Thứ Sáu, 13 tháng 1, 2012

Nhớ MẸ

              MẸ ơi ! con vẫn đi tìm 
         "Nương sinh diện "- một nỗi niềm ưu tư
             Chiều lên phủ kín không hư
          Tử sinh mấy bận , như như một niềm

Thứ Bảy, 31 tháng 12, 2011

Cà sa mặc rồi và chưa mặc

    Thiền sư Phước Hậu có hai câu thơ nói về nghịch lý của việc tu rồi và chưa tu . Khi chưa vào chùa khoác áo cà sa thì hiềm vì đa sự nhưng khi đã vào chùa khoác áo cà sa thì sự cánh đa
             Vị trước cà sa hiềm đa sự
              Đắc trước cà sa sự cánh đa

Khi chưa khoác áo cà sa thì đa sự là lẽ thường tình . Cuộc đời vốn dĩ phiền toái đa đoan nhiễu sự . Với cái thân ngũ uẩn loay hoay trong sáu căn sáu thức sáu trần cộng với tám ngọn gió phân biệt xúy động từng giờ con người có vô vàn những lo âu sợ hãi , khổ đau phiền muộn . Đó là hoàn cảnh giới hạn  (situation limite )  mà con người luôn luôn tìm cách thoát ra . Đó cũng là cái đang là ( hiện hữu ) mà con người muốn tìm một lối thoát . Có nhiều lối thoát khác nhau nhưng chung quy cũng chỉ để chạy trốn hiện hữu :ví dụ như chọn một lý tưởng , một ý hệ , một định chế chính trị , một tín ngưỡng vân vân ... Đi tu cũng là một trong các lối thoát trên . Nhưng điều oái oăm , đầy nghịch lý là tất cả những lối thoát đều là sản phẩm của tư duy và ngã chấp . Rốt cùng con đường thoát đó là tư duy , mà hễ còn tư duy là còn lối thoát , còn bám víu , còn vướng mắc ...vô hình trung tự tạo ra những dây trói thắt chặt mình . Giải thoát ra khỏi những trói buộc là giải thoát khỏi tư duy . Tâm thể ly niệm , hoàn toàn vắng lặng thì thực tại mới hiển bày . Tìm một lối thoát để thoát ra khỏi cái đang là chẳng khác nào sóng đi tìm nước đang khi sóng chính là nước . Sóng đang là cái mà nó muốn tìm vì trong sóng đã có nước . Anh chính là cái mà anh muốn trở thành ( you are alredy what you want to become).  Đi tu khoác áo cà sa rồi mà còn mãi tư duy , phân biệt thị phi , ôm giữ giáo điều thì chẳng những không phải là người vô sự mà sự còn nhiều hơn . Bàn về việc tìm cầu lối thoát bằng một lý tưởng - xét như một thiên đường huyễn hoặc - bằng những lý luận vụn vặt ,Tuệ Sỹ viết ; " Trước đại dương mênh mông của máu và nước mắt , trước những cuồng phong lửa dữ , trước những dòng xoáy kinh hoàng của sinh tử của biến dịch vô thường ...tất cả đều bị dao động , bị chấn động mạnh . Với những kẻ hèn yếu không tìm ra lối thoát , tự thấy mình hèn yếu bất lực thì hoặc tự trang bị những mẫu lý luận vụn vặt để chối bỏ hiện thực , hoặc tự vẽ cho mình một thiên đường huyễn hoặc . Những người ấy thiếu cả hai : thiếu sự rung động của trái tim và thiếu sự nhạy bén của trí não " . Thiếu sự rung động của trái tim và thiếu sự nhạy bén của trí não tức là thiếu từ bi và trí tuệ . Nói khác nữa là thiếu bồ đề tâm . Và như vậy , nguyên động lực của người xuất gia vào đạo là phát bồ đề tâm .Bài kệ xuất gia sau đây nói rõ nguyên động lực nầy :
                           Hủy hình phi pháp phục 
                           Cát ái từ sở thân
                           Xuất gia thành Phật đạo
                           Nguyện độ nhất thiết nhân
  Mục đích của việc bỏ cái đẹp trần thế, khoác chiếc áo cà sa , cắt đứt dây tình ái là trên cầu Phật đạo , dưới độ chúng sanh . Phật đạo là đạo bồ đề , đạo từ bi và trí tuệ . Áo cà sa là áo pháp  ( pháp phục ). Áo pháp là áo giải thoát , áo thanh tịnh , áo giới luật , áo vô phân biệt . Mặc áo cà sa rồi mà còn vướng mắc , còn phiền não ...thì sự còn nhiều hơn là điều tất yếu . Chiếc áo không phải là con người mặc nó . Con người cũng không phải là chiếc áo . Cho nên mặc áo cà sa rồi chưa chắc trở thành bậc chân tu , người vô sự . Ngạn ngữ tây phương có câu  : "Chiếc áo không làm nên thầy tu " ( Clothe no do monks).
    Trong thời buổi như hiên nay đồ giả nhiều hơn đồ thiệt . Kinh sư dễ kiếm , chân sư khó tìm . Không ít những người đội lốt nhà sư nhập vai đóng giả làm người tu hành lại giữ những chức sắc trong giáo hội để theo đuổi một ý đồ thế tục . Hoặc không ít những kinh sư chuyên nghiệp mượn chiếc áo để làm giàu cho cá nhân ... Tất cả những người này đều là giấy bạc giả của nhà chùa . Họ là những con vi trùng trong thân sư tử mà ngày xưa đức Phật đã từng cảnh báo  : " Sư tử trùng đục sư tử nhục " .  Hạng người này ta không cần bàn đến ở đây . Ở đây ta chỉ nói đến những bậc xúât gia đã từng phát bồ đề tâm , đã từng bi thiết khẩn trương tìm cầu giải thoát như " Cứu cái đầu của mình sắp bị lửa cháy sém ". Những vị này sau khi mặc áo cà sa vẫn còn sự mà đôi khi sự còn nhiều hơn . Trong " Thiền luận " , Suzuki có kể kinh nghiệm của một người tu đạo qua ba giai đoạn :
- Khi chưa vào đạo tu tập tôi thấy núi là núi sông là sông
- Khi đã vào đạo tu tập tôi thấy núi không phải là núi sông không phải là sông
- Và khi tôi đã giác ngộ rồi thì núi vẫn là núi sông vẫn là sông
 Khi chưa quán niệm sâu sự vật ta thấy sự vật chỉ là sự vật như nó vốn có . Nhưng khi quán niệm sâu vào sự vật ta thấy sự vật không có tự tính , tự thể mà do tương tức tương nhập mà có ( tương tức là caí nầy có vì cái kia có , cái nầy không vì cái kia không còn tương nhập là cái nầy có trong cái kia ) . Như vậy núi không phải là núi sông không phải là sông . Bởi vì núi được cấu thành bởi những yếu tố không phải núi và sông cũng được cấu thành bởi những yếu tố không phải sông .Theo nguyên tắc tương nhập núi đã đi vào sông và sông đã đi vào núi . Nhưng khi đã ngộ đạo rồi và trở về với thế giới sinh hoạt hằng ngày thì núi vẫn là núi sông vẫn là sông . Và như vậy ta muốn tắm phải lội xuống sông , muốn hái củi phải leo lên núi . Người mới khoác áo cà sa mới vào đạo thì thấy núi không phải là núi sông không phải là sông mới chỉ là bước đầu của quá trình tu tập chuyển hóa . Bước nầy làm cho hành giả cảm thấy rối rắm hoài nghi , khởi nghi tình sinh ra lắm chuyện . Cũng giai đoạn nầy , hành giả hoang mang đặt ra nhiều nghi vấn , nhiều vấn đề . Ví dụ : đặt câu hỏi con chó có Phật tính không ? Ý của tổ sư Đạt Ma qua Đông Độ là gì ?
Hoặc một thiền sinh năm mươi tuổi đạo đến hỏi Shinkan , một thiền sư tu chứng , rằng :
 -  Tôi đã học ở Tendai về tư tưởng khi tôi còn bé , nhưng có một điều tôi không hiểu được . Tendai dạy rằng đến cỏ cây cũng sẽ giác ngộ . Đối với tôi điều này có vẻ kỳ lạ quá .
 Shinkan trả lời :
- Bàn luận về cỏ cây sẽ giác ngộ thế nào có ích chi đâu . Vấn đề là làm sao chính ông có thể giác ngộ được , ông có xét thấy điều nầy không ?

  Mặc áo cà sa rồi mà vẫn còn đa sự là do tập khí tư duy , biện biệt , tìm cầu bên ngoài mình . Tệ hại hơn nữa là ôm chặt những giáo điều, định kiến . Đời Đường Trung Quốc có một gia đình gồm có ba thành viên đều tu tại gia . Đó là gia đình của cư sĩ Bằng Uẩn . Một hôm ông chồng xướng thoại đầu : Khó , khó , khó một tạ dầu mè trên đầu cây vuốt .
Bà vợ : Dễ, dễ, dễ trăm đầu ngọn cỏ ý tổ sư .
Con gái :  Cũng không khó , cũng không dễ , đói ăn cơm , mệt ngủ khì
  Thì ra mọi con đường hàng ngày đều là con đường vào đạo : gánh nước, bửa củi, đói ăn , khát uống , mệt nghỉ đều là đạo :
                            Nhật dụng vô phi đạo
                            Tâm an tức thị thiền
Núi vẫn là núi sông vẫn là sông là tuệ giác của nhà thiền . " Không tư duy là yếu chỉ của việc tọa thiền .
Không ai trên đời muốn đa đoan đa sự . Dù là đa sự ngoài thế tục hay đa sự trong chốn thiền môn đều phiền não như nhau . Ái và kiến là hai mặt của phiền não . Tu mà còn bận bịu , còn lo lắng , còn nhiều vấn đề , còn nhiều dự án thì làm sao trở thành người vô sự được . Người vô sự là người không đâu để đến , không  chi để làm ; nhưng lại đi đâu cũng tới thấy chi cũng làm . Làm rất nhiều mà xem như không làm chi cả . Lấy cái làm mà không làm , lấy cái không làm mà làm .
                   Trơ trơ không tu thiện
                   Lăng xăng không tạo ác 
                   Giải trừ tâm phân biệt 
                   Lộ lộ tâm vô trước
  Khi tiếp xúc với ngoại cảnh bằng cách nhìn sâu và lắng nghe với cái tâm không chấp trước , không phân biệt thì tất cả pháp đều là Phật pháp vậy !

 

Thứ Hai, 12 tháng 12, 2011

Lập đông

        Lập đông nầy bửa hôm nay
    Trời se thắt lạnh mới hay thu tàn
        Nghe từ viễn mộng mơ màng...
     Trong tro lạnh.. vẫn còn than lửa hồng

Thứ Bảy, 26 tháng 11, 2011

Khổ nhi tri

  Khổ nhi tri hay khốn nhi tri là do khốn khổ cùng cực mà thấu hiểu lẽ trời lẽ đạo . Sách trung dung dành riêng một phần quan trọng ( chương XXIII) để bàn về phương pháp học hỏi . Trước hết là bàn về cách BIẾT . Có ba cách BIẾT :Một là sinh ra đã biết ( sinh nhi tri ) cái biết do thiên bẩm của bậc thượng trí ; thứ hai là học  mà biết ( học nhi tri ) là cách biết bậc thứ của người bình thường và thứ ba là do chịu khốn cùng khổ sở , nhờ vào kinh nghiệm mà  biết ( KHỔ nhi tri ). Dù biết bằng cách nào thì kết quả vẫn như nhau . Sự liễu ngộ trong đạo Phật bắt đầu từ liễu sinh tử . Chấp nhận sự thật khổ đau ( khổ đế )để tìm hiểu nguyên nhân khổ đau ( tập đế )và rồi chọn con đường tu tập ( đạo đế )để chấm dứt khổ đau ( diệt đế ) ." Đời là bể khổ" câu nói dân gian này phát ra từ cửa miệng của những người lâm vào cảnh khổ . Sinh lão bệnh tử khổ , cầu bất đắc khổ , ái biệt ly khổ oán tắng hội khổ , ...Không ai tránh được khổ .Nói như cách nói của một nhà thơ nào đó :
"Thuyền ai ngược gió ai xuôi gió 
Cũng chỉ trong vòng bể thảm thôi "
  Tuy nhiên , nói như vậy không có nghĩa là ai ai cũng khổ . Nhờ y báo , phước báo thừa hưởng nhân lành kiếp trước nên có người gặp nhiều may mắn , được sung sướng hạnh phúc . Song dù vậy họ vẫn không thoát được sinh lão bệnh tử . Nói về người chịu cảnh khổ sẽ có hai thái độ khác nhau 
   1/ Chấp nhận sự thật một cách hoan hỹ . người này kham nhẫn chịu đựng kết quả của nghiệp NHÂN kiếp trước ( Đức Phật dạy rằng chúng sinh là kẻ thừa tự những hành động mà y đã gây ra trong quá khứ).Kham nhẫn là chịu đựng được những gì tưởng chừng không thể chịu đựng . Kinh qua được khổ đau cùng cực người này sẽ thấu hiểu được lẽ vô thường vô ngã .
  2/ Chịu hoàn cảnh khổ đau một cách buông xuôi , tha hồ để buồn đau gậm nhấm ,tàn hại thân tâm . Họ để cho nỗi khổ đau đè nặng lên thân phận rồi than thân trách phận , than trời trách đất , hờn cha oán mẹ .Họ không nghĩ quả đời này chính là nhân đời trước . Nói như cụ Nguyễn Du :
   Đã mang lấy nghiệp vào thân
Cũng đừng trách lẫn trời gần trời xa
  Cái khổ nào rồi cũng giống cái khổ nào . hoàn cảnh thì không khác chỉ khác nhau ở thái độ của con người trước hoàn cảnh mà thôi . Do cái nhìn phân biệt mà nẩy sinh ra các hoàn cảnh khác nhau : " Tôi khổ đau vì tôi nhìn thấy hoàn cảnh của tôi khác hoàn cảnh của người kia , họ có phước hơn tôi , con họ thành đạt hơn con tôi ..vv... Với cái nhìn và thái độ ấy đương sự trước sau gì cũng chìm trong bể khổ . Nhưng nếu chấp nhận SỰ THẬT ( khổ ) một cách hoan hỹ , kham nhẫn , chịu đựng ...thì con người trong cảnh khổ này sẽ ngộ ra chân lý cuộc đời : Khổ- vô thường - vô ngã-.Vì quá đau khổ ta thấu hiểu được rằng ĐỜI LÀ KHỔ . Hiểu được khổ ta dễ dàng chấp nhận vô thường và vì vô thường nên mới vô ngã . Khổ nhi tri 
   Chịu đựng được điều tưởng chừng như không thể chịu đựng được gọi là nhẫn ba la mật . Kinh Kim Cang gọi là đắc thành ư nhẫn ..
Tu là phải rèn luyện trong sự đau khổ ( khổ tu ) . Tu sĩ Phật giáo tự xưng là bần tăng chứ không ai xưng là phú tăng . Ngày nay ít thấy ai xưng bần tăng vì đa số có khá nhiều tư hữu  .. Khổ đau khốn đốn là nghịch cảnh của người TU . "Tu trong nghịch cảnh chẳng khác nào nồi lửa bỏng mà rèn luyện thành kim cang bất hoại .". Thiền sư Hoàng Bá cho rằng để có   được mùi hương thơm ngát   vào mùa xuân thì  hoa mai phải biết chịu cái rét buốt của đêm đông hôm trước :
  Chẳng trãi một phen xương lạnh buốt
Hoa mai đâu dễ ngát hương đưa
Khổ nhi tri là một cách biết , cách học hỏi để biết từ thế bị động biến thành chủ động - Vật cùng tất biến, biến cùng tất thông -. Trong lịch sử trong văn chương và cả trong thực tế cuộc sống liên tục xảy ra đây đó hiện tượng nầy . Ta thử đơn cử vài ví dụ :
   Vua Trần Thái Tông tức Trần Cảnh bị chú ruột của mình là Trần Thủ Độ bức ép lấy chị dâu ( vợ Trần Liễu ) đang có mang . Trần Cảnh đau khổ buồn bã, chán ngán trước cảnh thương luân bại lý đã bỏ cung điện ngôi báu như vứt " đôi giày rách " đang đêm qua sông Bình Than vào chùa Hoa Yên núi Yên Tử phát nguyện xuất gia cùng thiền sư Phù Vân . Vua nói :  Ta đến đây chỉ cầu làm Phật không cầu gì khác  ( duy cầu tác Phật bất cầu tha vật )  . Thiền sư khuyên vua : Bệ hạ nên trở về để thực hiện Đạo trong Đời . Trong núi không có Phật .Phật ở tại trong tâm .Tâm yên tỉnh mà giác ngộ ấy là Chân Phật .
  Và như vậy từ nỗi đau khổ bị bức ép mà Trần Cảnh đã giác ngộ được điều thứ nhất trong tám điều giác ngộ của bậc đại nhân ( bát đại nhân giác ) .*
  Trần Thủ Độ vì muốn gầy dựng nghiệp đế cho nhà tần nên bất chấp mọi thủ đoạn . Thủ Độ ép Lý huệ tông phải vào chùa . Trong hoàn cảnh bị bức ép , đau khổ , Lý huệ Tông không có tâm thế sẵn sàng chịu đựng nên khi nghe Thủ độ dọa " nhổ cỏ tận gốc "thì bèn ra sau chùa thắt cổ tự tử . Vì đã vào chùa nhưng chưa đắc thành ư nhẫn nhà vua cuối cùng của họ Lý phải chịu sự bức tử !
  Xem ra khổ và chịu khổ là hai thái độ khác nhau . Khổ là để cho nỗi đau tha hồ gậm nhấm , tàn hại thân tâm . Còn chịu khổ là kham nhẫn chấp nhận thực tại khổ đau , giáp mặt cuộc đời tìm ra lẽ đạo :
  "Bắt phong trần phải phong trần 
Cho thanh cao mới được phần thanh cao "
  Hai câu trên làm ta liên tưởng đến thân phận nàng Kiều trong truyện Kiều của Nguyễn du . Trải qua Mười lăm năm bị trôi giạt , dập vùi , tủi nhục ê chề Kiều đã ngộ ra một điều : " tu là cõi phúc , tình là dây oan ".Trong buổi Kim Kiều tái hợp , cả nhà ai cũng động viên khích lệ Kiều chấp nối mối tình dang dở với Kim Trọng . Thế nhưng Kiều một mực chối từ và xin lập một am tranh sau vườn để tu cho hết kiếp phong trần .
  Thì ra , hạt giống Bồ Đề cho dù bị vùi lấp trong bùn đen tanh tưởi vẫn còn khả tính triển nở , nẩy mầm , để rồi vươn lên cao vút .... Tuy cũng có lúc Thúy Kiều buông tay trước số phận :
  "Thân lươn bao quản lấm đầu
Chút lòng trinh bạch từ sau xin chừa "


Sao lại chừa chút lòng trinh bạch ?  Đó là bi kịch muôn thuở của con người bị o ép trước hoàn cảnh . Vì hoàn cảnh mà con người muốn sống lương thiện , hiền lương cũng không xong . Xưa nay người ta xin chừa những thói hư tật xấu chứ nào ai nói xin chừa lòng trinh bạch ?! Không phải Thúy kiều đổ thừa hoàn cảnh để ra tiếp khách làng chơi mà vì nàng biết  rất rõ khung hình phạt đối với tội " bỏ nhà theo trai "trong bối cảnh xã hội bấy giờ . Lỗi không phải ở nàng mà ở tên Sở Khanh đểu cáng  trân tráo . Hắn ta đã cấu kết với tú bà dụ cho Kiều bỏ trốn rồi  chỉ điểm  cho tú bà bắt lại .Điều đáng quý là mặc dầu " thanh y hai lượt thanh lâu hai lần "nhưng Kiều vẫn giữ được một " chữ Trinh " ( chữ trinh còn lại chút này ) . Chữ trinh ở đây chính là" nhất phiến băng tâm "là giác tính là lương thức trong " linh khâm " của mỗi con người . Như nữ sĩ Hồ Xuân Hương đã nói :
  "Rắn nát mặc dầu tay kẻ nặn 
    Mà em vẫn giữ tấm lòng son "
Nhờ vào giác tính lương thức ấy mà Kiều ngộ ra được vô thường vô ngã . . Nhìn sâu vào khổ đau ta thấu hiểu được lẽ vô thường , hiểu được vô thường là chấp nhận vô ngã và vô ngã dẫn ta đến niết bàn !Niết bàn có nghĩa là dập tắt , tắt ngấm những khổ đau phiền muộn , đạt trạng thái an lạc diệt độ .
   Vào những năm 80 , nhiều người Việt Nam tìm đủ mọi cách vượt biển để tìm đến miền đất mà họ muốn đến . Họ đã phải chịu bao nhiêu nguy hiểm , gian truân lẫn máu và nước mắt  trong chuyến đi này . Nào là sóng to gió dữ nào là hải tặc hung hãn hiếp người cướp của ...nào là đói , khát , nào là thuyền bị chết máy giữa biển...Có gia đình năm  người sau chuyến đi chỉ còn một người sống sót . Người phụ nữ nầy đã  may mắn sống sót trong khi chồng chị  , hai con chị và đứa em của chị  đã không còn nữa . Đây là hoàn cảnh khổ đau tưởng chừng như không thể chịu đưng nổi ! Nhưng chị ấy đã vượt qua nhờ pháp âm , hải triều âm đã cảm ứng đạo giao. Khi đã chịu đựng tận cùng nỗi khổ chị đã ngộ được lẽ đời lẽ đạo . Chị dùng gần hầu hết đồng tiền kiếm được gởi về quê nhà cho gia đình và nhờ các em đi làm việc từ thiện .Chị muốn chia sẽ một phần với những mảnh đời khốn khó ;chị muốn nhờ bàn tay nối dài xoa dịu những nỗi lòng đau khổ . Đúng là    " đoạn trường ai có qua cầu mới hay ".


    Về tiến trình tâm , có bốn giai đoạn đạt trạng thái đoạn, hoặc ,chứng ,chân , chuyển mê thành ngộ . Đó là thấy , biết , sáng đạt .Riêng về cái biết có ba cách biết như đã nói ở trên . Đối với bậc thượng trí sinh nhi tri như Tổ Huệ Năng chỉ cần nghe một câu trong kinh Kim Cang là đã ngộ . Có người miệt mài kinh giáo mới được ngộ như ngài Thần Tú . Cũng có người do giáp mặt với những khổ đau cùng cực mà tự ngộ ra lẽ đời lẽ đạo . Ấy gọi là khổ nhi tri . Nhưng không phải hể khổ là biết . Muốn biết,  người chịu khổ phải có thái độ chấp nhận sự thật" một cách hoan hỷ", phải biết kham nhẫn để chuyển hóa hoàn cảnh . Nỗi khổ đau là bậc thang cho người trí dũng nhưng là vực thẳm cho kẻ yếu mềm bi lụy . Alfred de Musset, một nhà thơ Pháp , đã nói :" Không có gì làm cho ta trở nên kỳ vĩ cao đại bằng một nỗi đau đớn lớn nhất " ( Rien ne nous rend si grand qu'une grande douleur).


__________________________________________________________________________________________________________

.*Điều thứ nhất trong tám điều giác ngộ của bậc đại nhân : Cuộc đời là vô thường , cấu tạo các đại đều rỗng , ngũ ấm không có thực ngã . Tâm không tạp loạn . Thân không tham dục

Thứ Hai, 21 tháng 11, 2011

Phép lạ

         Lời qua tiếng lại mà chi 
     Cũng không cứu vãn được gì nữa đâu 
        Chi bằng hít thở cho sâu 
     Rỗng rang mỉm miệng mời nhau nụ cười

Thứ Ba, 15 tháng 11, 2011

Đường đi vào đạo

   Không ít người cho rằng đường đi vào đạo là đại tạng kinh điển , là các lớp học giáo lý , là đường đến chùa , đường lên núi Thướu , đường đến núi Bà , đường ra Tịnh Xứ , đường xuống biển Nam ,...Thật ra mọi con đường hàng ngày là con đường vào đạo đấy thôi .
  Ngài Huệ Trung Thượng Sĩ nói : " Hoa đào đâu phải cội bồ . Linh Vân sao lại tìm vô đạo tràng ? " . Hòa thượng Linh Vân là học trò ngài Quy Sơn bỏ hết sách vở kinh kệ đi chơi rong tình cờ bắt gặp hoa đào nở liền hốt nhiên đại ngộ.Ngài làm bài thi kệ sau đây :
    Tam thập niên lai tầm kiếm khách 
    Kỷ hồi lạc diệp hựu trừu chi 
   Tư tòng nhất kiến đào hoa hậu 
    Trực chỉ như kim cánh bất nghi
  Dịch :
   Ba chục năm rồi tìm kiếm khách 
   Mấy hồi lá rụng cành cây khô
   Một lần chợt thấy hoa đào ấy 
   Nghi vấn xưa nay thấy rụng rời
    Đúng là hoa đào không phải là cội bồ đề bởi vì đã là Linh Vân rồi thì không cần phải đến đạo tràng.
 Như vây con đường vào đạo , ngộ đạo không nhất thiết là con đường vào chùa , không nhất thiết là con đường đến các trường trung cấp ,cao đẳng ,  đại học Phật giáo , cũng không nhất thiết là những con đường hành hương lễ Phật . Bởi vì mọi con đường hàng ngày đều là con đường vào đạo . Hòa thương Linh Vân nhìn thấy hoa đào mà lòng bừng sáng diệu tâm của mình . Đó là phút giây bừng thức, phút giây đại ngộ . Trong nhà thiền không ít những bậc đại sư miệt mài giáo điển, tụng đọc kinh luận , đi thăm vấn hết thầy nầy đến thầy kia mà vẫn chưa ngộ . Thế rồi một ngày kia không tìm mà được , không đi mà đến như ngài Đức Sơn , ngài Hương Nghiêm.Ngài Đức Sơn đứng hầu thầy tới khuya không chịu về . Thầy bảo về đi . Đức Sơn chạy ra ngoài rồi chạy vào nói trời tối quá . Thầy bảo  đốt đuốc lên mà đi  . Thế là Đức Sơn bừng ngộ . Còn ngài Hương Nghiêm rời bỏ kinh sách , lấy chổi quét sân chùa , bỗng nghe tiếng sỏi va vào bụi trúc hốt nhiên đại ngộ . Như vậy  những việc làm hàng ngày như xem hoa nở như quét sân chùa đều là con đường vào đạọ.
   Tuệ Trung Thượng Sĩ viết trong ngữ lục :
Đi cũng thiền ngồi cũng thiền
Trong lò lửa đỏ một cành sen
Ý khí mất đi thêm ý khí
Được an tiện đấy cứ tiện an
   Đó cũng là tư tưởng tùy xứ tác chủ . Có nghĩa là ở đâu ta cũng làm chủ , ở đâu ta cũng có chủ quyền của mình , ở đâu ta cũng sống thành thật với chính mình . Sống trong chánh niệm ta chế tác ra được rất nhiều năng lượng . Với năng lượng nầy giúp ta khai mở , triển nở , hiển lộ những điều mới mẽ trong cuộc sống . Mọi con đường hàng ngày là con đường vào đạo với điều kiện là người đi trên con đường ấy phải chánh niệm . Niệm sinh ra Định ,Định sinh ra Tuệ . Trước hết là niệm . Khi ta chánh niệm ta biết ta là ai , ta biết cái gì đang xảy ra . Trong niệm có định ,trong niệm cũng có huệ . Ngài Huệ năng nói : " Định và Tuệ đừng tưởng đó là hai cái .Định tức là Tuệ " .Đi cũng thiền ,nằm cũng thiền . Nói nín động tĩnh thể an nhiên .Khi đã chánh niệm thì mọi con đường hàng ngày là con đường vào đạo . Ở trong phòng mà chánh niệm là Phật , ngồi giữa đạo tràng mà tà niệm vẫn là ma . Chánh niệm giúp ta làm mới từng giây phút hiện tại .Trúc Lâm đạo sĩ núi Yên Tử nói : " Nhất hồi niêm xuất nhất hồi tân  ( Mỗi lần bàn đến lại thành mới tinh ).Thiền sư Nhất Hạnh nói : "Khi ta làm mới lại con người của ta trong từng giây phút hiện tại tức thì ta cảm thấy mát mẽ, dễ chịu đối với mọi người ; và khi ta đổi mới ta rồi thì nhìn mọi vật đều mới "
   Đem tâm về với thân bằng hơi thở nhiếp niệm . Hơi thở có ý thức tạo ra sự hòa điệu giữa thân với tâm : Thân tâm nhất như .
     Chánh niệm chánh tâm giúp ta làm chủ được mọi cảnh ngộ , mọi tình huống .Chí sĩ Phan Bội châu , một nhà thơ nho học , cũng phải công nhận sức mạnh vô địch của chánh tâm : " Muốn làm thánh triết cốt ở chánh tâm . Đánh được giặc tâm  mới là danh tướng "

      Ngày nay người ta tu hành theo phong trào hành hương lễ Phật cầu phước . Họ rũ nhau đi cầu lộc ở núi Bà , cầu phước ở núi Yên tử ...mà quên những bước đi chánh niệm . Đi trong chánh niệm là con đường hàng ngày đưa ta vào đạo . Đi trong chánh niệm là nẻo về của ý . Đi trong chánh niệm là dập tắt những nóng bức sân hận , những hờn giận ganh đua để đến tịch diệt niết bàn.
  Bài thi kệ Thiền hành  sau đây giúp ta thấy được lợi lạc của việc đi trong chánh niệm:
   Ý về muôn vạn nẻo
   Thiền lộ tâm an nhiên 
   Từng bước gió mát dậy
   Từng bước nở hoa sen

Thứ Hai, 14 tháng 11, 2011

TẬP ĐI

     Mỗi bước chân đặt trên mặt đất
     Như ấn tín của quốc vương in trên chiếu chỉ
Từng bước
Từng bước đi
Nhiếp niệm
Khoan thai
Vững chãi
Trên trái đất nầy cùng hơi thở vào ra

Thở vào
      Ta đếm
       Một hai
Thở ra
      Ta bước một hai hài hòa

Những bước chân nối nhau cùng nhịp thở
Như sợi chỉ xâu những viên ngọc trai thành chuổi hạt
Thân, Tâm ta chẳng rơi vãi, bung thùa ...
Là ta có mặt
   Ở đây
   Bây giờ
    An trú

Còn Em ở đâu ?
Hãy cùng ta có mặt !
Trên trái đất nầy trong mỗi phút giây

Bây giờ hay chẳng bao giờ
Cùng đi và không đến