong  nhân dân. Thái  Tổ trị vì được mười chín năm thì mất. Thái tử Phật Mã kế vị, hiệu là Thái Tông . 
     Các vua tiếp theo như Thái Tông, Thánh Tông, Nhân Tông đều trung thành với ý thức hệ dân tộc của các tiên đế . Vẫn là tư tưởng tri hành hợp nhất, vạn pháp nhất lý của thiền hành động . 
    Thái Tông chú trọng việc sửa sang hình luật, bãi bỏ chế độ mua bán nô lệ, đặt ra các trạm dịch để tiện truyền thông và đi lại. Thành tựu đáng kể nhất mà Thái Tông đóng góp được cho nước nhà là việc xây dựng chùa Một Cột (1049) . Nguyên lai kiến trúc chùa Một Cột xuất phát từ một giấc mơ "Một hôm vua mộng thấy Phật Quan Âm ngồi trên tòa sen dẫn vua lên Đài, sáng ra vua thuật lại với các triều thần, thiền sư Thiền Tuệ khuyên vua cất chùa, dựng một cột ở giữa hồ, xây đài sen có tượng Quan Âm đặt ở trên đúng như hình ảnh trong mộng. Chùa được đặt tên là Diên Hựu  (dài lâu). Ngôi chùa được trùng tu nhiều lần đến đời Thánh Tông mới hoàn chỉnh. Trong các kiến trúc thời Lý, chùa Một Cột xứng danh là biểu tượng văn hóa dân tộc. Bởi vì qua lối kiến trúc độc đáo nó mang nhiều ý nghĩa tượng trưng nói lên sự tổng hòa có sáng tạo các nền văn minh ngoại nhập gắn với văn minh bản địa. Kiến trúc sư Nguyễn Bá Chi coi đây là viên ngọc nghệ thuật Việt Nam. Có thể nóí được rằng do hít thở không khí của thời đại , do sự thông thoáng của môi trường văn hóa cộng với tư tưởng thiền của quốc sư Vạn Hạnh ...đã ăn sâu vào tâm não của các nhà lãnh đạo thời đó . Tất cả đã trở nên một thứ vô thức tập thể (l'inconscience collective); rồi từ vô thức tập thể đó hiển lộ trong một giấc mơ của nhà lãnh đạo (người làm sao chiêm bao làm vậy).
   Đến đời Lý Thánh Tông, thành tựu về mặt tư tưởng xã hội đã trở nên thập thành kỳ vĩ hơn bao giờ hết. Sử chép "Mai thị hoàng hậu mộng thấy mặt trăng vào bụng nhân đó có mang sinh ra thái tử ở cung Long Đức đặt tên là Nhật Tôn. Lớn lên thái tử thông kinh truyện, sành âm luật nhất là sở trường về võ lược" ( theo Việt Nam sử lược của Trần Trọng Kim ). Nhờ sống một thời gian dài ở cung Long Đức nên thái tử Nhật Tôn vừa tiếp thu tư tưởng của vua cha vừa thâm nhập thực tế , am hiểu được dân tình. Sau khi lên ngôi, Thánh Tông cụ thể hóa tư tưởng lãnh đạo của mình bằng những chính sách như: thân dân, ái dân, huệ dân .
 Về chính sách thân dân, ái dân : nhà vua đặt ra lệ cày tịch điền, đi xem gặt vào vụ mùa. Đặc biệt nhà vua có lòng bi mẫn, thương xót các tù phạm bị giam trong ngục lạnh nên sai đem chăn chiếu ban cho tù nhân, xuống lệnh đốt bỏ hình cụ. Vua thương xót người dân vì thiếu hiểu biết và vô minh lầm lỡ nên phải phạm luật. Do vậy mà ngài ra lệnh khoan giảm hình phạt. Nhờ biết yêu dân như cha mẹ yêu con nên vua rất được lòng dân; và cũng nhờ đó dân được an sinh, đất nước được yên bình, quốc gia thịnh trị. Dân chi phụ mẫu là quan niệm của Khổng Nho. Thánh Tông mặc dù là tín đồ của Phật nhưng vẫn dung nạp được tư tưởng của Nho gia . 
   Về chính sách huệ dân: nhà vua muốn người dân hiểu biết lý lẽ tam cương ngũ thường, đạo lý nhân nghĩa nên xiển dương Nho học. Hành động cụ thể là tu sửa văn miếu, tô tượng Khổng Tử, vẽ hình thất thập nhị vị hiền , bốn mùa đều có cúng lễ. Vua còn đưa thái tử đến cửa Khổng sân Trình để học cách Tu, Tề , Trị , Bình dĩ dân vi bản (lấy dân làm gốc ).
   Vua Lý Thánh Tông là người sáng lập ra thiền phái Thảo Đường. Dù vậy ngài vẫn tôn trọng tín ngưỡng dân gian thờ thần Siva và thần Deva qua việc xây chùa Nhị Thiên Vương. Ngoài ra dưới thời Lý Thánh Tông tín ngưỡng sùng bái của dân tộc (ảnh hưởng tư tưởng Lão giáo) cũng được thịnh hành . Phải nói rằng triều đại nhà Lý đã cho hoạt hiện nguyên lý tam giáo đồng nguyên một cách rộng rãi, phổ biến trong mọi tầng lớp nhân dân. Nhờ đó mà thiết lập được một mô thức xã hội rộng mỡ, có sự đoàn kết nội tại. Lý Thánh Tông là một nhà lãnh đạo kiệt xuất. Ngài vừa thông kinh truyện, vừa sành âm luật vừa sở trường võ lược lại nhân từ , đôn hậu, khoan hòa . Nhờ thông kinh truyện nên chuộng Nho thờ Thánh; nhờ sành âm luật nên phiên soạn nhạc khúc Chiêm Thành (chính nhà vua cầm khiên múa hát trong bửa tiệc khao quân giữa lòng đất Chiêm ) . Nhờ giỏi võ lược mà lập nên nhiều chiến công hiển hách. Binh pháp nhà Lý của ta bấy giờ có phần trội hơn binh pháp Tôn Tử của Tàu khiến cho nhà Tống rất nể phục, học hỏi và bắt chước. Ngoài ra Lý Thánh Tông còn là một kiến trúc sư. Tất cả các kiến trúc đời Lý, chùa tháp và các cung điện nguy nga tráng lệ đều theo đồ họa của nhà vua. Nhưng điều đáng nói hơn cả là cái tâm của nhà lãnh đạo biết yêu dân, yêu nước. Lý Thánh Tông xứng danh là một HIỀN TRIẾT LÃNH ĐẠO theo quan niệm của triết gia Platon. Đức tính của nhà hiền triết là mẫu mực cho sự điều hòa quân bình (không bất cập mà cũng không thái quá) . Lý Thánh Tông có sự khôn ngoan ( sagesse ) của nhà hiền triết, có lòng can trường (courage) của một chiến sĩ ,có sự hòa hợp tiết độ (température) của một đạo gia và có lòng nhân đức, công chính (justice) của một nhà chính trị hiền đức.
    
Năm 1072 Thánh Tông mất, Nhân tông lên ngôi lúc mới bảy tuổi. Nhân Tông là con của bà thái phi Ỷ Lan . Quan phụ chánh bấy giờ là Lý Đạo Thành. Theo Việt Nam sử lược của Trần Trọng Kim thì "Lý đạo Thành là người có tính đoan chính , hết lòng lo việc nước. Thường những lúc sớ tấu thường hay nói đến việc lợi ,việc hại của dân. Những quan thuộc cấp thì chọn những người hiền lương mà cất nhắc để làm việc" . Bên cạnh Lý Đạo Thành còn có những tướng tài như Lý Thường Kiệt, Tôn Đản chăm lo việc quân binh. Nhờ vậy mà dưới thời Lý nhân Tông có những thành tựu rất lớn  về nội trị cũng như về đối ngoại : 
   * Về nội trị :
     -Đắp đê Cơ Xá để giữ cho kinh thành không bị ngập lụt.
     -Mở khoa thi tam trường để chọn người có tài ra giúp nước. ( kỳ thi đầu tiên chọn được mười người , thủ khoa là Lê văn Thịnh ( *) , làm tới chức thái sư  . Năm 1076, Nhân Tông mở trường Quốc Tử Giám, mở khoa thi chọn người vào hàn lâm viện
   * Về đối ngoại : có thể nói thời Lý Nhân Tông là thời vàng son trong lịch sử đối ngoại của của nước ta .. Từ thời Ngô, Đinh và tiền Lê đất nước ta đã là quốc gia có chủ quyền. Tàu tuy không không sang cai trị nước ta song ý đồ thôn tính nước ta thì vẫn không từ bỏ. Hể có cơ hội là chúng thực hiện ngay ý đồ đó. Bấy giờ  vua Tống  nghe lời Vương an Thạch cải cách chính trị trong nước gây ra nhiều điều bất lợi cho dân Tàu, khiến dân Tàu ta thán ... Vua Tống lại nghe lời Vương An Thạch đem quân sang " lấy đất Giao Châu ". Vua tôi nhà Lý bàn kế  "chặn đánh giặc từ xa". Vua bèn cử hai tướng tài là Lý Thường Kiệt và Tôn Đản đem mười vạn binh sang đánh Tống lấy cớ phạt Tống -về tội đặt ra các luật lệ làm khổ dân lành  - để cứu dân Trung Quốc . 
 Năm 1075 Lý Thường Kiệt lấy được đất Khâm Châu và Liêm Châu ( Quảng Đông ) ; còn Tôn Đản lấy được Ung Châu ( Quảng Tây ).
   Lý Nhân Tông không những phạt Tống mà còn bình  Chiêm. Bản đồ nước Việt thu thêm ba châu của Chế Cũ cắt nhường .
  Nhờ thừa hưởng ý thức hệ dân tộc của các triều đại trước, Lý Nhân Tông đã thu nạp được nhiều tôi hiền tướng giỏi, thu phục được lòng dân. Hể còn đựợc lòng dân thì còn đất ; còn đất tức là còn giang sơn còn của cải. Thời Lý  Nhân Tông không những giữ yên nội trị mà còn "bắc đánh Tống, nam  bình Chiêm"; không những giữ vững chủ quyền quốc gia mà còn mở mang bờ cõi về phương nam. Về sau nầy, nhà hậu Lê xóa bỏ nguyên lý tam giáo đồng nguyên, độc tôn Nho giáo, bài báng Phật giáo, coi thường Lão giáo lại tham quyền cố vị nên đã làm cho nước mất về tay nhà Thanh. Trong bài cáo bình Ngô , Nguyễn Trãi lấy làm tự hào về hùng khí của nước Việt xưa : Như nước Đại Việt ta từ trước ,vốn xưng nền văn hiến đã lâu , Núi sông bờ cõi đã chia , phong tục bắc nam cũng khác ... " Nền văn hiến của nước Đại Việt xưa là truyền thống văn hoá , là cái hồn của đất nước , là căn nguyên nguồn cội của ý thức hệ dân tộc .

Suy cho cùng , một quốc gia hùng mạnh , một dân tộc quật cường , một đất nước thịnh vượng là nhờ có văn hóa . Bởi văn hóa là cái hồn của một nước . Văn hóa là căn nguyên nguồn cội của ý thức hệ dân tộc . Văn hóa đời Lý là văn hóa Phật giáo mới hội nhập, được kết nối với tín ngưỡng quốc gia và tâm lý dân tộc đã kết tinh thành thiền hành động . Thiền hành động là ý thức Tri hành hợp nhất , vạn pháp nhất lý . Tư tưởng nầy không hoàn toàn vay mượn mà cũng không ngẫu nhiên tự phát . Nó là một tổng hợp có sáng tạo của nhiều nguồn văn hóa khác nhau . Nhờ cái hồn , cái hạnh đó mà người Việt không những không bị đồng hóa bởi người Hán mà còn đồng hóa được những người Trung Quốc sinh sống trên đất nước ta , làm cho họ trở thành người Việt . Vì lẽ đó , có thể mất đất , mất nước nhưng không thể mất văn hóa . Minh Trị Thiên Hoàng của Nhật Bản tuyên bố chọn văn minh Tây song giữ văn hóa Nhật . Nhờ vậy mà nước Nhật đã luôn được vực dậy sau bao lần bị gục ngã . Trong suốt  mấy ngàn năm qua , đất nước ta có lúc mạnh , lúc yếu , lúc mất chủ quyền ..song vẫn có nhiều thời kỳ tự chủ . Đó là nhờ hồn nước vẫn còn  . Có một câu hát bi thiết : " Một ngàn năm nô lệ giặc Tàu , một trăm năm đô hộ giặc tây ... " Đó là cách nói đại khái của ngôn ngữ nghệ thuật chứ không phải cách nói nghiêm xác của sử học . Trong thời đại ngày nay cần thiết phải ôn lại lịch sử để soi sáng cho hiện tại . Ôn lại lịch sử không có nghĩa đơn thuần là dựng lại quá khứ mà làm cho quá khứ sống lại trong kinh nghiệm mới mẽ của hiện tại . Nói theo cách nói của người xưa : " ý mới rút từ kinh nghiệm cũ , mai tàn lưu lại chút hương xưa  " ( Nhậm vận tự sinh kim nhật ý , Hàn hoa chi tác khứ mai hương )

--------------------------------------------------------------------------------------
( * ) Lê văn Thịnh đã cải tổ từ chế độ nhẫn trị sang chế độ pháp trị ; về sau  làm phản nên bị đi đày ở Thao Giang ( huyện Tam Nông , Phú Thọ )





















Thứ Bảy, 25 tháng 2, 2012

Sống là hy vọng

 
Trong cuộc sống, mọi biến cố có thể xảy ra bất cứ lúc nào và không loại trừ bất cứ ai .Thay đổi, biến dịch là quy luật của mọi sự vật trên đời . Mọi sự trên đời không phải " nhất thành bất biến " mà luôn luôn biến đổi , dịch chuyển nay thế này , mai thế khác : sống rồi chết , được rồi mất , giàu rồi nghèo , sang rồi hèn và ngược lại . Đó là luật vô thường . Một cách đối trị với luật vô thường là nuôi hy vọng nếu chẳng may lâm vào tình huống tồi tệ , ngoài ý muốn . Nói cách khác : Sống là hy vọng . Phật dạy : " Phá sản lớn nhất của đời người là tuyệt vọng ".
    Hy vọng là chất liệu dinh dưỡng cuộc sống trong những tình cảnh bi đát , đầy thảm kịch . Nhờ vô thường mà ta có quyền hy vọng đổi đời hay thoát kiếp .Những người không hiểu hết ý nghĩa của vô thường đâm ra thù ghét , oán giận vô thường : nào là khắc khoải vô thường , nào là vô thường là sự hủy diệt , là triệt tiêu đời sống . Có người còn gọi vô thường là con quỷ trên mặt đất . Thật ra phải cảm ơn vô thường hơn là oán trách . Sống hay chết đều mầu nhiệm như nhau . Có sống phải có chết . Và có chết mới có hy vọng tái sinh  ( tuyệt hậu tái tô). Vô thường rất quan trọng . Điều quan trọng nhất là không có gì đáng phải quan ngại , quan tâm , quan phòng , quan yếu ...Điều quan trọng nhất là vô thường . Chính nhờ vô thường mà hết đêm lại ngày , hết mưa lại nắng ...Nhờ vô thường mà hạt mầm phải tự diệt để nẩy chồi rồi ra lá ra cây đâm hoa kết trái cho đời . Nhờ vô thường mà bào thai trong bụng mẹ được sinh ra , lớn lên...Một nghịch lý ở đời là khi còn nhỏ thì trông cho mau lớn nhưng đến khi lớn rồi thì lại sợ già , già sợ chết .Ai cũng sợ già mà vẫn muốn sống lâu ...
  Nhờ có vô thường mà ta có quyền hy vọng , có quyền trông đợi một sự đổi thay . Thở than , tuyệt vọng , chán chường là vì không sống với vô thường . Trong văn học nghệ thuật luôn có tính lạc quan . Lạc quan là một trong các thuộc tính trong văn học ngoài tính hiện thực , tính nhân văn .
Lý Bạch là một tiên thơ , đa tài đa năng nhưng vua Đường không dùng ông đúng chỗ .Trong bài thơ Tương tiến tửu , Lý bạch có hai câu tuyệt bút :
     Thiên sinh ngã tài tất hữu dụng 
     Thiên kim tán tận hoàn phục lai 
(  Trời sinh ta vốn có tài 
Tất nhiên sẽ được một mai đem dùng 
   Ngàn vàng dẫu mất sạch không 
Mai kia mốt nọ sẽ vòng về ta )
Đó là niềm hy vọng chính đáng và phù hợp với luật vô thường . Không có gì còn là còn mãi ; không có gì mất là mất luôn . Nguyễn công Trứ ngày xưa bốn mươi tuổi mới hiển đạt . Trong cảnh hàn vi bẩn chật ông vẫn nuôi một niềm hy vọng :
  Còn trời còn đất còn non nước
 Có lẽ ta đâu mãi thế nầy
 Đó là niềm hy vọng của những người trí thức tài hoa
 Và  những người bình dân chơn chất thì cũng không thua kém niềm hy vọng  :
    Tháng giêng 
   Tháng hai
   Tháng ba
   Tháng bốn
   Tháng khốn 
   Tháng nạn 
   Đi vay đi dạm 
   Được một quan tiền
    Ra chợ Kẻ Diên 
    Mua con gà mái về nuôi
    Nó đẻ ra mười trứng
    Một trứng : ung 
    Hai trứng : ung
    Ba trứng : ung 
    Bốn trứng : ung
    Năm trứng : ung 
    Sáu trứng : ung
    Bảy trứng : ung
   Còn ba trứng 
    Nở ra ba con 
    Con : diều tha 
   Con : quạ bắt 
    Con : cắt xơi 
   Chớ than phận khó ai ơi
   Còn da lông mọc còn chồi xanh cây
        Bài ca dao Bình Trị Thiên vô cùng độc đáo đã thể hiện được tính kiên cường và hy vọng trong một hoàn cảnh vô cùng bi đát tưởng chừng như bế tắc . Người dân Bình Trị Thiên đa phần sống ở vùng nước măn đồng chua , mỗi năm chỉ làm được một vụ lúa ; lại thêm bão lụt mất mùa thường xuyên nên cái nghèo cứ đeo đẳng họ quanh năm .. Nhưng họ không an phận chịu đựng , thúc thủ trước hoàn cảnh . Chạy đôn chạy đáo vay được một quan tiền mua con gà mái về nuôi để gây giống tạo đàn . Nhưng may đó rồi rủi đó . Con gà đẻ được mười trứng thì đã hết bảy trứng ung !. Ba trứng nở ra ba con . Tưởng đã ổn rồi ai ngờ con thì diều tha con thì quạ bắt con thì chim cắt xơi !Đàn gà  trông chờ đã đi đời nhà ma !
 Nhưng thật bất ngờ xuất hiện  một hy vọng đầy bản lĩnh :
  Chớ than phân khó ai ơi 
Còn  da lông mọc còn chồi xanh cây


  Từ thơ ca bác học đến văn học dân gian cho đến hội họa , âm nhạc ...đều có tính lạc quan , tính hiện thực , tính nhân văn .Sau cơn mưa trời lại tạnh ( vũ thiên chi hậu tất tĩnh thiên )là câu để động viên con người đừng tuyệt vọng dù ở bất cứ cảnh ngộ nào
   Sống là phải hy vọng ( Vivre est  espérer ). Và hy vọng là sống ( espoir est vivant). Không có hoàn cảnh bế tắc nào không có lối thoát . Bởi tất cả đều biến dịch . Vật cùng tất biến , biến cùng tất thông .

Chủ Nhật, 19 tháng 2, 2012

Kẻ sĩ ngày xưa và người trí thức ngày nay

     
    
        Hoạt động của giới trí thức cũng như mọi hoạt động khác trong đời sống xã hội, kinh tế, chính trị, học thuật...đều là hình thái của văn hóa. Văn hóa lại là phần hồn của một nước. Văn hóa cũng là văn minh, cũng là giáo dục. Đối với văn hóa, giáo dục có nhiệm vụ kép: "Giáo dục vừa xây dựng văn hóa cho ngày mai thụ hưởng, vừa vun bồi kế thừa truyền thống văn hóa của ngày hôm qua." (1) Nói gọn lại là nhiệm vụ xây dựng cái mới và vun bồi, kế thừa cái cũ. Kẻ sĩ xưa và trí thức nay theo nghĩa hẹp là tên gọi khác chỉ người có chữ nghĩa, học cao hiểu rộng và có lương tâm, lương thức. Kẻ sĩ và trí thức khác nhau về cái học (nội dung đào tạo, phương pháp rèn luyện, chỗ đứng trong xã hội) nhưng về vai tuồng, sứ mệnh đối với xã hội, với nhân tâm, thế đạo thì không khác. Kẻ sĩ hay trí thức mãi mãi là hình thái văn hóa. Văn hóa là phần hồn của đất nước. Cái học ngày xưa có gì khác với cái học ngày nay ? Và kẻ sĩ ngày xưa nắm giữ vai tuồng gì đối với quốc gia, xã tắc ?
          
      Trước hết hãy luận bàn về cái học ngày xưa của kẻ sĩ. Chữ Sĩ trong hai tiếng Kẻ Sĩ ngày xưa chỉ người học trò (Sĩ tử) còn chữ Kẻ là cách xưng hô khiêm hạ, nhún nhường. Học đường ngày xưa là "cửa Khổng sân Trình". Mạng lưới giáo dục ngày xưa không quy mô như ngày nay. Học vấn, kinh sách mà người học nghiên cứu là Đạo Nho, còn gọi là Nho học. Nho học không đơn thuần là hệ thống tri thức mà còn là học thuyết về đạo đức. Người thông nho gọi là Nho sĩ. Nho học là môn học đạo đức và chính trị (hiểu theo nguyên nghĩa) - Cái chính trị diễn dịch từ đạo đức - Khác với ngày nay đạo đức diễn dịch từ chính trị. "Học cho biết cương thường đạo lý" (Đạo đức), học cho biết cách vật trí tri (Chính trị- Khoa học). Ngày xưa không tách rời đạo đức với chuyên môn. Chuyên môn gắn với đạo đức, nghề nghiệp (Đạo nghệ). Dạy đạo đức chính trị là dạy cách làm người và cách quản lý xã hội, lãnh đạo đất nước. Từ thứ dân cho đến vương tử, muốn làm quan, làm vua đều phải qua cửa Khổng sân Trình. Học hành, đỗ đạt, làm quan, về nhàn là chương trình hành động của kẻ sĩ ngày xưa. Sĩ đứng đầu trong tứ dân (Sĩ, Nông, Công, Thương). Sĩ đứng ở bậc thang giá trị cao nhất trong xã hội. Kẻ sĩ không nhất thiết xuất thân từ quý tộc mà có thể xuất thân từ giai cấp cùng đinh. Bằng con đường khoa cử, ai ai cũng có cơ hội tham gia quản lý xã hội, lãnh đạo đất nước. Nho học chủ trương "Cử hiền tài". Ai có thực tài, thực học, là người hiền đức thì được tiến cử. Kẻ sĩ được đắc dụng, trọng vọng, tôn vinh trong chế độ văn trị, đức trị. Còn đối với thể chế pháp quyền độc tôn  kẻ sĩ lại là thành phần nguy hiểm, dị ứng đối với bạo quyền, độc đoán. Xét về lịch sử, nhà Chu bên Tàu, là triều đại văn trị đầu tiên mở nhà học hoàn bị, đào tạo một số người nghiên cứu kinh sử để khi ra làm quan đem cái học ra giúp nước. Nhà Chu suy vong, nhà Tần dấy nghiệp, Tần Thủy Hoàng theo chế độ pháp trị, độc tài bạo ngược, căm ghét học trò và sợ hãi kinh sách nên có chủ trương đốt sách chôn học trò (phần Thư khanh nho). Đến đời nhà Hán, Nho học được phục hưng, phục hoạt đã trở thành quốc học. Địa vị kẻ sĩ từ đây có cơ hội đem sở học của mình ra giúp nước. Bằng con đường khoa cử, ai ai cũng có cơ hội tham gia quản lý xã hội. Theo quy luật xã hội , trong một chế độ không tạo điều kiện cho kẻ hiền tài tham chính thì bọn xôi thịt có nhiều cơ hội ĐẦU CƠ CHÍNH TRỊ . Khoa cử là sáng kiến của nhà Hán, đã đưa địa vị kẻ sĩ lên đứng đầu trong tứ dân.
    "Từ Chu Hán vốn sĩ này là quý"
                                 (Nguyễn Công Trứ)
          Ở nước ta, nhà Lý kế thừa nhà Đinh, nhà Tiền Lê giữ vững thời đại tự chủ đối với giặc phương Bắc. Thời Lý là thời đại vàng son trong lịch sử nước ta. Được như vậy là nhờ thời Lý mở khoa thi Tam giáo (Nho, Phật, Lão) để tạo nhiều cơ hội cho nhiều ý hệ tham gia chính trường. Mặc dù Phật giáo vẫn là quốc giáo song Nho học vẫn được đề cao. Các vua đời Lý đã đưa con đến cửa Khổng sân Trình để học làm người trước khi làm vua. Nhà Trần kế thừa nhà Lý vẫn tiếp tục mở các khoa thi Tam giáo. Nhờ vậy mà nhà Trần đã ba lần đánh thắng giặc Nguyên Mông. Đến đời nhà Lê, độc tôn Nho giáo, loại trừ nhiệm vụ giáo dục của tôn giáo. Do vậy mà nhà Lê bị cô lập dẫn đến hậu quả mất nước về tay giặc Minh. Ở những triều đại rộng mở, phóng khoáng, dung nạp được nhiều tư tưởng trái ngược, giữa thế quyền kẻ sĩ ăn ý cùng nhau, cùng nhau hợp tác. Vua thì có quyền, kẻ sĩ thì có học. Cả hai trợ lực nhau trị an xã hội, giữ vững chế độ. Kẻ sĩ ngày xưa có hai con đường hành động : Xuất và Xử. Xuất là ra làm quan, Xử là lui về ở ẩn. Nếu gặp minh chủ thì ra hợp tác. Nếu gặp hôn quân thì treo ấn từ quan, lui về ẩn dật. Đó là khí tiết kẻ sĩ. Dù Xuất hay Xử bao giờ cũng chính tâm thành ý, một mực giữ đạo cương thường. Cổ thời, có những mỹ từ dùng để tôn vinh, ngưỡng phục, đề cao kẻ sĩ như : Sĩ hạnh, Sĩ khí, Sĩ tiết, Danh sĩ, Học sĩ hàn lâm, Chí sĩ...Tuy vậy, trong giới Nho học vẫn còn không ít bọn hủ nho, ngụy nho,... do đọc không hết sách, hiểu không hết lời, tri hành không hợp nhất (cũng như ngày nay bên cạnh chân trí thức vẫn không ít ngụy trí thức, ác trí thức)
            NGƯỜI TRÍ THỨC NGÀY NAY CÓ GÌ KHÁC SO VỚI KẺ SĨ NGÀY XƯA ? Dùng quan niệm người trí thức thay cho quan niệm kẻ sĩ không được tương thích cho lắm. Nhưng không có từ nào thích hợp hơn. Quan niệm về người trí thức ngày nay thật khó mà giới thuyết rạch ròi, định vị phân minh. Tuy vậy giữa kẻ sĩ và trí thức vẫn có một điểm đồng- là người có học (có sở tri, có sở kiến). Chỗ khác biệt rõ nét nhất là cái học ngày xưa và cái học ngày nay khác nhau về nội dung, về phương pháp, về mục tiêu đào tạo. Ngoài ra địa vị và vai trò của người trí thức ngày nay không được đề cao, trọng vọng như xưa. Tuy nhiên như đã nói ở trên, kẻ sĩ hay trí thức đều là sản phẩm của một nền giáo dục mà giáo dục cũng là văn hóa. Đối với văn hóa, giáo dục có hai nhiệm vụ chính: Vừa xây dựng, định hướng cho ngày mai thụ hưởng, vừa vun bồi, kế thừa truyền thống văn hóa của ngày hôm qua. Trí thức của ngày hôm nay không thể đoạn tuyệt, quay lưng lại truyền thống văn hóa của ngày hôm qua. Những sở tri, sở học, sở kiến, sở đạt của trí thức ngày hôm nay, phát nguyên từ nguồn mạch của văn hóa truyền thống. Phủ nhận văn hóa truyền thống là tự bóp chết cái hồn của dân tộc, là bất tiếu (2). Jasper định nghĩa văn hóa là cái gì còn lại sau khi ta quên hết. Cái còn lại đó là cái hồn, cái tinh hoa, tinh túy của cả dân tộc. Không có gì hoàn toán mới mà không ẩn chứa cái cũ. Cụ Nguyễn Công Trứ nói "Chỗ mà ngày nay chúng ta ngồi thì người xưa đã từng ngồi rồi" (Ngã kim nhật tại tọa chi địa. Cổ chi nhân tằng tiên ngã tọa chi). Một nền giáo dục không chú trọng đến cổ văn, cổ sử thì sớm muộn gì cũng đào tạo một lớp trí thức lai căn, mất gốc (chương trình văn học cổ ngày nay chỉ giúp cho Thầy và Trò dắt nhau vào một gian hàng đồ cổ, chỉ có thể liếc mắt nhìn qua rồi đi ra chứ không mang gì được về nhà). Dưới thời Pháp thuộc, Tây học thay thế cho Nho học, Trần Tế Xương đã than thở :
"Cái học nhà Nho đã hỏng rồi !
Mười người đi học chín người thôi "
          Đất nước bị đô hộ thì tất nhiên văn hóa bị nô dịch. Cái học nhà Nho đã hỏng vì chẳng mấy ai còn đi học Nho song cái hồn của Nho sĩ vẫn còn đó. Các cụ Phan Chu Trinh, Phan Bội Châu, Huỳnh Thúc Kháng không chỉ là những nho sĩ kiệt xuất mà còn là những chí sĩ yêu  nước thương nòi. Bài thơ "Bài ca chúc Tết thanh niên" của cụ Phan Bội Châu là hồi chuông cảnh tỉnh, đánh thức biết bao thanh niên mê chơi, mê ngủ trước cảnh quốc phá gia vong. Khi tự mình nhổ ra khỏi gốc rễ truyền thống thì chẳng khác nào những cô hồn sống không nơi nương tựa.
           TRÍ THỨC NGÀY NAY LÀ HẬU DUỆ CỦA KẺ SĨ NGÀY XƯA . Đã là hậu duệ ít nhiều cũng ảnh hưởng gen di truyền của tổ tiên ngày trước.
           Địa vị xã hội của trí thức ngày nay không còn được đề cao trọng vọng như ngày xưa. Xã hội ngày nay bị phân hóa ra làm nhiều giai cấp, tầng lớp và người ta chỉ chú trọng đến kinh tế hơn là trí thức, tâm linh. Ngày nay, các đại gia, các nhà đầu tư làm chủ xã hội. Những người trí thức có văn bằng cao đi làm thuê cho các doanh nghiệp. Các nhà đầu tư, chủ doanh nghiệp cấu kết với quyền lực chính trị để có đặc quyền, đặc lợi. Ngoài ra do nhu cầu giải trí càng ngày càng cao nên giới thể thao, giới tài tử điện ảnh, giới ca sĩ được coi trọng hơn cả trí thức (nhiều ca sĩ nổi tiếng mang bệnh "ngôi sao", được phỏng vấn trên truyền hình tỏ ra hãnh tiến, hợm hĩnh kênh kiệu một cách lố bịch). Ngày nay văn hóa đọc cũng bị lấn át bởi văn hóa nghe nhìn.
          Qua nhiều giai đoạn lịch sử, số phận của kẻ sĩ cũng như trí thức cũng lắm thăng trầm. Có thời kỳ trí thức là thành phần nguy hiểm cần phải "Đào tận gốc, trốc tận rễ". Thậm chí có thời trí thức bị coi như "cục phân". Nhưng dù ở hoàn cảnh nào thì người trí thức vẫn giữ được tiết tháo của mình. Kẻ sĩ ngày xưa "Uy vũ bất năng khuất. Phú quý bất năng dâm. Bần tiện bất năng di." Tuy vậy ngày nay vẫn có loại trí thức "trùm chăn", im tiếng, thờ ơ, bàng quan trước những bất công xã hội, cường quyền bạo ngược.
          Trí thức ngày nay cũng khác kẻ sĩ ngày xưa về nội dung giáo dục đào tạo. Ngày nay khoa học phát triển đòi hỏi có sự chuyên biệt hóa các ngành học. Môn học đạo đức tách ra ngoài các khoa học chuyên môn. Đào tạo chuyên môn và giáo dục đạo đức là hai ngành học khác nhau. Ngày xưa, kẻ sĩ vừa học cương thường đạo lý (đạo đức) vừa học "cách vật trí tri" (khoa học), vừa học văn vừa học võ. Thành ngữ "Nho khả bách vi" nói lên tính đa năng, đa dụng của kẻ sĩ. Cụ Nguyễn Công Trứ ngày xưa, khi thì xử án, lúc đi dinh điền, lúc viết sử, lúc đánh giặc, lúc làm thơ. Ngày nay do hiểu biết của xã hội vô cùng rộng lớn nên học chuyên ngành là điều tất yếu. Nói như vậy không phải chỉ có những giáo sư, văn sĩ, học giả mới là trí thức. Bác sĩ, kỹ sư, luật sư, nhà toán học vẫn là trí thức. Quý hồ là những người này có văn hóa, có tinh thần khoa học, có lương tâm nghề nghiệp. Có tri thức có học vấn chưa chắc đã là có văn hoá . Đành rằng muốn có văn hóa phải thông qua học vấn. Tri thức khoa học là điều kiện ắt có chứ chưa đủ có để trở thành người trí thức. Có người cho rằng người lao động trí thức (intellectual worker) không phải là trí thức. Nói vậy e không đúng. Người lao động trí thức vẫn là người trí thức nếu họ có lương tâm khoa học. Einstein nói "Khoa học mà không có lương tâm là sự tàn lụi của tâm hồn". Cũng có người cho rằng người trí thức là người lao động trí óc. Điều này e cũng không đúng. Bởi vì lao động nào mà chẳng cần đến trí não ?
 Hơn nữa một người lao động chân tay có vận dụng trí óc một cách triệt để, chịu khó rèn luyện, học tập, mày mò phát minh ra những máy móc để cải thiện kỹ thuật lao động chẳng phải là trí thức ư ?!
 Trái lại một bác sĩ chuyên móc tiền trong túi bệnh nhân; một kỹ sư không chế nổi một cái máy thông dụng, một giáo sư toán mà lý luận tiền hậu bất nhất, nhà văn nhà báo bẻ cong ngòi bút ...họ cũng được xem là trí thức ư ?!

         Người lao động trí óc mang nhiều nọa tính (3) : không động não, không tỉnh thức, thiếu trách nhiệm đối với cộng đồng, không biết đau niềm đau của tha nhân, không ưu thời mãn thế cũng không thể gọi là trí thức!
         Thông thường những người học cao, có chuyên môn cao, hầu hết đều được mệnh danh là trí thức. Nhưng thiết nghĩ điều này cần phải được xét lại. Học cao, chuyên môn cao phải có thực học, thực lực, thực tài và thực tâm mới xứng đáng là trí thức. Bây giờ vàng thau lẫn lộn, thực-giả bất minh, bằng giả tràn lan, bằng thật mà học giả cũng không ít. Cho dù bằng thật, học thật mà không băn khoăn thao thức về những tệ nạn trong xã hội, những tệ đoan trong đời sống văn hóa, những bất bình trong nhân dân... thì cũng chưa thể được gọi là trí thức. Đó là loại ngụy trí thức, tuy có thực tài, thực học nhưng chỉ dùng tài trí của mình, bằng cấp, học vị của mình để phủ đầu, áp đảo những trí thức khác kiểu "Vú lớn lấp miệng em".Học phiệt cùng một giuộc với quân phiệt , tài phiệt và cùng nguy hiểm như nhau 
          CHÂN TRÍ THỨC BAO GIỜ CŨNG VỪA TỈNH THỨC VỪA ĐÁNH THỨC XÃ HỘI , ĐỊNH HƯỚNG XÃ HỘI , DẪN DẮT QUẦN CHÚNG HƯỚNG VỀ CHÂN- THIỆN - MỸ . Thời nay, có nhiều người bằng nào cũng lấy, hội nào cũng vào, ghế nào cũng ngồi, chức danh nào cũng đạt, song không hề có một phát minh, phát kiến nào mới mẽ cho nhân quần xã hội nhích thêm một bước nào.
          Kẻ sĩ ngày xưa là người quân tử có vai trò định quốc an dân. Họ luôn quan tâm đến nhân tâm thế đạo, sự hưng vong của đất nước. Họ tự nhận là cán bộ của Nho giáo. Dù xuất hay xử, ra làm quan hay lui về ẩn dật vẫn một niềm ưu ái đối với dân, với nước. Trí thức ngày nay cho dù có học vấn, chuyên môn cao nhưng không quan tâm đến cộng đồng, xã hội, không gây được ảnh hưởng gì trong đời sống văn hóa, học thuật, không lắng nghe được tiếng kêu than nơi thôn cùng xóm vắng...  thì cũng chỉ là những "ông phổng đá" mà thôi . Trái lại, có những vị mới chỉ đậu tú tài như cụ Nguyễn Hiến Lê mà đã miệt mài tự học, tự rèn luyện để trở thành một học giả có uy tín và có tầm ảnh hưởng to lớn trong nhiều thế hệ. Riêng tủ sách học làm người của cụ đã giúp cho không ít người hoàn thiện được nhân cách làm người đích thực là người. Cụ xứng đáng với lời khen tặng   :
"Phú quý mạc cầu, phấn phát băng tâm cư loạn. Thư hoa chân ái, sổ thiên văn tự lưu phương." (Phú quý chẳng cầu, giữ tấm lòng son thời loạn. Sách hoa riêng thích, để đời văn tự ngàn chương)
Công trình học thuật của cụ Nguyễn Hiến Lê có ảnh hưởng lâu dài và to lớn cho nhiều thế hệ mai sau.
Cái học ngày xưa khác cái học ngày nay, không những về nội dung mà còn về phương pháp học. Sách Trung Dung dành riêng một phần quan trọng bàn về phương pháp học tập của Nho sĩ ngày xưa. Phương pháp này đại loại tóm gọn trong mấy từ sau : 
 bác học (người đi học phải học cho giỏi)
thẩm vấn (hỏi thì hỏi cho kỹ); 
thận tư (suy nghĩ thì suy nghĩ cho cẩn thận); 
minh biện (biện luận cho rõ ràng);
đốc hành (cố tâm thực hành điều mình biết). 

Học thì phải học cho thật giỏi, nghĩ thì phải nghĩ cho ra lẽ, hỏi thì phải hỏi cho biết mới thôi, làm thì phải làm cho hết sức mình. Ngoài ra phải khiêm tốn, thật thà, không giấu dốt, không nói những điều mình không biết rõ (biết thì nói là biết, không biết thì nói là không biết, ấy là biết vậy - Khổng Tử). Phương pháp rèn luyện của người trí thức là tự mình thấy, tự mình nghĩ ra điều tự mình thấy để hành động khi đã thực biết.
         Cũng có những phương pháp giáo dục áp đặt, nhồi sọ bắt buộc người học phải nhìn một hướng, nghĩ một chiều, nói một kiểu, làm một cách, thiên về một phía.
         Chỗ dị biệt rõ nhất của kẻ sĩ ngày xưa và trí thức ngày nay là nội dung và phương pháp học tập, rèn luyện. Tuy nhiên vẫn có một điểm tương đồng là vai trò, sứ mạng của kẻ sĩ ngày xưa không khác gì với vai trò và sứ mạng của trí thức ngày nay. Vì như trên đã nói, hoạt động của giới trí thức ngày nay cũng như những hoạt động khác của đời sống dân tộc đều là hình thái của văn hóa. Văn hóa lại là phần hồn của một nước. Văn hóa vừa là văn minh mà cũng vừa là giáo dục. "Nhiệm vụ của giáo dục vừa xây dựng văn hóa cho ngày mai thụ hưởng, vừa vun bồi, kế thừa truyền thống văn hóa của ngày hôm qua" (4)

         Kẻ sĩ xưa và trí thức nay đều là sản phẩm của một nền giáo dục. Trí thức ngày nay vẫn còn giữ được địa vị tinh thần của kẻ sĩ ngày xưa. Muôn đời, trí thức vẫn là người cầm bó đuốc tinh thần của nhân loại, giữ vai trò lãnh đạo tinh thần của một dân tộc. 

   Trong một xã hội nặng mùi vật chất, đồng tiền là vạn năng, giá trị tinh thần thuộc về thứ yếu, đời sống tâm linh nghèo nàn, tình người đắt đỏ hiếm hoi...thì địa vị tinh thần của người trí thức cần được đề cao, coi trọng hơn bao giờ hết. 
   Quốc gia, dân tộc hưng thịnh hay suy vong thì cả đến người thất học cũng phải có trách nhiệm huống chi là người có học !(quốc gia hưng vong, thất phu hữu trách).


---------------
Chú thích:
(1) Trích bởi Thạch Trung Giả
(2) Bất tiếu (Dégénéré) : Không giống- không giống cha mẹ- con hư- người ngu đối với người hiền.
(3) Nọa tính : Tính yếu ớt, nhu nhược, nhát nhớn, chây lỳ , trì trệ.
(4) Trích bởi Thạch Trung Giả.

Thứ Hai, 6 tháng 2, 2012

Rằng từ ngẫu nhĩ

  Đời vốn nhỏ cứ ngỡ đời quá lớn 
Em ngẩn ngơ chi giữa cuộc hồng trần  
Ta hiện hữu hay là không hiện hữu
Chẳng can gì hủy diệt với tồn sinh 

Hãy đối mặt với tồn sinh hủy diệt
Hiện hữu nào không mầu nhiệm đâu em
Ta trinh bạch trong cảnh đời ô trọc 
Ta thơ ngây hồn hậu với thời gian 

Hạnh phúc có từ trong khoảnh khắc
Giữa thời gian vô thủy với vô chung 
Mơ làm chi đến vĩnh hằng viên mãn
Nở nụ cười tươi từ ái bao dung 

Nhiệm màu thay trong giây lát tình cờ
Dinh dưỡng mãi trái tim người rạn vỡ
Đời ngỡ lớn hóa ra đời vẫn nhỏ 
 " Lớn không ngoài mà nhỏ cũng không trong* "


*Thơ Nguyễn công Trứ

Thứ Ba, 31 tháng 1, 2012

Tâm ý xuân

 Ai  đó cho rằng thời gian không đo bằng năm tháng mà bằng những gì ta thực hiện được . Lại cũng có người bổ sung câu ấy : " Điều tệ hại nhất trong mọi điều tệ hại là không thực hiện được '. Như vậy vấn đề then chốt là hành động . Hành động nào cũng khởi đi từ một tác ý . nếu là như lý tác ý thì đó là pháp hành  bằng không thì là tâm hành . Pháp hành là hành động theo chánh pháp , trong chánh niệm . Nói năng như chánh pháp , tư duy như chánh pháp , hành động như chánh pháp là sống đời phạm hạnh .
    Hôm cuối năm có một ông bạn quý ở quê nhà gởi tặng mình một bức thư pháp có nội dung như sau :
    Đạt nhân tâm cảnh quang như nguyệt 
   Xử sĩ môn tiền thanh dã sơn 
Tam dịch  :
   Cảnh lòng đạt nhân vầng nguyệt tỏ 
  Trước nhà ẩn sĩ sắc non xanh
     Sau đó cũng chính ông bạn quý ấy tặng tiếp hai câu đối gọi là món quà chúc tết :
                 Đạt ý thiểu cầu tri bất thiểu 
                 Nhân tâm đa lạc hiện vô đa  
  
 Tác giả diễn nghĩa :
        Ý mà đã đạt tới chỗ nhiệm mầu , dẫu cầu ít nhưng khả năng hiểu biết , quán thông không ít .
        Tâm người đã trụ nhiều trong an lạc thì thường không bộc lộ ra ngoài nhiều ( bình lặng như có sóng mà không thấy sóng ; có gió mà không thấy gió)
    Mình bỗng cảm xúc diễn thơ :
        Ý mà đạt đến nhiệm mầu 
  Dẫu cho cầu ít vẫn làu trí thông 
       Lòng mà hỉ lạc khinh an 
  Cũng không để lộ hỉ hoan ra ngoài  
   
   Cũng có thể gom hai câu này thành một cụm từ tâm ý và tri hành . Khi tâm ý sáng đạt thì tri hành hợp nhất . Ấy gọi là như lý tác ý . Một bạn  trẻ nhận xét : " Chỉ có những bậc cao nhân mới tặng nhau những câu từ như vậy  "
  Nói quá chăng ?
Ngôn từ câu chữ cũng chỉ là danh lý mà thôi . Nhưng dầu sao mình vẫn thấy vui khi ở tận quê nhà xa xôi vẫn còn có người hiểu , thương và quý mình .
 Nhớ hồi xa quê , mình có làm mấy câu thơ tự bạch :
    Hăm bảy năm về xứ
  Chôn chân đời khách lữ 
  Quê xứ hoài quay lưng
  Chừ làm thân cô lữ 
 Nhưng thật không ngờ , cô lữ bây giờ đã có bạn tri âm !  .

Thứ Năm, 19 tháng 1, 2012

Xuân chiều

      Chiêm bao từ độ đi về 
Mùa xuân trái chín đã kề tay nâng 
      Hái cho nhau chỉ một lần  
Mà chiêm bao đã lần khân dãi dề
      Còn em chừ vẫn đam mê 
Chừng như dậy sóng đi về bến xưa
      Thương nhau chừng đó chưa vừa 
Cho nhau từng đó có thừa thải đâu 
       Trời xuân giữ giấc ưu sầu
Người lên ngựa đã nhạt màu nắng hoe 
       Em về nhìn lại sương che 
Bỗng nghe sương vỡ chiều hoe nắng chiều 



Thứ Sáu, 13 tháng 1, 2012

Nhớ MẸ

              MẸ ơi ! con vẫn đi tìm 
         "Nương sinh diện "- một nỗi niềm ưu tư
             Chiều lên phủ kín không hư
          Tử sinh mấy bận , như như một niềm